So sánh và đánh giá các vật quyền ( ngoại trừ quyền sở hữu) trong tư pháp la mã và pháp luật việt nam hiện hành từ đó nêu kiến nghị hoàn thiện pháp luật việt nam về vật quyền - Pdf 49

MỤC LỤC

A.PHẦN MỞ ĐẦU
Trong quan niệm Latinh, vật quyền được hiểu là quyền được chủ
thể (người có quyền) thực hiện trực tiếp và tức thì trên một vật mà không
cần vai trò trung gian của một người khác. Trong chừng m ực đó, v ật quy ền
đối lập với trái quyền, tức là quyền được thực hiện chống l ại m ột ng ười
nhằm đòi hỏi một lợi ích về tài sản, cụ thể là m ột số ti ền.Tính ch ất tr ực
tiếp và tức thì của việc thực hiện vật quyền được thể hiện ngay trong cách
thức tác động bằng hành vi vật chất (và cả hành vi pháp lý) c ủa ch ủ th ể
lên đối tượng của quyền. Chẳng hạn, chủ sở hữu một chiếc xe máy t ự
mình đem cho mượn, cho thuê mà không cần có, cũng không bu ộc ph ải
nhờ đến vai trò trung gian của người nào khác. Tương t ự, người h ưởng hoa
lợi đối với một miếng vườn tự mình thu hoa lợi mà không c ần xin phép
chủ sở hữu cũng không cần sự hỗ trợ pháp lý của ai khác.Tuy nhiên v ấn đ ề
vật quyền được quy định khác nhau ở các thời kì, để hi ểu rõ h ơn v ề v ấn
đề này nhóm em đi tìm hiểu về đề tài: “ So sánh và đánh giá các vật quyền (
ngoại trừ quyền sở hữu) trong Tư Pháp La Mã và pháp luật Vi ệt Nam hi ện
hành. Từ đó nêu kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vật quyền"

[1]


B.PHẦN NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẬT QUYỀN
1.Khái niệm
Vật quyền là quyền của chủ thể đối với vật, chủ th ể có quy ền chi
phối, sử dụng, khai thác và định đoạt bằn hành vi của mình theo ý chí phù
hợp với pháp luật.
2.Đặc điểm
Thứ nhất: Quyền trực tiếp, là quyền năng của chủ thể có th ể khai

động sản liền kề có quyền dẫn nước, thoát n ước, có l ối đi … ; còn quy ền
dụng ích cá nhân là quyền đối với tài sản của người khác đ ược xác l ập cho
một chủ thể xác định được hưởng đối với tài sản đó. Dụng ích cá nhân
được xác lập cho một chủ thể xác định và chỉ người đó được hưởng (có
thời hạn hoặc được hưởng suốt đời) và không được coi là di s ản th ừa k ế
của người đó sau khi họ chết. Quyền địa dịch giống với các quy đ ịnh v ề
quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề (từ điều 273 đến điều 278
BLDS 2005) và quyền dụng ích cá nhân có nét t ương đồng v ới quy ền s ử
dụng (điều 194 BLDS 2005).
Các vật quyền được quy định trong pháp luật La Mã và pháp lu ật
Việt Nam bao gồm: Quyền địa dịch, quyền dụng ích cá nhân, quy ền bề
mặt, quyền cầm cố và quyền thế chấp.Tuy nhiên trong pháp luật La Mã và
pháp luật Việt Nam có những quy định khác nhau về các vật quyền này.
2.Điểm khác nhau
2.1. Quyền địa dịch.
Việc tồn tại sở hữu tư nhân đối với đất đai có th ể dẫn dến tình
trạng có khoảng đất không có những điều kiện c ần thi ết, t ối thi ểu đ ể s ử
dụng một cách bình thường. Ngoài ra quyền địa dịch còn đ ược hình thành
thông qua sự thỏa thuận của các bên. Quy ền đ ịa d ịch trong Pháp lu ật La
Mã được chia thành hai loại: địa dịch nông thôn và địa dịch thành th ị.
- Địa dịch nông thôn bao gồm: Quyền địa dịch đường đi (đi qua mảnh
đất liền kề, chuyên chở tài sản qua, chăn dẫn gia súc đi qua…); Quy ền c ấp
nước (được dẫn nước qua đất hàng xóm, được múc nước từ nguồn n ước
của hàng xóm); Quyền chăn thả gia súc trên bãi cỏ của hàng xóm.
- Địa dịch thành thị gồm: Quyền xây dựng sát t ường nhà hàng xóm,
được tựa rầm vào tường nhà hàng xóm, được yêu cầu hàng xóm không che
mất ánh sáng và phá vỡ nét xây dựng của nhà mình. Mảnh đ ất lúc này
[3]



với các chủ thể khác khi họ thực hiện quyền sở hữu tài sản của h ọ mà
phải nhờ đến sự giúp đỡ của chủ sở hữu bất động sản liền kề hoặc vì
mục đích chung phục vụ lợi ích cho Nhà n ước, xã h ội, ch ủ s ở h ữu ph ải có
nghĩa vụ đối với Nhà nước, xã hội.
2.2. Quyền dụng ích cá nhân.
[4]


Dụng ích cá nhân được xác lập cho một chủ thể xác đ ịnh và ch ỉ có
người đó được hưởng, không được coi là di sản th ừa k ế c ủa ng ười đó sau
khi họ chết. Người được hưởng dụng ích có quy ền khai thác tài s ản, s ử
dụng tài sản đúng mục đích, công dụng của tài sản đó, đ ược h ưởng hoa l ợi,
lợi tức từ tài sản. Người được hưởng dụng ích phải sử dụng tài s ản đúng
mục đích, đảm bảo tài sản đó không làm xấu đi tình tr ạng tài s ản.
Luật La Mã quy định: cha mẹ luôn có quyền dụng ích cá nhân đối với
tài sản của con cái, chủ nô cũ luôn có quy ền d ụng ích cá nhân đ ối v ới tài
sản của nô lệ cũ (đã được chủ nô cho thành người tự do). Ng ười đ ược
hưởng dụng ích phải bồi thường thiệt hại cho ch ủ s ở h ữu n ếu không s ử
dụng tài sản đúng mục đích hoặc lạm quy ền trong vi ệc s ử dụng tài s ản.
Trong trường hợp vật thay đổi mục đích sử dụng do điều kiện tự nhiên mà
không do lỗi của người được hưởng dụng ích thì h ọ không ph ải ch ịu trách
nhiệm trong việc thay đổi bản chất của vật đó. Tuy nhiên, do việc thay đ ổi
này nên mục đích dụng ích cũng không c ần tồn t ại vì v ậy d ụng ích cũng
chấm dứt. Quyền dụng ích cá nhân bao gồm 4 loại như sau:
- Ususfructus: Quyền được sử dụng và thu hoa lợi suốt đời (bắt
nguồn từ hai từ: usu – sử dụng và fructus – hoa l ợi), trong đó bao g ồm c ả
quyền cho thuê và quyền bán hoa lợi đi.
- Usus: Quyền hạn chế hơn, chỉ được sử dụng chứ không được
hưởng hoa lợi (đôi khi chỉ được hưởng hoa lợi trong phạm vi nhu c ầu cá
nhân của chính người sử dụng).

Nhà nước.
Bên cạnh đó còn được thể hiện bằng quyền sử dụng đất của người
khác để xây dựng theo chuyển nhượng, thừa kế.Điều đó được th ể hiện
bằn việc sở hữu công trình xây dựn, tài sản trên công trình xây d ựng, vi ệc
chuyển nhượng, cầm cố công trình hay bằng việc người nh ận ti ếp t ục
thuê đất.


So với pháp luật Việt Nam

quyền bề mặt là quyền của chủ thể được sử dụng mặt đất, khoảng không
trên mặt đất và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc v ề ng ười khác
(Trong trường hợp bề mặt là mặt nước cũng áp d ụng theo quy đ ịnh này).
Quyền bề mặt được xác lập theo thỏa thuận, theo cam kết đơn ph ương
hoặc theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan. Đ ối t ượng c ủa
quyền bề mặt có thể là vật cụ thể gắn với đất hoặc là ph ần không gian,
theo đó vật gắn với đất sẽ được tạo lập. Vật cụ th ể gắn v ới đ ất có th ể là
vật nằm trên bề mặt đất, nằm dưới mặt đất hoặc phần không gian trên
mặt đất. Chủ thể quyền bề mặt có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của chủ sở
hữu đối với vật đó. Trong trường hợp đối tượng của quy ền là ph ần không
gian mà trong đó các vật gắn với đất có th ể được tạo l ập thì ch ủ s ở h ữu
[6]


phần không gian có quyền xây dựng, trồng cây, canh tác và có đ ầy đ ủ các
quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với vật mới được tạo ra
2.4. Quyền cầm cố.
Nghĩa vụ là quan hệ trái quyền, quan hệ tương đối trong đó ch ủ n ợ
chỉ có thể yêu cầu con nợ phải thực hiện nghĩa v ụ c ủa h ọ. Trong tr ường
hợp con nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa v ụ, ch ủ n ợ

đảm hiệu lực của hợp đồng cầm cố. Quyền cầm cố được chấm d ứt trong
các trường hợp sau: - Đối tượng cầm cố bị tiêu hủy; - Sáp nh ập tài s ản là
đối tượng cầm cố thành tài sản của bên nhận cầm cố; - Nghĩa vụ được
bảo đảm bằng cầm cố đã được thực hiện.
So với Quy định của pháp luật Việt Nam.
Theo pháp luật La Mã và quy định của một số nước ch ịu ảnh h ưởng
của pháp luật La Mã như Pháp, Đức, Nhật Bản, quy định về cầm cố và thế
chấp được cho vào mục Quyền tài sản. Tuy nhiên trong Bộ luật Dân s ự
Việt Nam, quy định về cầm cố, thế chấp nằm trong Phần Nghĩa vụ dân sự
và Hợp đồng dân sự, Mục Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. V ề bản
chất, cầm cố, thế chấp… đều là các biện pháp nh ằm bảo đ ảm th ực hiện
nghĩa vụ chính thông qua tài sản của bên có nghĩa vụ, tuy nhiên có sự khác
biệt trong cách quy định giữa pháp luật La Mã và pháp lu ật Vi ệt Nam cho
thấy sự khác biệt trong quan điểm lập pháp về tính chất v ật quy ền c ủa
cầm cố. theo pháp luật La Mã, quyền cầm cố được coi là m ột d ạng quy ền
đối với tài sản của người khác nhằm bảo đảm thực hiện một nghĩa v ụ
đang tồn tại. Như vậy có thể thấy pháp luật La Mã chú trọng đến quy đ ịnh
về đối tượng trong cầm cố, thế chấp, hay nói cách khác cầm cố trong pháp
luật La Mã mang tính vật quyền (chú trọng đến quyền dõi theo v ật). Trong
khi đó, pháp luật Việt Nam coi cầm cố, thế chấp là biện pháp bảo đ ảm
thực hiện nghĩa vụ - là một quan hệ phụ so với quan hệ nghĩa vụ chính
(nghĩa vụ được bảo đảm) do đó cầm cố mang tính chất trái quy ền, chú
trọng đến hành vi của bên có nghĩa vụ.


Nếu đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ đã th ực hiện đúng, đầy đ ủ
nghĩa vụ của mình thì biện pháp bảo đảm nghĩa vụ đó cũng đ ược coi là
chấm dứt. Về nguyên tắc, các giao dịch dân sự được xác lập và th ực hiện
trên cơ sở tự do giao dịch, thỏa thuận, do đó các biện pháp b ảo đ ảm kèm
theo cũng được xác lập trên cơ sở thỏa thuận của các bên. Điều 318 Bộ

bằng biện pháp bảo đảm khác. Người nhận cầm cố cũng có một số quy ền
hạn nhất định đối với tài sản cầm trong quá trình chiếm h ữu tài s ản đó.
Cụ thể: người cầm cố có quyền yêu cầu người chiếm hữu, sử dụng trái
pháp luật tài sản cầm cố hoàn trả tài sản đó; yêu cầu xử lý tài sản cầm cố
theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật đ ể th ực
hiện nghĩa vụ; được khai thác công dụng tài sản cầm cố và h ưởng hoa l ợi,
lợi tức từ tài sản cầm cố nếu có thỏa thuận; được thanh toán chi phí h ợp
lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản cầm cố cho bên cầm cố. Nh ư
vậy có thể thấy, người nhận cầm cố tài sản là người chiếm h ữu tài sản
hợp pháp trong thời gian biện pháp bảo đảm này có hiệu l ực. Ng ười nh ận
cầm cố có thể thực hiện quyền năng của người chiếm hữu tài sản hợp
pháp và chỉ có quyền sử dụng tài sản nếu có thỏa thuận tr ước v ới ng ười
cầm cố. Tuy nhiên, đến thời hạn phải thực hiện nghĩa vụ mà bên cầm c ố
tài sản không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa v ụ thì bên nh ận
[9]


cầm cố có quyền xử lý tài sản cầm cố theo phương thức mà các bên đã
thỏa thuận trước (ví dụ: bên nhận cầm cố có thể trực tiếp bán tài sản
cầm cố) hoặc đem bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
Hình thức này gần giống với hình thức bán đợ (Fiducia cum
creditore) và cầm cố trao tay (Pignus) của pháp luật La Mã xét v ề ph ương
diện cầm giữ tài sản là đối tượng của cầm cố, tuy nhiên quyền sở h ữu tài
sản theo pháp luật Việt Nam vẫn thuộc về bên cầm c ố và bên nh ận c ầm
cố được bảo hộ với tư cách là người chiếm hữu tài sản h ợp pháp. Đây là
một vấn đề quan trọng vì theo đó, trong thời gian cầm giữ v ật, bên nh ận
cầm cố không có quyền định đoạt tài sản trong khi đó theo Luật La Mã đ ối
với hình thức Fiducia cum creditore chủ n ợ có quy ền đ ịnh đo ạt tài s ản và
con nợ chỉ có thể yêu cầu chủ nợ bồi thường thiệt hại. Còn ph ương th ức
cầm cố trao tay (Pignus) của luật La Mã thì có nh ược đi ểm lãng phí do

Trong mỗi nhóm vấn đề này , Luật La Mã cũng rạch ròi được r ất
nhiều lĩnh vực như: các hình thức chiếm hữu, xác lập và ch ấm dứt ; nội
dung ,căn cứ phát sinh chấm dứt quyền sở hữu , quyền s ở h ữu chung b ảo
vệ quyền sở hữu, các quyền của các chủ thể với tài sản của ng ười khác…
Cho tới ngày nay, các quan hệ xã hội trên vẫn còn hiện h ữu trong h ệ th ống
pháp luật của các quốc gia dù là tư bản hay bất kì m ột th ể ch ế chính tr ị
nào khác. Thậm chí ngày, nay các phương pháp điều chỉnh ,các quy ph ạm
pháp luật La Mã vẫn được giữ nguyên cho tới hiện tại , đ ược nhiều qu ốc
gia thừa nhận trong pháp luật nước mình, không nh ững không b ị g ạt b ỏ
mà còn được tiếp tục hoàn thiện thêm.
- Chế định về vật quyền trong pháp luật La Mã th ể hiện sự phát tri ển
trong sản xuất , buôn bán thời trung cổ. Đó đã là một xã h ội r ất coi tr ọng
sản xuất kinh doanh, đi kèm với kết quả tất yếu là sự coi tr ọng quy ền tài
sản của mỗi chủ thể của con người. Quan hệ sản xuất kinh doanh phát
triển thể hiện qua sự rạch ròi , tính toán rất chi li các quan hệ xã hội liên
quan đến tài sản như cầm cố , quyền đối với tài sản của người khác ,
chiếm hữu hợp pháp ngay thẳng và không ngay th ẳng...Các vấn đ ề này th ể
hiện một trình độ pháp luật đã rất phát triển , để có th ể bắt k ịp v ới n ền
kinh tế đương thời.
 Như vậy, qua phân tích trên ta có thể thấy Luật La Mã cho đến nay v ẫn
còn nhiều giá trị, một sô quốc gia vẫn dựa vào Luật La Mã đ ể hoàn thi ện
và phát triển thêm.
2. Giá trị thực tiễn những quy định về vật quyền trong pháp lu ật La Mã và
sự vận dụng trong pháp luật Việt Nam.
Trong thực tiễn, khả năng áp dụng trong cuộc sống của luật La Mã là
rất cao, khi đủ sức duy trì trật tự của một xã hội trung c ổ, v ới ch ế đ ộ tài
[11]


sản còn nhiều điều phức tạp như: tài sản có th ể là con ng ười , m ối quan

luật lớn có tầm ảnh hưởng lớn trên toàn thế giới. Pháp luật La Mã đã là
chuẩn mức để điều chỉnh các quan hệ xã hội của một đế chế lớn m ạnh
trong lịch sử văn minh loài người trong đó pháp luật Việt Nam.
[12]


IV. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ V ẬT QUY ỀN.
1.Hoàn thiện BLDS theo hướng xây dựng được một hệ thống “vật quyền”
Tại các nước trên thế giới, thuật ngữ “vật quyền” được xuất hiện
cách đây 1.500 năm, tại Bộ luật Napoléon (1804) - Bộ luật Dân s ự đầu tiên
trên thế giới đã quy định “vật quyền”; đến thời hiện đại, Bộ luật Dân s ự
của Nhật Bản cũng quy định “vật quyền” tại Phần hai; Bộ Luật Dân s ự của
Đức, quy định chung về “vật quyền” tại Phần một. Tại Việt Nam việc đ ưa
thuật ngữ “vật quyền” vào Bộ luật Dân sự là rất cần thiết:
- Một là, vận dụng lý thuyết vật quyền giúp chúng ta có cơ sở khoa h ọc
vững chắc để xác định đúng bản chất pháp lý của nh ững quy ền đối v ới tài
sản đã và đang tồn tại trong nền kinh tế nước ta, khắc ph ục nh ững t ồn t ại
hạn chế trong các quy đinh hiện hành liên quan đến quy ền s ở h ữu, trên c ơ
sở đó xây dựng được một hệ thống vật quy ền phù hợp v ới yêu cầu của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Hai là, việc áp dụng lý thuyết vật quyền giúp chúng ta xây d ựng đ ược
một hệ thống các quyền đối với vật một cách đầy đủ, tạo c ơ s ở pháp lý
cho viêc sử dụng một cách hiệu quả các nguồn tài sản, tài nguyên thiên
nhiên của đất nước, qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
- Ba là, việc sử dụng thuật ngữ vật quyền còn đem lại nhiều lợi ích cho
hoạt động đối ngoại của Nhà nước ta.
Như vậy, việc hoàn thiện Bộ luật Dân sự theo hướng xây dựng được
một hệ thống “vật quyền”, bao gồm quyền sở hữu và các loại vật quy ền
phái sinh, vừa thể hiện cái chung của thế giới, v ừa th ể hiện đ ặc thù c ủa
nền kinh tế Việt Nam là điều có ý nghĩa rất lớn không chỉ về m ặt đ ối n ội


[14]


C.PHẦN KẾT BÀI.
Từ những phân tích trên có thể thấy ở mỗi thời kì lại có sự quy định
khác nhau về vật quyền cho thấy vật quyền là một vấn đ ề quan tr ọng, là
một quyền năng của chủ thể đối với vật qua đó chủ thể có th ể chi phối, s ử
dụng… cũng như định đoạt vật quyền đó bằng hành vi c ủa mình trên n ền
tuân thủ pháp luật.

[15]


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Vật quyền bảo đảm - Những vấn đề lý luận đặt ra trong quá trình
cải cách pháp luật dân sự ở nước ta
2. />ItemID=4446)
3.Thuật ngữ “vật quyền” trong dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi
/>ItemID=7033)
4. />5.Giáo trình Luật La Mã – Đại học Luật Hà Nội
6.Bài viết “Lợi ích của việc xây dựng chế định vật quy ền đối v ới vi ệc
hoàn thiện hệ thống pháp luật tài sản”:
/>p_page_id=&p_cateid=1751909&article_details=1&item_id=6180489
7. />8.
/>
[16]


[17]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status