VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ NGỌC BÍCH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC TRẺ
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC
QUẬN THANH XUÂN, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI, năm 2018
HÀ NỘI - năm
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ NGỌC BÍCH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC TRẺ
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC
QUẬN THANH XUÂN, HÀ NỘI
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số:
8.14.01.14
dìu dắt để tôi hoàn thành luận văn này.
Mặc dù có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, tuy nhiên trong luận văn
không tránh khỏi những thiếu sót, tôi kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của
các quý thầy cô và đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
TRẦN THỊ NGỌC BÍCH
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC
TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON........................................................................10
1.1 Một số khái niệm cơ bản .......................................................................................10
1.2 Chăm sóc trẻ ở các trường mầm non ...................................................................13
1.3 Quản lý hoạt động chăm sóc trẻ ở các trường mầm non ...................................21
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC TRẺ Ở
CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC QUẬN THANH XUÂN, HÀ NỘI.....32
2.1 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu thực trạng ................................................32
2.2 Thực trạng chăm sóc trẻ tại các trường mầm non tư thục..................................36
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ tại các trường mầm non tư thục
quận Thanh Xuân, Hà Nội ..........................................................................................49
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc trẻ tại các
trường mầm non tư thục quận Thanh Xuân, Hà Nội ................................................57
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC TRẺ TẠI
CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC .................................................................61
3.1 Các nguyên tắc đề xuất..........................................................................................61
Trang
37
38
39
4
Bảng 2.4
Bảng thực đơn trường mầm non Những ngón tay bay
42
5
Bảng 2.5
Bảng thực đơn trường mầm non Tổ Chim
43
6
Bảng 2.6
Tổng hợp kết quả đánh giá về thực trạng phương pháp
chăm sóc trẻ
Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá các hoạt động
chăm sóc trẻ
46
48
50
52
53
56
12
Bảng 3.1
Đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất
73
13
Bảng 3.2
Đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất
74
LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
09/02/2017 và còn rất nhiều các vụ bạo hành trẻ mầm non xảy ra ở khắp nơi trên cả
nước như: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai…mà càng kể ra chúng ta
càng thấy xót xa và đau lòng, những sự việc này đã làm dậy sóng dư luận và làm
tổn hại nghiêm trọng tới lòng tin của phụ huynh học sinh và toàn xã hội, ảnh hưởng
xấu tới sự phát triển sức khỏe và tâm lý của trẻ. Một trong những nguyên nhân
chính ảnh hưởng đến hoạt động này là phương pháp, cách thức quản lý chế độ chăm
sóc trẻ trong các trường mầm non chưa thực sự hiệu quả.
Quận Thanh Xuân là một quận trong nội thành của thành phố Hà Nội, dân số
đông, phức tạp, số lượng trường mầm non nhiều, đa dạng về loại hình trường, lớp,
nhóm trẻ dẫn đến rất khó quản lý. Ngoài các trường mầm non thuộc hệ thống công
lập thì các trường mầm non tư thục cũng ngày được mở rộng với sĩ số trẻ/lớp đông
nên công tác quản lý hoạt động chăm sóc trẻ là vấn đề hết sức khó khăn.
Xuất phát từ những lý do trên với mục đích tìm ra các biện pháp quản lý tốt
nhất, hữu hiệu nhất, giúp cho đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non tư thục
trên địa bàn thực hiện quản lý có hiệu quả hoạt động này, góp phần nâng cao chất
lượng chăm sóc trẻ trên địa bàn cũng như trong ngành giáo dục mầm non, tác giả đã
mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động chăm sóc trẻ ở các trường mầm
non tư thục quận Thanh Xuân, Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
2.1 Trên thế giới
Trong lĩnh vực Quản lý giáo dục nhiều tác giả đã nghiên cứu về cán bộ quản
lý các cấp học, bậc học. Các công trình nghiên cứu, tài liệu về quản lý giáo dục nói
chung và quản lý giáo dục mầm non nói riêng được công bố. Đã có nhiều tác giả
trong và ngoài nước đi sâu vào nghiên cứu quản lý giáo dục nói chung và đã đưa ra
các khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục, các chức năng quản lý giáo dục, quản lý
nhà trường, nội dung và phương pháp quản lý nhà trường.
Ngay những năm đầu thế kỷ XX, vấn đề chăm sóc trẻ mầm non đã được sự
quan tâm, nghiên cứu của các nhà giáo dục. Năm 1907, Tiến sĩ Maria Montessori đã
thành lập trường mẫu giáo đầu tiên tại Roma. Ngay từ những ngày đầu thành lập
(trước đây còn gọi là trường Sư phạm nữ Nhật Bản cấp cao) đã mở trường mẫu giáo
đầu tiên ở Nhật đánh dấu cho sự khởi đầu ngành giáo dục mầm non ở nước này.
3
Người đặt nền tảng và được coi là “Ông tổ” của ngành giáo dục mầm non Nhật Bản
là nhà giáo dục nổi tiếng Kurahashi Sôdô. Ông cho rằng: “Hãy nuôi trẻ bằng tình
cảm của mình”, “Dạy tâm trước khi dạy tính”, đặc biệt chú ý đến trò chơi giữ vai trò
trung tâm trong giáo dục mầm non. Có thể thấy, giáo dục mầm non tại Nhật với
nguyên tắc là “Lấy trẻ làm trung tâm” ở Nhật Bản được kết hợp giữa: tưởng đáp
ứng và thỏa mãn nhu cầu bản năng của trẻ. Trong các hoạt động chăm sóc, giáo dục
trẻ thì đứa trẻ luôn được coi là trung tâm, trẻ chính là chủ thể tích cực trong các hoạt
động của chúng ở trường mầm non [17].
Nghiên cứu về giáo dục mầm non tại Thái Lan: Thái Lan không quy định nhà
trẻ, mẫu giáo nằm trong hệ thống phổ cập giáo dục, do đó nhà nước chỉ tổ chức một
số cơ sở giáo dục mầm non, phần còn lại các tổ chức, tư nhân tự tổ chức và quản lý.
Đối với trường mẫu giáo chính phủ tài trợ toàn bộ nguồn kinh phí xây dựng, trang
thiết bị, trả lương giáo viên và các chi phí khác. Đối với các trung tâm giáo dục, cha
mẹ học sinh tự đóng góp các khoản chi phí khác. Ở các vùng đặc biệt khó khăn các
dịch vụ giáo dục mầm non thường được các tổ chức phi chính phủ tài trợ gần như
hoàn toàn. Các trường mầm non tư thục trong những điều kiện nhất định đều được
nhà nước hỗ trợ định kỳ tính trên đầu trẻ. Với chính sách giáo dục về giáo dục, tài
trợ toàn bộ nguồn kinh phí xây dựng, trang thiết bị, trả lương giáo viên và các chi
phí khác cho xây dựng trường mầm non trong đó cả mầm non công lập, dân lập.
Đặc biệt, Thái Lan còn hỗ trợ định kỳ cho trẻ trường mầm non tư thục, đây là tiền
đề rất quan trọng của chính sách xã hội hóa giáo dục nói chung và xã hội hóa giáo
dục mầm non [17].
Các công trình trên đã cho chúng ta thấy rõ hơn về tầm quan trọng của công
tác chăm sóc trẻ mầm non.
quản lý giáo dục và quản lý trường mầm non cùng một số vấn đề tâm lý giáo dục
học và chuyên đề chuyên biệt cho giáo dục mầm non [25, tr.34]. Đây cũng chính là
nội dung mà tác giả cho rằng cần phải bồi dưỡng cho cán bộ quản lý như: Các văn
bản pháp quy, các kĩ năng quản lý cụ thể trong từng mảng nội dung công việc; các
vấn đề về dinh dưỡng cho trẻ em, đánh giá tổ chức hoạt động vui chơi, công tác
quản lý, chỉ đạo chất lượng chăm sóc và bảo vệ trẻ em tại các cơ sở giáo dục mầm
non. Tài liệu bồi dưỡng cho Hiệu trưởng trường mầm non do Bộ Giáo dục và Cục
5
nhà giáo giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục do tác giả Phan Thị Lan Anh và Trần
Ngọc Giao phối hợp đã triển khai và hướng dẫn nội dung bồi dưỡng của từng nội
dung Chuẩn Hiệu trưởng trường mầm non [9].
Các vấn đề về tâm sinh lý trẻ em đã được nhiều nhà khoa học trong nước
nghiên cứu, đề cập tới ở các góc độ, tiếp cận khác nhau như: Tác giả Ngô Công
Hoàn, Đại học quốc gia Hà Nội với Giao tiếp và ứng xử sư phạm; Tác giả Hoàng
Thị Phương với Vấn đề ý thức trong việc hình thành hành vi giao tiếp có văn hóa
cho trẻ 5 tuổi (Tạp chí nghiên cứu giáo dục, Hà Nội, số 5/2000) [28].
Đặc biệt, năm 2009, tác giả Tào Thị Hồng Vân đã bảo vệ thành công Đề tài
Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Vệ sinh xã hội học và tổ chức y tế “Chăm sóc sức
khỏe trẻ mẫu giáo trong trường mầm non – đề xuất giải pháp can thiệp” [35]. Luận
án đã tiếp cận một cách tổng thể và toàn diện về mục tiêu chăm sóc sức khỏe, chỉ ra
thực trạng chăm sóc sức khỏe cho trẻ mẫu giáo trong trường mầm non nông thôn
hiện nay còn nhiều bất cập.
Nghiên cứu về hoạt động chăm sóc trẻ mầm non và công tác quản lý hoạt
động chăm sóc trẻ trong trường mầm non đã được một số tác giả, nhà giáo dục, nhà
quản lý giáo dục nghiên cứu, tìm hiểu, đề cập đến ở các khía cạnh khác nhau như:
Tác giả Hoàng Thị Phương trong công trình nghiên cứu “Một số biện pháp giáo
dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5-6 tuổi”; tác giả Nguyễn Thị Thuận có
viên, nhân viên trong các trường mầm non tư thục quận Thanh Xuân.
3.2.3 Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ ở
các trường mầm non tư thục quận Thanh Xuân.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động chăm sóc trẻ của Hiệu trưởng các trường mầm non tư thục
quận Thanh Xuân, Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu quản lý hoạt động chăm sóc trẻ ở 2 trường mầm
non tư thục: Trường mầm non Tổ chim và Trường mầm non Những ngón tay bay
tại địa bàn quận Thanh Xuân, Hà Nội.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện luận văn, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp sau:
7
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu: Phân tích và khái quát chủ trương
của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hoạt động chăm sóc trẻ lứa tuổi mầm non. Nghiên
cứu và phân tích những khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài nghiên cứu: biện
pháp, biện pháp quản lý, hoạt động chăm sóc trẻ mầm non, nghiên cứu đặc điểm
tâm sinh lí và nhu cầu chăm sóc của trẻ mầm non. Tổng quan những công trình
nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp quan sát
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học
6. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC TRẺ Ở
CÁC TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm Quản lý
Quản lý (Management) là một loại hình lao động của con người trong cộng
đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra. Trong xã hội loài
người, quản lý là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội. Quản lý là nhân
tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội. Loài người đã
trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải
qua nhiều hình thức quản lý khác nhau. Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại
đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã
hội. Nó là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử. Quản lý chứa
đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi, phát triển. Vì
vậy, khi nhận thức về quản lý, khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận khác nhau
như: Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý)
nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [29, tr.34].
Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Quản lý là tác động có định
hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý
(người bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt
được mục đích của tổ chức [11].
Theo tác giả Trần Kiểm: Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích
đến tập thể người – thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt
tới mục đích dự kiến [20].
Tóm lại, tuy có nhiều khái niệm, nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý, mỗi
quan điểm nhấn mạnh mặt này hay mặt khác nhưng đều có điểm chung thống nhất
xác định quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác
định.Theo góc nhìn của tác giả thì: Quản lý là một quá trình tác động có mục đích,
môn cao, đây là công cụ quan trọng trong việc triển khai các hoạt động giáo dục,
đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng giáo dục.
11
1.1.3 Quản lý giáo dục mầm non
Quản lý giáo dục mầm non nằm trong hệ thống quản lý giáo dục nhưng khách
thể là các cơ sở giáo dục mầm non, nơi thực hiện nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ từ
3 tháng đến 72 tháng tuổi. Cũng như các bậc học khác trong hệ thống giáo dục quốc
dân, giáo dục mầm non cũng có mạng lưới quản lý chuyên môn của bậc học từ trên
xuống: từ cấp Bộ xuống Sở, Phòng và tới trường, lớp mầm non.
Quản lý giáo dục mầm non là quá trình điều hành phối hợp để tạo ra những
điều kiện tối ưu cho các cơ sở giáo dục mầm non thực hiện mục tiêu giáo dục đào
tạo. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non là khâu đầu tiên đặt nền
móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách. Mục tiêu của giáo dục mầm non là
định hướng và điều khiển toàn bộ công tác quản lý giáo dục mầm non. Do vậy,
công tác quản lý giáo dục mầm non có những đặc điểm sau: Quản lý giáo dục mầm
non là một bộ phận của quản lý giáo dục, quản lý xã hội cũng như công tác quản lý
giáo dục nói chung, việc quản lý con người là yếu tố trung tâm của quản lý giáo dục
mầm non. Trình độ và năng lực của người cán bộ quản lý giáo dục mầm non thể
hiện trước hết ở khả năng làm việc với những con người, biết đánh giá, bồi dưỡng
và phát huy những khả năng của mỗi người, động viên mọi người làm việc tự giác,
tích cực với tinh thần trách nhiệm cao. Trong trường mầm non, đội ngũ giáo viên là
đối tượng quản lý quan trọng nhất, đồng thời là chủ thể quản lý giáo dục. Do đó,
giáo viên phải thực hiện vai trò giáo dục của mình, thực sự làm chủ nhà trường.
Như vậy, đội ngũ giáo viên phải giữ vai trò chủ thể tham gia vào quản lý nhà trường
[16].
Mục tiêu cơ bản nhất của giáo dục mầm non là xây dựng nền móng ban đầu
của nhân cách, giáo dục trẻ em là nhiệm vụ hàng đầu. Nội dung, phương pháp, kế
trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; Huy động
trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; Tổ chức giáo dục hòa nhập cho trẻ em có hoàn
cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật; Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên để thực hiện
nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em; Huy động, quản lý, sử dụng các
nguồn lực theo quy định của pháp luật; Xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn
hóa, hiện đại hóa hoặc theo yêu cầu tối thiểu đối với vùng đặc biệt khó khăn; Phối
hợp với gia đình trẻ em, tổ chức cá nhân để thực hiện hoạt động chăm sóc, nuôi
dưỡng và giáo dục trẻ em; Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và trẻ
13
em tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng; Thực hiện kiểm định chất lượng
chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em theo quy định; Thực hiện các nhiệm vụ,
quyền hạn khác theo quy định của pháp luật [7, tr.1].
1.2.1.3 Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục mầm non
a, Về yêu cầu nội dung, phương pháp giáo dục mầm non:
Nội dung giáo dục mầm non phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh
lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ phát triển cơ
thể cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn; biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông, bà,
cha mẹ, cô giáo và người trên; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, hồn
nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học.
Phương pháp giáo dục mầm non chủ yếu thông qua việc tổ chức hoạt động vui
chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện, chú trọng việc nêu gương, động viên, khích
lệ [27].
b, Về yêu cầu chương trình giáo dục mầm non:
Chương trình giáo dục mầm non thể hiện mục tiêu giáo dục mầm non; cụ thể
hóa các yêu cầu về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở từng độ tuổi; quy định
việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, ngôn ngữ giao tiếp, hướng dẫn cách thức đánh giá sự phát
cho người cán bộ quản lý mà đặc biệt là Hiệu trưởng, người đứng đầu nhà trường.
Sự thay đổi mạnh mẽ về cơ chế quản lý trong trường học cho thấy mâu thuẫn giữa
năng lực của người quản lý hiện nay và yêu cầu của đổi mới cơ chế quản lý đang
diễn ra cũng như trong công tác quản lý hoạt động chăm sóc trẻ ở các trường mầm
non.
1.2.2 Trường mầm non tư thục trong hệ thống các trường mầm non
a, Khái niệm về các loại hình cơ sở giáo dục mầm non tư thục
Theo Điều lệ trường Mầm non được ban hành theo Quyết định số
14/2008/QĐ-Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngày 07/4/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
quy định các loại trường mầm non, trường mẫu giáo, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu
giáo độc lập (Điều lệ 4) [7].
Trường mầm non, trường mẫu giáo (gọi chung là nhà trường), nhà trẻ, lớp
mẫu giáo độc lập được tổ chức theo các loại hình như: công lập, dân lập và tư thục.
15
Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo công lập do cơ quan Nhà nước
thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chi
thường xuyên.
Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo dân lập do cộng đồng dân cư ở
cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí hoạt động và
được chính quyền địa phương hỗ trợ.
Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo tư thục do tổ chức xã hội, tổ chức
xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở
vật chất, đảm bảo kinh phí hoạt động bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước
[7].
b, Một số đặc điểm của loại hình mầm non tư thục
Trường mầm non tư thục là trường do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề
nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập khi được cơ quan nhà nước có thẩm
viên và nhân viên...
Trong đó, Điều 24 Điều lệ trường Mầm non quy định: Việc chăm sóc, giáo
dục trẻ được tiến hành thông qua các hoạt động theo quy định của chương trình giáo
dục mầm non. Việc thực hiện hoạt động chăm sóc trẻ ở các trường mầm non bao
gồm: Chăm sóc, rèn luyện thể chất; Chăm sóc vệ sinh, dinh dưỡng; Chăm sóc sức
khỏe tâm lý; Chăm sóc sức khỏe học đường, phòng tránh bệnh tật.
Các nội dung có liên quan đến chăm sóc trẻ ở các trường mầm non:
Công tác xây dựng kế hoạch và tham mưu: Xây dựng kế hoạch chăm sóc trẻ
theo năm học, theo chủ đề, theo tuần, theo ngày; tham mưu với Ban giám hiệu về
đầu tư cơ sở vật chất, bồi dưỡng chuyên môn, tổ chức các chuyên đề; tham mưu với
bộ phận dinh dưỡng về chế độ ăn, thay đổi thực đơn cho trẻ, chế độ ăn cho trẻ mới
ốm dậy, trẻ thừa cân béo phì, trẻ suy dinh dưỡng. Tham mưu với cán bộ y tế về
công tác chăm sóc sức khỏe, phòng tránh bệnh tật cho trẻ. Công tác phối hợp với
gia đình trẻ: Tuyên truyền với phụ huynh về công tác chăm sóc trẻ, trao đổi, tư vấn
với phụ huynh để phối hợp thực hiện chăm sóc trẻ. Công tác kiểm tra, đánh giá: Tự
đánh giá về phân công công tác tổ chức thực hiện chăm sóc trẻ của giáo viên: kiểm
tra, đánh giá kết quả trên trẻ [7].
Tóm lại, hoạt động chăm sóc trẻ ở trường mầm non là tất cả những hoạt động
của giáo viên mầm non và Ban giám hiệu thực hiện trong một quá trình tại trường
17
mầm non nhằm giúp trẻ phát triển có mục đích về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ,
thẩm mỹ và tình cảm, kỹ năng xã hội. Trong giới hạn của đề tài, tác giả tiếp cận
hoạt động chăm sóc trẻ ở các trường mầm non trên bốn nội dung chính là: Đặc điểm
hoạt động chăm sóc trẻ trong trường mầm non; Nội dung; Phương pháp; Hình thức
tổ chức; cụ thể là:
1.2.3.2 Đặc điểm hoạt động chăm sóc trẻ trong trường mầm non
Việc chăm sóc trẻ được tiến hành thông qua các hoạt động theo quy định của
hiểu nhu cầu ngủ của trẻ theo từng độ tuổi và thực hành tổ chức giấc ngủ sao cho trẻ
đảm bảo nhu cầu đủ giấc, giấc ngủ sâu, an toàn khi ngủ. Nhu cầu ngủ của trẻ phụ
thuộc vào lứa tuổi, trạng thái sức khỏe và đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh của
trẻ.
Chăm sóc vệ sinh: Chăm sóc vệ sinh là một yêu cầu không thể thiếu trong hoạt
động chăm sóc trẻ em mầm non. Rèn các thói quen vệ sinh cá nhân như: đánh răng,
rửa mặt, rửa tay. Giáo viên tiến hành thường xuyên và đều đặn, thuần thục. Tạo thói
quen cho trẻ khi còn nhỏ để tự tin hoà nhập cuộc sống cho những giai đoạn sau. Tổ
chức rèn luyện những thói quen cho trẻ: Thói quen rửa mặt; Thói quen rửa tay: khi
tay bẩn, trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi chơi; Thói quen đánh răng: sau các
bữa ăn, trước khi đi ngủ và ngủ dậy; Thói quen chải tóc, gội đầu: khi ngủ dậy, trước
khi đi chơi, ra đường.
Chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an toàn: Chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an
toàn cần chú ý đến vệ sinh ăn uống. Vệ sinh ăn uống bao gồm: ăn uống đầy đủ và
hợp lý: Ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng theo nhu cầu của trẻ tuỳ theo lứa tuổi
và cân đối theo tỷ lệ các chất. Ăn uống hợp lý, điều độ: ăn nhiều bữa và đầy đủ các
chất trong từng bữa, tránh tình quá no hoặc quá đói. Ăn sạch: đảm bảo thực phẩm
sạch sẽ và chất lượng ngay từ khâu mua và sơ chế thức ăn. Chế biến đảm bảo vệ
sinh yêu cầu dinh dưỡng và phù hợp với chế độ ăn của trẻ theo từng độ tuổi. Dụng
cụ chế biến thức ăn phải sạch sẽ: Cho trẻ ăn đúng giờ, thức ăn nấu chín, không để
quá 2 tiếng đồng hồ, nguội phải đun sôi. Thức ăn phải có lồng bàn đậy kỹ không
cho ruồi, bọ vào. Nước uống phải đun sôi rồi để nguội mới cho trẻ uống. Bình, cốc
đựng nước uống phải rửa sạch sẽ mỗi ngày. Phải rèn cho trẻ rửa tay trước khi ăn,
sau khi đi vệ sinh và tay bẩn. Ăn xong cho trẻ xúc miệng, đánh răng và uống nước.
Cho trẻ dùng một số vắc-xin kháng khuẩn. Để đảm bảo công tác chăm sóc cho trẻ,
19