BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN ĐỖ Ý NHI
XEM XÉT MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ DẦU VÀ TỶ GIÁ
HỐI ĐOÁI TẠI VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP
WAVELET
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN ĐỖ Ý NHI
XEM XÉT MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ DẦU VÀ TỶ GIÁ
HỐI ĐOÁI TẠI VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP
WAVELET
Chuyên ngành: Tài chính-Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
1.1.1.
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa .......................................................................5
1.1.2.
Tỷ giá hối đoái thực...................................................................................5
1.2.
Tổng quan về mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái .........................6
1.2.1.
Tác động của giá dầu đến tỷ giá hối đoái ................................................6
1.2.2.
Tác động của tỷ giá hối đoái đến giá dầu ................................................8
1.3.
Các tài liệu nghiên cứu có liên quan..............................................................9
1.3.1.
Các nghiên cứu tại các nước phát triển ...................................................9
1.3.2.
Tỷ giá hối đoái ...............................................................................................35
3.2.1.
Công thức tính REER .............................................................................35
3.2.2.
Quá trình tính toán REER ......................................................................37
3.2.2.1. Xác định dữ liệu đầu vào để tính toán REER .......................................37
3.2.2.2. Lựa chọn rổ tiền tệ ................................................................................37
3.2.2.3. Thực hiện tính toán REER của Việt Nam với rổ tiền tệ đã lựa chọn ....39
CHƯƠNG 4 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.............................................................43
4.1.
Thống kê mô tả ..............................................................................................43
4.2.
Kiểm định tính dừng .....................................................................................45
4.3.
Kiểm định mối quan hệ đồng liên kết .........................................................48
4.4.
Phân tích phép biến đổi wavelet ..................................................................51
NBER
Tỷ giá danh nghĩa song phương
NEER
Tỷ giá danh nghĩa hiệu lực đa phương
RBER
Tỷ giá thực song phương
REER
Tỷ giá thực hiệu lực đa phương
XWT
Phép biến đổi wavelet chéo
WTC
Wavelet kết hợp
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1
Giá dầu thế giới giai đoạn từ tháng 01/1995 đến tháng 12/2016………34
Hình 4.5
Điểm gãy cấu trúc của biến ΔlnOP……………………………………..48
Hình 4.6
Quang phổ năng lượng wavelet liên tục của chuỗi dữ liệu giá dầu…….521
Hình 4.7
Quang phổ năng lượng wavelet liên tục của chuỗi dữ liệu tỷ giá thực hiệu
lực đa phương…………………………………………………………..53
Hình 4.8
Quang phổ của phép biến đổi wavelet chéo của biến giá dầu và tỷ giá
thực hiệu lực đa phương………………………………………………..55
Hình 4.9
Quang phổ của wavelet kết hợp của biến giá dầu và tỷ giá thực hiệu lực
đa phương……………..………………………………………………..57
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1
Tổng hợp và so sánh các nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ
giá hối đoái ………………………………………………………….18
tế nhập khẩu ròng hoặc xuất khẩu ròng.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái là đề tài khá quen thuộc
trong những nghiên cứu về kinh tế. Bằng việc áp dụng những phương pháp định
lượng phổ biến (VAR, VECM,..) nghiên cứu trên phạm vi nhiều quốc gia khác nhau,
các nhà nghiên cứu có rất nhiều tranh luận về mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối
đoái.
Gần đây, Shahbaz, Tiwari và Tahir (2014) đã thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ
giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái tại Pakistan bằng phương pháp wavelet. Nghiên cứu
này cung cấp bằng chứng cho thấy tỷ giá hối đoái gây ra tác động đến giá dầu trong
khoảng thời gian được nghiên cứu.
Đặc biệt, phương pháp wavelet - một phương pháp nghiên cứu được ứng dụng rộng
2
rãi trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và đang được sử dụng phổ biến hơn để nghiên
cứu về mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô. Các nghiên cứu được phát triển
theo phương pháp này cung cấp thêm nhiều bằng chứng đáng tin cậy và thuyết phục
trên chuỗi dữ liệu thời gian dài. Điều này giúp cho các nhà hoạch định chính sách có
nhận định rõ ràng hơn về sự biến động giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và mối quan hệ
giữa chúng, từ đó đưa ra chính sách kinh tế phù hợp, hiệu quả nhằm hạn chế các tác
động tiêu cực của những cú sốc từ bên ngoài. Tại Việt Nam, đến thời điểm hiện tại,
hầu như vẫn chưa có nghiên cứu nào sử dụng cách tiếp cận bằng phương pháp wavelet
để điều tra về mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái. Chính vì vậy, tác giả đã
thực hiện nghiên cứu đề tài “Xem xét mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái
tại Việt Nam bằng phương pháp wavelet”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của bài luận văn:
-
-
Tỷ giá hối đoái của đồng VND được đại diện bởi tỷ giá thực hiệu lực đa phương
(REER).
5. Phạm vi nghiên cứu
-
Số liệu giá dầu thế giới được thu thập trong giai đoạn từ tháng 01 năm 1995 đến
tháng 12 năm 2016.
-
Tỷ giá thực hiệu lực đa phương (REER) của Việt Nam: Rổ tiền tệ để tính REER
gồm các đồng tiền của 27 đối tác thương mại chủ yếu của Việt Nam trong thời
gian qua, là đồng AUD (Úc), USD (Hoa Kỳ), CNY (Trung Quốc), JPY (Nhật
Bản), KRW (Hàn Quốc), GBP (Anh), SGD (Singapore), HKD (Hong Kong),
MYR (Malaysia), IDR (Indonesia), CAD (Canada), THB (Thái Lan), PHP
(Philippines), KHR (Cam-pu-chia), INR (Ấn Độ), RUB (Nga), BRL (Brazil),
TRY (Thổ Nhĩ Kỳ), CHF (Thụy Sỹ), SEK (Thụy Điển), LAK (Lào), DEM (Đức),
FRF (Pháp), NLG (Hà Lan), ITL (Ý), ATS (Áo), ESP (Tây Ban Nha).
6. Phương pháp nghiên cứu
Để kiểm tra mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá thực hiệu lực đa phương tại Việt Nam
trong gian đoạn từ tháng 01 năm 1995 đến tháng 12 năm 2016, tác giả sử dụng phương
pháp wavelet với các công cụ ước lượng, bao gồm:
-
Phép biến đổi wavelet liên tục (CWT);
-
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
8. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Bài luận văn sẽ làm sáng tỏ mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái tại Việt Nam
trong giai đoạn từ tháng 01 năm 1995 đến tháng 12 năm 2016.
Những kết quả này sẽ góp phần giúp cho các nhà hoạch định chính sách có nhận định
rõ ràng hơn về sự biến động của giá dầu và tỷ giá hối đoái cũng như mối quan hệ tác
động qua lại giữa chúng, từ đó đưa ra chính sách kinh tế phù hợp, hiệu quả nhằm hạn
chế các tác động tiêu cực của những cú sốc từ bên ngoài, ổn định tỷ giá hối đoái và
giá cả trong nước.
9. Hướng phát triển của đề tài
Đề tài này có thể được mở rộng bằng nghiên cứu theo phương pháp wavelet với mối
quan hệ giữa ba hoặc nhiều biến số. Ngoài hai biến giá dầu và tỷ giá hối đoái, có thể
mở rộng nghiên cứu mối quan hệ với biến bổ sung thứ ba như lãi suất hoặc tỷ suất
sinh lợi của thị trường chứng khoán. Theo Basher, Haug và Sadorsky (2012), những
biến số này có mối tương quan cao với nhau.
5
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN
1.1. Tiếp cận khái niệm tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao
đổi cho một đồng tiền khác.
Căn cứ vào tính chất, tỷ giá hối đoái có thể được phân loại thành tỷ giá hối đoái danh
nghĩa và tỷ giá hối đoái thực:
1.1.1. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
6
đo lường sức cạnh tranh trong thương mại quốc tế của một quốc gia so với một
quốc gia khác.
Tương tự như tỷ giá hối đoái danh nghĩa, tỷ giá hối đoái thực bao gồm tỷ giá thực
song phương (RBER) và tỷ giá thực hiệu lực đa phương (REER):
-
Tỷ giá thực song phương (RBER) là tỷ giá thực giữa hai đồng tiền. Tỷ giá thực
song phương cho biết được sự lên giá hay xuống giá của đồng nội tệ so với một
đồng ngoại tệ cụ thể tại một thời điểm nhất định.
-
Tỷ giá thực hiệu lực đa phương (REER) là mức giá trị trung bình của tập hợp
tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền một quốc gia với rổ tiền tệ gồm các đồng tiền của
các quốc gia khác có quan hệ thương mại theo tỷ trọng mậu dịch tương ứng, và
đã được điều chỉnh ảnh hưởng của lạm phát. Tỷ giá thực hiệu lực đa phương được
sử dụng để phản ánh mức độ cạnh tranh về giá cả của quốc gia và là cơ sở đánh
giá đồng nội tệ của một quốc gia bị định giá cao hay thấp so với đồng tiền của các
quốc gia khác có quan hệ thương mại với mình.
1.2. Tổng quan về mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái
1.2.1. Tác động của giá dầu đến tỷ giá hối đoái
Dầu là nguồn năng lượng quan trọng cho nền kinh tế toàn cầu và quá trình công
nghiệp hóa. Đối với một quốc gia xuất khẩu dầu, ngành công nghiệp khai thác dầu là
xương sống của nền kinh tế, đóng vai trò là nguồn thu nhập chính cho nền kinh tế của
quốc gia đó. Đối với nước nhập khẩu dầu, một sự biến động giá dầu có ảnh hưởng
thông qua mối quan hệ của nó với thu nhập sau thuế. Sự gia tăng thu nhập sau
thuế dẫn đến nhu cầu về các hàng hóa phi ngoại thương cũng gia tăng, tất nhiên
giá của hàng hóa phi ngoại thương cũng sẽ tăng và tỷ giá thực hiệu lực sẽ gia tăng.
Mặt khác, mức chi tiêu của người tiêu dùng cũng bị ảnh hưởng rất lớn từ sự gia
tăng giá dầu. Giá dầu tăng làm giảm nhu cầu về các hàng hóa phi ngoại thương,
khiến giá của hàng hóa phi ngoại thương giảm và làm tỷ giá thực hiệu lực đa
phương giảm.
Do đó, tùy thuộc vào mức độ tác động của cú sốc giá dầu, mà tỷ giá thực hiệu lực đa
phương có thể tăng hay giảm khi giá dầu tăng trong từng giai đoạn khác nhau.
8
1.2.2. Tác động của tỷ giá hối đoái đến giá dầu
Như chúng ta đã biết, đồng USD với chức năng đồng tiền quốc tế, là phương tiện
thanh toán được sử dụng trong hầu hết các giao dịch trên thị trường thế giới, và giá
trị của nó ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu. Sự biến động của đồng USD sẽ tác
động nhiều đến đồng tiền của các nước, đặc biệt là các đồng tiền neo tỷ giá theo đồng
USD.
Ngoài ra, vì giá dầu thô thế giới được niêm yết bằng đồng USD, sự biến động giá trị
của đồng USD sẽ tác động ít nhiều đến giá dầu thô thế giới. Trong nghiên cứu của
Coudert, Mignon và Penot (2007), các tác giả đã giải thích về ảnh hưởng của tỷ giá
hối đoái đồng USD đến giá dầu thông qua các tác động đến cầu và cung dầu. Các tác
động này phụ thuộc vào đồng tiền được sử dụng trong các giao dịch có liên quan đến
hoạt động mua bán dầu.
-
Tác động về phía cầu: Giao dịch mua bán dầu được thanh toán bằng đồng USD.
Tuy nhiên, nhu cầu về dầu phụ thuộc vào giá cả trong nước tại quốc gia tiêu thụ,
quen thuộc trong những nghiên cứu về kinh tế. Dưới đây, tác giả xin giới thiệu một
số nghiên cứu điển hình:
1.3.1. Các nghiên cứu tại các nước phát triển
Amano và Norden (1998) tiến hành điều tra mối quan giữa cú sốc giá dầu và tỷ giá
thực hiệu lực đa phương của đồng USD đối với trường hợp Hoa Kỳ trong giai đoạn
hậu Bretton Wood. Nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp thực nghiệm khác nhau
như: kiểm định nghiệm đơn vị ADF, PP và KPSS; kiểm định đồng liên kết JohansenJuselius; kiểm định nhân quả Granger; mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) để xem xét
mối quan hệ giữa hai biến. Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu là các quan sát
theo tháng của biến giá dầu thực và tỷ giá thực hiệu lực đa phương đồng USD (rổ tiền
tệ gồm 15 đối tác thương mại lớn của Hoa Kỳ) trong giai đoạn từ tháng 02 năm 1972
đến tháng 01 năm 1993. Kết quả tìm thấy mối liên kết bền vững tồn tại giữa cú sốc
giá dầu và tỷ giá thực hiệu lực đa phương của Hoa Kỳ trong giai đoạn nghiên cứu.
Phát hiện này nhấn mạnh rằng giá dầu là yếu tố chi phối trong sự vận động của tỷ giá
thực hiệu lực đa phương. Vì Hoa Kỳ là quốc gia nhập khẩu chủ yếu dầu thô và năng
lượng, kết quả của nghiên cứu hàm ý rằng giá năng lượng càng cao sẽ khiến đồng
10
USD tăng giá trong dài hạn.
Trong trường hợp của các quốc gia OECD, Chaudhuri và Daniel (1998) đã thảo luận
về mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái bằng cách áp dụng phương pháp đồng
liên kết Engle-Granger và mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM). Dữ liệu nghiên cứu gồm
dữ liệu theo tháng của biến giá dầu và tỷ giá hối đoái tại 16 quốc gia OECD (bao gồm:
Úc, Áo, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Đức, Ireland, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Na
Uy, Tây Ban Nha, Thụy Sỹ, Thụy Điển, Anh) trong giai đoạn từ tháng 01 năm 1973
đến tháng 02 năm 1996. Kết quả cho thấy rằng cả hai biến có mối quan hệ đồng liên
kết tại 13 trong số 16 quốc gia (không tìm thấy mối liên hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối
đoái tại 03 quốc gia: Canada, Ireland và Tây Ban Nha). Bài nghiên cứu kết luận rằng
sự biến động của tỷ giá hối đoái được gây ra do tác động của cú sốc giá dầu.
giá dầu sẽ làm giảm giá trị thực của đồng tiền tại các quốc gia nghiên cứu trong dài
hạn. Chen giải thích rằng khi giá dầu tăng sẽ làm tăng giá hàng hóa ngoại thương và
hàng hóa phi ngoại thương trong thị trường nội địa tại các nước và tại Hoa Kỳ. Nếu
một quốc gia phụ thuộc vào dầu nhập khẩu nhiều hơn Hoa Kỳ, sự tăng giá hàng hóa
ngoại thương và hàng hóa phi ngoại thương của quốc gia đó cũng sẽ lớn hơn sự tăng
giá hàng hóa tại Hoa Kỳ, dẫn đến sự giảm giá trị thực của đồng nội tệ so với đồng
USD. Ngoài ra, để tăng tính cạnh tranh khi cú sốc giá dầu ảnh hưởng xấu đến cán cân
thương mại, các nước sẽ tăng tỷ giá hối đoái danh nghĩa, và điều này sẽ làm cho đồng
nội tệ ngày càng mất giá hơn. Trong nghiên cứu này, Chen cũng tiến hành kiểm tra
khả năng dự báo tỷ giá hối đoái thực tương lai của giá dầu thực, tác giả kết luận rằng
giá dầu thực có thể dự báo đáng kể tỷ giá hối đoái thực.
Coudert, Mignon và Penot (2007) xem xét mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối
đoái trong trường hợp của Hoa Kỳ với dữ liệu hàng tháng trong giai đoạn từ tháng 01
năm 1974 đến tháng 11 năm 2004. Các tác giả áp dụng các phương pháp kiểm định
đồng liên kết Johansen - Juselius, kiểm định nhân quả Granger, mô hình hiệu chỉnh
sai số (ECM) để điều tra mối quan hệ giữa các biến. Kết quả tìm thấy sự tồn tại mối
quan hệ dài hạn giữa các biến. Kết quả của kiểm định nhân quả thể hiện hướng của
12
mối quan hệ nhân quả là từ giá dầu đến tỷ giá hối đoái đồng USD. Ngoài ra, kết quả
nghiên cứu còn chỉ ra rằng mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái đồng USD có
thể được truyền dẫn thông qua vị thế tài sản nước ngoài ròng của Hoa Kỳ. Các tác
giả nhận định rằng việc tăng giá dầu sẽ làm tăng giá đồng USD trong dài hạn.
Habib và Kalamova (2007) nghiên cứu về sự tác động của giá dầu thực đến tỷ giá hối
đoái thực của ba nước xuất khẩu dầu: Na Uy (từ quý 01 năm 1980 đến quý 02 năm
2006), Nga (từ quý 01 năm 1995 đến quý 02 năm 2006) và Ả Rập Xê Út (từ quý 01
năm 1980 đến quý 02 năm 2006). Bài nghiên cứu sử dụng một số phương pháp hồi
quy như: VECM, OLS. Kết quả nghiên cứu không tìm thấy tác động của giá dầu đến
liệu nghiên cứu là các quan sát hàng tháng trong giai đoạn cụ thể đối với mỗi nước
(từ năm 1974 đến năm 2011). Beckman và Czudaj sử dụng mô hình MS-VECM để
kiểm định mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái (cả danh nghĩa và thực). Kết
quả của nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái của
các quốc gia được nghiên cứu. Đối với các nước xuất khẩu dầu, trường hợp của giảm
giá danh nghĩa đồng USD sẽ làm giá dầu tăng cao hơn. Kết quả tương tự với trường
hợp của Nga. Trường hợp của Mexico và Na Uy, việc tăng giá dầu làm tỷ giá hối đoái
cũng tăng lên (tức là giá dầu tăng làm giảm giá trị danh nghĩa của đồng nội tệ). Đối
với các nước nhập khẩu, Khu vực Euro, giá trị đồng nội tệ tăng so với đồng USD dẫn
đến sự gia tăng trong giá dầu. Trường hợp Anh, Nhật Bản và Ấn Độ, giá dầu tăng làm
giảm giá trị (danh nghĩa và thực) của đồng nội tệ. Riêng trường hợp của Thụy Điển
và Hàn Quốc, giá dầu tăng làm tăng giá trị đồng nội tệ. Các kết quả nghiên cứu không
đồng nhất về chiều tác động của mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái trong
nhóm nước nhập khẩu dầu và xuất khẩu dầu. Qua đó, có thể thấy sự tác động của giá
dầu đến tỷ giá hối đoái cũng như sự tác động của tỷ giá hối đoái đến giá dầu là không
giống nhau tại mỗi quốc gia trên mẫu nghiên cứu và từng thời kỳ cụ thể.
14
1.3.2. Các nghiên cứu tại các nước đang phát triển
Olomola (2006) đã nghiên cứu tác động của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô tại
Nigeria. Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu theo quý từ năm 1970 đến năm 2003. Phương
pháp VAR được áp dụng để phân tích các dữ liệu. Kết quả cho thấy rằng cú sốc giá
dầu không ảnh hưởng đáng kể đến sản lượng và lạm phát tại Nigeria. Tuy nhiên, cú
sốc giá dầu gây ảnh hưởng đáng kể đến tỷ giá hối đoái. Giá dầu tăng làm tăng tỷ giá
hối đoái.
Korhonen và Juurikkala (2007) áp dụng phương pháp PMG (Pooled Mean Group) để
nghiên cứu về sự vận động của tỷ giá hối đoái tại 09 nước OPEC (Algeria, Ecuador,
Gabon, Indonesia, Iran, Kuwait, Nigeria, Ả Rập Xê Út, Venezuela) trong giai đoạn từ
được sử dụng để nghiên cứu là dữ liệu hàng ngày từ ngày 02 tháng 07 năm 2007 đến
ngày 28 tháng 11 năm 2008. Ghosh kết luận rằng có mối quan hệ nhân quả một chiều
từ giá dầu đến tỷ giá hối đoái. Sự gia tăng trong giá dầu làm mất giá đồng tiền của
Ấn Độ so với đồng USD. Vì là nước nhập khẩu dầu, mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái
và giá dầu tại Ấn Độ hoàn toàn phù hợp với lý thuyết. Một sự gia tăng giá dầu thế
giới buộc các nhà máy lọc dầu Ấn Độ phải mua nhiều đồng USD hơn để nhập khẩu
dầu, dẫn đến giảm giá trị đồng tiền của Ấn Độ.
Al-mulali và Sab (2011) áp dụng mô hình VAR để xem xét tác động của các cú sốc
giá dầu đến tỷ giá hối đoái của đồng Điaham của Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống
Nhất trong chế độ tỷ giá hối đoái cố định, giai đoạn nghiên cứu từ năm 1977 đến năm
2007. Kết quả nghiên cứu tìm thấy sự tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa giá dầu và tỷ
giá hối đoái của đồng Điaham. Một sự gia tăng trong giá dầu sẽ làm giảm giá đồng
Điaham.
Basher, Haug và Sadorsky (2012) đã công bố nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá dầu
và tỷ giá hối đoái tại các thị trường mới nổi. Dữ liệu nghiên cứu từ tháng 01 năm
1988 đến tháng 12 năm 2008. Các tác giả áp dụng mô hình SVAR để kiểm định mối
quan hệ giữa hai biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ giá hối đoái phản ứng với sự
vận động của giá dầu. Giá dầu tăng sẽ làm giảm tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn ở tất
16
cả các nền kinh tế mới nổi.
Trong trường hợp của Malaysia, Hussin, Muhammad, Abu và Razak (2012) sử dụng
mô hình VAR để điều tra mối quan hệ nhân quả giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái trong
giai đoạn từ tháng 01 năm 2007 đến tháng 12 năm 2011. Các tác giả tìm thấy mối
quan hệ đồng liên kết giữa các biến, và tác động một chiều từ giá dầu đến tỷ giá hối
đoái.
Tiwari, Dar và Bhanja (2013) áp dụng phương pháp wavelet để kiểm tra mối quan hệ
giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái thực hiệu lực đa phương tại Ấn Độ trong giai đoạn từ