UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
----------
KỶ YẾU
HỘI THẢO
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC CỦA
MÔN VẬT LÍ TRONG KÌ THI THPT
QUỐC GIA
Sóc Trăng, ngày 25 tháng 12 năm 2016
MỤC LỤC
Trang
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LÀM BÀI THI TRẮC NGHIỆM
MÔN VẬT LÍ ĐẠT HIỆU QUẢ CAO TRONG KÌ THI THPT QUỐC GIA
Tổ Vật lí – KTCN, Trường THPT chuyên Nguyễn Thị Minh Khai ..................... 1
SỬ DỤNG “TRỤC THỜI GIAN” ĐỂ GIẢI NHANH MỘT SỐ BÀI TẬP
TRẮC NGHIỆM MÔN VẬT LÍ 12
Trần Xuân Kế, Trường THPT Hoàng Diệu .......................................................... 6
MỘT SỐ LƯU Ý NHẰM GIÚP HỌC SINH ÔN LUYỆN VÀ LÀM TỐT BÀI
TRẮC NGHIỆM MÔN VẬT LÍ TRONG KỲ THI THPT QUỐC GIA
Nguyễn Quốc Văn, Trường THPT Kế Sách ....................................................... 11
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LÀ BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM
ĐẠT HIỆU QUẢ CAO TRONG KÌ THI THPT QUỐC GIA MÔN VẬT LÍ
Châu Trường Thọ, Trường THPT Mỹ Xuyên .................................................... 15
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LÀM BÀI THI TRẮC NGHIỆM
MÔN VẬT LÍ ĐẠT KẾT QUẢ CAO
TRA ĐÁNH GIÁ
Ngô Minh Kết, Trường THPT Mai Thanh Thế................................................... 83
DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ CHƯƠNG DAO ĐỘNG CƠ VÀ SÓNG CƠ VẬT
LÍ LỚP 12
Nguyễn Thị Hồng Tươi, Trần Thị Hồng Trang, Trường THPT Mỹ Hương ...... 86
DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
QUA CHỦ ĐỀ DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU VÀ SÓNG ĐIỆN TỪ
Giang Vũ Bảo, Trường THPT Ngã Năm ............................................................ 91
DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ CHƯƠNG DAO ĐỘNG VÀ SÓNG ĐIỆN TỪ –
VẬT LÍ 12
Tổ Vật lí, Trường THPT An Lạc Thôn ............................................................... 95
DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ CHƯƠNG DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU - DAO
ĐỘNG VÀ SÓNG ĐIỆN TỪ - VẬT LÍ 12
Tổ Vật lí, Trường THCS&THPT Thạnh Tân.................................................... 102
CÁC DẠNG BÀI TẬP “LẠ” TRONG CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ 12
Dương Văn Trung, Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng ................................ 108
DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ GIAO THOA VỚI ÁNH SÁNG ĐƠN SẮC
Tổ Vật lí, Trường THPT DTNT Huỳnh Cương ................................................ 113
DẠY HỌC VẬT LÍ THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CỦA KÌ THI THPT
QUỐC GIA - CHƯƠNG SÓNG ÁNH SÁNG
Lâm Thái Nghiệp, Trường THPT Ngọc Tố ...................................................... 118
DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ CHƯƠNG VẬT LÍ HẠT NHÂN – VẬT LÍ 12
Nguyễn Văn Nhật, Trường THPT Hòa Tú ....................................................... 123
DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ CHƯƠNG SÓNG ÁNH SÁNG VẬT LÍ HẠT
NHÂN
Ông Minh Thuyết, Trường THPT An Ninh ...................................................... 129
VẬN DỤNG CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN ĐỂ GIẢI MỘT SỐ BÀI TOÁN
CHƯƠNG I DAO ĐỘNG CƠ VÀ CHƯƠNG VII VẬT LÍ HẠT NHÂN - VẬT
tham luận từ các trường THPT, các trường THCS&THPT trong tỉnh gửi về.
Trong quá trình biên tập, bước đầu Ban tổ chức đánh giá đây là những tham luận
có chất lượng, có nhiều tham luận đã trình bày những nội dung mới lạ, qua đó
thể hiện được tâm huyết cũng như tinh thần làm việc nghiêm túc của các tác giả.
Nội dung của các tham luận tập trung vào những chủ đề chính như sau:
- Một số giải pháp giúp học sinh làm bài thi trắc nghiệm đạt hiệu quả cao
trong kì thi THPT Quốc gia môn Vật lí.
- Xây dựng ma trận đề theo định hướng trắc nghiệm khách quan.
- Dạy học theo chủ đề Chương Dao động cơ học và Chương Sóng cơ học
– Vật lí 12.
- Dạy học theo chủ đề Chương Dao động điện từ và Chương Điện xoay
chiều – Vật lí 12.
- Dạy học theo chủ đề Chương Sóng ánh sáng, Lượng tử ánh sáng và Vật
lí hạt nhân – Vật lí 12.
BAN BIÊN TẬP
Hội thảo “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học của môn Vật lí
trong kì thi THPT Quốc gia”
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH
LÀM BÀI THI TRẮC NGHIỆM MÔN VẬT LÍ ĐẠT HIỆU QUẢ CAO
TRONG KÌ THI THPT QUỐC GIA
Tổ Vật lí - KTCN
Trường THPT chuyên Nguyễn Thị Minh Khai
TÓM TẮT
Trong những năm gần đây, kết quả kì thi THPT Quốc gia môn Vật lí tại
trường THPT Chuyên Nguyễn Thị Minh Khai, Sóc Trăng đã đạt được những kết
quả tương đối ổn định, góp phần làm tăng tỷ lệ đậu Đại học cho nhà trường.
Kết quả đạt được của môn Vật lí tuy không quá cao, nhưng nó đánh giá được
Hội thảo “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học của môn Vật lí
trong kì thi THPT Quốc gia”
- Giáo viên rất quan tâm trong việc đổi mới kiểm tra đánh giá, có sự nhận
thức đúng đắn về sự cần thiết và vai trò của trắc nghiệm nên áp dụng phương
pháp này ngày càng hiệu quả.
- Được tập huấn và thường xuyên tự nghiên cứu, học hỏi nên phần lớn
giáo viên có kĩ năng sử dụng trắc nghiệm do đó học sinh được rèn luyện nhiều
hơn.
- Trắc nghiệm được áp dụng ở tất cả các bài kiểm tra đảm bảo tính khách
quan, bao quát toàn bộ kiến thức cho học sinh.
2.1.2. Khó khăn
- Mất nhiều thời gian cho việc xây dựng ngân hàng câu hỏi, để có một bài
trắc nghiệm có giá trị, đảm bảo độ khó, độ phân biệt, có thể phân hóa trình độ
năng lực học sinh đòi hỏi giáo viên phải nắm vững chuyên môn và kĩ thuật xây
dựng câu hỏi trắc nghiệm.
- Những khó khăn của học sinh khi làm bài trắc nghiệm môn Vật lí.
STT
NỘI DUNG
SỐ LƯỢNG
1
Chưa nắm vững hết kiến thức
58/100
2
nắm vững kiến thức, khó khăn này phản ánh ý thức, thái độ học tập của học
sinh. Tuy nhiên điều này cũng dễ dàng khắc phục nếu học sinh có ý thức tự giác
học tập cao, giáo viên thường xuyên trau dồi kiến thức cho các em.
2.2. Giải pháp làm bài thi trắc nghiệm có hiệu quả
Hiện nay, hầu hết các môn học đều thi theo phương pháp trắc nghiệm. Để
làm tốt bài thi trắc nghiệm, cần phải có những hiểu biết đầy đủ và đúng đắn về
hình thức thi rất phổ biến và hiệu quả này. Hãy cùng nhau tham khảo vài giải
pháp giúp các em học sinh có thể làm tốt một bài thi trắc nghiệm.
2.2.1. Nắm vững các dạng câu trắc nghiệm
Thi trắc nghiệm ở nước ta hiện nay là thi trắc nghiệm viết. Trắc nghiệm
viết được chia thành hai dạng chính: trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách
quan nhưng trắc nghiệm khách quan là chủ yếu. Trong trắc nghiệm khách quan
có thể phân chia ra 5 kiểu câu hỏi: 1. Câu ghép đôi: Cho 2 cột nhóm từ, đòi hỏi
thí sinh phải ghép đúng từng cặp nhóm từ ở hai cột với nhau sao cho phù hợp về
nội dung. 2. Câu điền khuyết: Nêu một mệnh đề có khuyết một bộ phận, thí sinh
2
Hội thảo “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học của môn Vật lí
trong kì thi THPT Quốc gia”
phải nghĩ ra nội dung thích hợp để điền vào ô trống. 3. Câu trả lời ngắn: Là câu
trắc nghiệm đòi hỏi chỉ trả lời bằng câu rất ngắn. 4. Câu đúng sai: Đưa ra một
nhận định, thí sinh phải lựa chọn một trong hai phương án trả lời để khẳng định
nhận định đó là đúng hay sai. 5. Câu nhiều lựa chọn: Đưa ra một nhận định và 4
- 5 phương án trả lời, thí sinh phải chọn để đánh dấu vào một phương án đúng
hoặc phương án tốt nhất.
2. 2.2. Nhận diện nhanh câu dễ - câu khó
Trong đề thi sẽ có câu dễ, câu khó, do đó, trước khi đặt bút làm các thí
sinh nên dành vài phút để xác định xem câu nào dễ hơn, câu nào khó hơn. Ưu
3
Hội thảo “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học của môn Vật lí
trong kì thi THPT Quốc gia”
2.2.5. Tránh tỉ mẩn, cần cù trong cách giải
Nếu như tỉ mẩn, cần cù trong cách làm có thể giúp các em đạt điểm cao
trong bài thi tự luận thì đó lại là bất lợi trong bài thi trắc nghiệm. Với số lượng
câu hỏi nhiều, cộng với thời gian có hạn, nếu như các em quá cẩn thận viết hẳn
ra giấy cách giải như thế nào thì sẽ rất tốn thời gian. Đề thi trắc nghiệm không
đòi hỏi ở các em cách làm như thế nào mà chỉ cần biết kết quả cuối cùng mà bạn
tô vào ô đáp án ra sao. Với 40 câu hỏi, chỉ trong 50 phút, nếu có thể các em hãy
nhẩm trong đầu hoặc tốc kí viết ra nháp không cần theo từng bước giải như thế
nào hay chữ phải đẹp mà chỉ cần ngắn gọn, dễ hiểu, tránh làm mất thời gian.
2.2.6. Phương pháp phỏng đoán và loại trừ
Phỏng đoán là phương pháp phù hợp với những câu không chắc chắn về
câu trả lời, việc phỏng đoán lôgic và kho học nhiều khi sẽ cho các bạn những
câu trả lời chính xác. Trong trường hợp thí sinh có thời gian để suy nghĩ nhưng
không chắc chắn về câu trả lời thì có thể dùng phương pháp loại trừ. Trong 4
câu trả lời, thí sinh có thể phân tích và tìm ra câu trả lời sai. Như vậy câu trả lời
đúng sẽ nằm trong số còn lại. Nếu loại trừ được càng nhiều phương án trả lời sai
thì xác suất trả lời đúng càng cao.
2.2.7. Phương châm làm bài “Thà tô nhầm còn hơn bỏ sót”
Khi không thể trả lời được câu nào, cộng với thời gian còn rất ít thì đừng
nên do dự. Do không bị trừ điểm nếu thí sinh chọn câu sai, nên trước khi hết giờ
thi, các bạn cần chọn nhanh đáp án hợp lý nhất cho những câu chưa trả lời.
Không nên để trống một câu nào, phải trả lời tất cả các câu. Mỗi câu đều có
điểm, cho nên bỏ câu nào là mất điểm câu đó. Để có cơ hội giành điểm cao nhất,
các bạn phải tô các phương án trả lời theo phương châm thà tô nhầm còn hơn bỏ
Trên đây chỉ là một số giải pháp và một vài kinh nghiệm nhỏ mà chúng
tôi đã rút ra được trong quá trình giảng dạy, ôn luyện cho các em thi Đại học.
Chắc chắn rằng nhiều đồng nghiệp sẽ có những ý kiến và giải pháp khác quí giá
hơn. Rất mong nhận được sự trao đổi và giúp đỡ của các đồng nghiệp, để chúng
tôi có thể làm tốt hơn công việc của mình góp phần vào thành tích của nhà
trường và sự nghiệp giáo dục của địa phương.
5
Hội thảo “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học của môn Vật lí
trong kì thi THPT Quốc gia”
SỬ DỤNG “TRỤC THỜI GIAN” ĐỂ GIẢI NHANH MỘT SỐ BÀI
TẬP TRẮC NGHIỆM MÔN VẬT LÍ 12
Trần Xuân Kế
Trường THPT Hoàng Diệu
Theo phương án tổ chức kỳ thi THPT Quốc gia năm 2017 đã được Bộ
Giáo dục và Đào tạo công bố thì Vật lí là một trong ba môn thi của bài thi tổ hợp
Khoa học Tự nhiên (KHTN). Đề thi môn Vật lí gồm 40 câu trắc nghiệm và thời
gian làm bài 50 phút, như vậy thời gian trung bình để làm mỗi câu là 1,25 phút.
Nếu so với đề thi chính thức môn Vật lí của kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016 thì
đề thi năm 2017 có số lượng câu trắc nghiệm giảm đi 10 câu nhưng thời gian
làm bài giảm 40 phút. Cũng theo phương án này thì đề thi vẫn phải có câu hỏi
phân hóa phục vụ cho xét tuyển Đại học, Cao đẳng. Với thời gian có thể nói là
“hạn hẹp” như vậy rõ ràng để làm tốt bài thi môn Vật lí kỳ thi THPT Quốc gia
năm 2017 đòi hỏi thí sinh không những vững về kiến thức Vật lí mà còn phải có
một kỹ năng làm bài tốt (đặc biệt là kỹ năng giải nhanh bài trắc nghiệm) mới có
thể hoàn thành tốt bài làm của mình.
Việc ứng dụng vòng tròn lượng giác để giải nhanh các bài toán vật lí liên
2
a
3
a
max
Wñ 3Wt , Wñ Wt , Wt 3Wñ …
, amax max , max
, max
2
2
2
2
từng bước hình thành trục thời gian như hình dưới đây. Giáo viên không nên
đưa ra ngay trục thời gian mà nên để học sinh tự giải bài tập và hoàn thiện dần
trục thời gian; có như vậy thì học sinh mới có thể hiểu sâu và vận dụng tốt trục
thời gian này để giải nhanh bài tập một cách có hiệu quả.
6
Hội thảo “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học của môn Vật lí
trong kì thi THPT Quốc gia”
Không chỉ dừng lại ở chương Dao Động Cơ Học, khi dạy đến các chương
Dòng Điện Xoay Chiều, Dao Động Và Sóng Điện Từ giáo viên có thể mở rộng
“Trục thời gian” trên để giúp học sinh giải nhanh một số bài tập trắc nghiệm của
các chương này liên quan đến thời gian với các vị trí đặc biệt.
II. SỬ DỤNG “TRỤC THỜI GIAN” ĐỂ GIẢI NHANH MỘT SỐ BÀI
TẬP TRẮC NGHIỆM VẬT LÍ 12
Câu 1: (ĐH 2009) Một con lắc lò xo gồm lò xo nhẹ và vật nhỏ dao động
Wñmax ;Wt 0
O
vmax
vmax 3
2
Wñ Wt
vmax 2
2
Wt 3Wñ
vmax
2
+A
vmax
A.10
0,6
A 0,06 2(m) 6 2(cm)
amax 2
2
amax 3
2
T
12
t
O
T
t
12
Giải: Theo đề a
D. 1 Hz.
T
12
T
t
12
amax
rad tại nơi có gia tốc trọng trường g = 10 m/s . Lấy
π2 = 10. Thời gian ngắn nhất để con lắc đi từ vị trí cân bằng đến vị trí có li độ
3
góc
40
A.
0
rad là
1
s
3
0 3
B.
0 2
2
t
T
6
l
g
2
6
0 2
2
0 3
2
0
T
6
1
2
A 3
2
O
-A A
3
2
A 2
2
T
s
t
A
2A
Giải:12vtb
8
3
s.
40
B.
120
s.
C.
20
.
D.
60
s.
T
vmax 2
2
v0
vmax
2
K
100
T T T
20(rad / s) T ( s) t 10 ( s)
m
0, 25
10
12 6 4 4 40
Câu 6: (ĐH 2014) Một vật nhỏ dao động điều hòa theo một quỹ đạo
thẳng dài 14cm với chu kì 1s. Từ thời điểm vật qua vị trí có li độ 3,5cm theo
chiều dương đến khi gia tốc của vật đạt giá trị cực tiểu lần thứ hai, vật có tốc độ
trung bình là
amax 2
2
amax 3 a
max
2
T
6
s 4,5 A 4,5.7
27 (cm / s)
Giải: vtb T
7.1
t
T
6
6
Câu 7: (ĐH2014) Tại thời điểm t, điện áp u 200 2 cos(100 t ) (trong
2
D. 200 V.
U0
2
U0 2
2
U0
U0 3
2
T
6
U
1
T
(s) u 0 100 2 (V)
300
6
2
Câu 8: (ĐH 2011) Trong một mạch dao động LC lí tưởng đang có dao
động điện từ tự do. Thời gian ngắn nhất để năng lượng điện trường giảm từ giá
9
Hội thảo “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học của môn Vật lí
Q0 3
2
Q0 2
2
Wñ max
Q0
T
6
III. KẾT LUẬN
Một trong những hạn chế lớn nhất khi sử dụng trục thời gian này là nếu
đại lượng khảo sát không phải là các giá trị đặc biệt thì ta không thể xác định
được đại lượng cần tìm. Tuy nhiên đa số các bài toán trắc nghiệm xuất hiện
trong các đề thi có nội dung liên quan đến thời gian chủ yếu đề cập đến các vị
trí đặc biệt. Vì vậy việc sử dụng “Trục thời gian” để giúp học sinh (đặc biệt là
học sinh hạn chế về mặt toán học) giải nhanh một số bài tập trắc nghiệm Vật lí
12 có thể xem như là một trong những giải pháp giúp học sinh làm tốt bài thi
của mình.
10
Hội thảo “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học của môn Vật lí
trong kì thi THPT Quốc gia”
sẽ không thể làm bài tập, nhớ sai công thức thì kết quả bài làm sẽ sai. Muốn nhớ
được những công thức mới phải làm bài tập nhiều, càng nhiều càng tốt. Trong
lúc làm vẫn lấy công thức ra xem. Như vậy vừa hiểu rõ công thức, vừa biết áp
dụng đúng và nhớ công thức lâu. Trong sách giáo khoa, để cho dễ hiểu, người
viết thường đưa ra những công thức rút gọn cho những trường hợp đặc biệt từ
một công thức tổng quát. Và điều này giúp chúng ta làm câu hỏi trắc nghiệm
nhanh hơn.
11
Hội thảo “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học của môn Vật lí
trong kì thi THPT Quốc gia”
- Biết liên hệ giữa các công thức Vật lí để tìm ra được công thức có chứa
đại lượng phải tìm. Vì trong đề thi của Bộ, có những câu hỏi phải sử dụng đến
hai hoặc ba công thức mới cho ra được kết quả cuối cùng.
- Biết liên hệ kiến thức giữa các chương có liên quan với nhau. Ví dụ các
chương 1, 2, 3, 4 trong sách giáo khoa chương trình chuẩn đều sử dụng phương
trình dao động, do đó có thể sử dụng cách tính thời gian của chương 1 để tính
điện áp tức thời trong chương 3; liên hệ giữa dao động điện từ và dao động điều
hòa; sự tương tự giữa giao thoa sóng trên mặt nước và giao thoa ánh sáng,...
- Kết hợp kiến thức Vật lí lớp 10 và lớp 11 để giải các bài tập Vật lý lớp
12 cũng như kiến thức của các môn khác, đặc biệt là môn Toán và Hóa để giải
bài toán Vật lý. Ví dụ như sử dụng kiến thức về lực hướng tâm, lực tĩnh điện,
lực Lorentz để giải bài toán Electron trong nguyên tử Hyđrô; sử dụng các kiến
thức về chuyển động của vật bị ném, các kiến thức về định luật bảo toàn, đặc
biệt là định luật bảo toàn động lượng và năng lượng để giải bài toán Vật lí hạt
nhân,...
- Tìm tòi thêm nguồn tài liệu mới. Các nội dung kiến thức trong sách giáo
khoa vốn là kiến thức chuẩn, căn bản nhưng không thể giải thích cặn kẽ hết mọi
Với phần bài tập, học sinh cần dựa theo các chuyên đề chia dạng toán và
phương pháp làm tương ứng theo các cấp độ bài tập. Đồng thời, thường xuyên
ôn tập các dạng toán và cách làm để không quên.
3. Một số chú ý để có thể làm tốt đề thi THPT Quốc gia
Nếu các đề thi tự luận thường tập trung vào vấn đề lớn, trọng tâm, có tính
hệ thống thì các đề thi trắc nghiệm có thể đề cập, khai thác tất cả chi tiết của bài
học trong sách giáo khoa, những điều mà đề thi tự luận rất ít hoặc không đề cập
đến. Do vậy học sinh không nên bỏ qua bất kỳ một chi tiết nào trong sách giáo
khoa. Do đó, học sinh phải thật sự nắm chính xác các định luật Vật lí, các định
nghĩa, công thức. Hãy tự tóm tắt thật ngắn gọn, nhưng đầy đủ kiến thức Vật lí
cần thiết, đặc biệt là bảng tóm tắt công thức, hằng số Vật lí thường gặp. Đặc biệt
nên chú ý các vấn đề sau:
- Chú ý về đơn vị, thứ nguyên và tính hợp lý của kết quả: Khi làm
xong các phép tính, cần lưu ý đơn vị ở câu trả lời của đề thi, cân nhắc xem đáp
số có phù hợp với thực tế không. Hãy chú ý về đơn vị và cách viết kết quả theo
quy tắc khoa học.
- Để ý đến các sơ đồ mạch điện và các câu hỏi về đồ thị: Dạng câu hỏi
này ít được quan tâm trong các kỳ thi tự luận nhưng sẽ xuất hiện nhiều trong bài
thi trắc nghiệm. Do các hiện tượng Vật lí xảy ra theo quy luật nhất định nên có
thể tìm thấy bài toán đồ thị ở nhiều nội dung của chương trình. Kỹ năng đọc và
vẽ đồ thị đối với học sinh phổ thông hiện nay có thể nói là khá yếu. Nên giáo
viên cần giúp học sinh rèn luyện các dạng tập loại này nhiều hơn.
- Chú ý đến các hiện tượng Vật lí và ứng dụng trong thực tế: Đề thi
trắc nghiệm sẽ khai thác tối đa các hiện tượng, khái niệm hoặc công thức mà học
sinh do chưa nắm kỹ dễ bị nhầm lẫn. Muốn không bị nhầm lẫn, điều quan trọng
là phải hiểu bản chất các hiện tượng. Đặc biệt, học sinh phải chú trọng đến bài
thí nghiệm thực hành. Môn Vật lý có rất nhiều công thức, việc học thuộc ở một
số học sinh là điều khá khó khăn. Vì vậy để học thuộc được tất cả công thức đó
học sinh phải hiểu được bản chất của từng công thức, và phải chú ý gắn nó với
bỏ qua bất kỳ câu hỏi nào.
III. KẾT LUẬN
Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, sự nỗ lực học tập nghiêm túc, cộng với
những phương pháp ôn luyện phù hợp, những kỹ năng cần thiết cũng như những
chiến thuật nhỏ khi làm bài sẽ giúp học sinh có thể đạt điểm cao môn Vật lí
trong kỳ thi THPT Quốc gia.
Trên đây chỉ là một vài kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã rút ra được trong quá
trình giảng dạy của mình. Chắc chắn rằng quý đại biểu còn có những giải pháp,
những sáng kiến khác quí giá hơn rất nhiều. Rất mong được sự trao đổi, góp ý
của quý đại biểu tôi có thể tiếp tục bổ sung và hoàn thiện hơn nữa.
14
Hội thảo “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học của môn Vật lí
trong kì thi THPT Quốc gia”
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LÀ BÀI TẬP TRẮC
NGHIỆM ĐẠT HIỆU QUẢ CAO TRONG KÌ THI THPT QUỐC GIA
MÔN VẬT LÍ
Châu Trường Thọ
Trường THPT Mỹ Xuyên
I. Đặt vấn đề
Trong năm học 2016-2017 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có công văn số
4818/BGDĐT- KĐCLGD quy định về phương án tổ chức thi THPT Quốc gia
năm 2017. Theo đó, ngoài môn Ngữ văn thi theo hình thức tự luận, còn lại các
môn Toán, Ngoại ngữ, tổ hợp các môn Khoa học xã hội (Sử, Địa, GDCD) và tổ
hợp các môn Khoa học tự nhiên (Lí, Hóa, Sinh) đều thi theo hình thức trắc
nghiệm khách quan TNKQ. Mặc dù từ năm học 2007-2008 đến nay hình thức
TNKQ đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo sử dụng trong các kì thi tốt nghiệp
bài nhiều, chỉ cần xem khái quát kiến thức rồi dựa vào đáp án có sẵn mà lựa
chọn phương án đúng. Điều này dễ dẫn đến tư tưởng ỉ lại, lười biếng và thiếu sự
chuẩn bị. Đây là một tư tưởng sai lầm, việc làm bài thi dưới dạng TNKQ đòi hỏi
học sinh phải học nhiều, hiểu rõ từng vấn đề, bởi vì kiến thức bài thi thường dàn
trải tất cả chương trình học, nên không thể học “tủ”, mà phải học nhiều, làm
nhiều dạng bài tập khác nhau sẽ giúp ích rất nhiều trong việc làm bài. Và đối với
các bài tập TNKQ không cần phải giải dài dòng mà phải tìm cách giải ngắn nhất
và nhanh nhất. Giải nhanh và chính xác là chìa khóa giúp các em thành công.
b. Phân bổ thời gian khi làm bài
Đối với bài thi TNKQ chúng ta không nên quá tập trung vào một câu hỏi,
bởi vì thời gian dành cho mỗi câu hỏi là rất ít, nếu ta quá tập trung vào một câu
hỏi nào đó thì vô tình ta đã bỏ qua rất nhiều câu hỏi sau.
c. Tập trả lời câu hỏi ngay khi đọc dẫn
Khi đọc câu dẫn thì trong đầu nên có luôn câu trả lời, sau đó ta hãy xem
đáp án nếu đáp án đúng như suy nghĩ thì việc lựa chọn sẽ dễ dàng. Mặt khác
việc trả lời trước khi đọc đáp án sẽ giúp các em không bị “sa” vào những đáp án
gần đúng và việc lựa chọn phương án đúng khi đó sẽ dễ dàng hơn.
d. Nên chú ý đến những câu lựa chọn phương án sai
Ở dạng câu hỏi này các em nên chú ý, bởi vì các đáp án sẽ có nhiều đáp
án đúng và chỉ có một đáp sai nên các em dễ chọn nhầm vào đáp án đúng. Đặc
biệt trong hai phương án đối lập nhau về kiến thức thì chắc chắn có một phương
án sai.
e. Cần phải biết cách quy đổi đơn vị
Đối với các câu hỏi tính toán thì các đáp án thường được quy đổi ra các
đơn vị cho phù hợp, nên học sinh cần phải chú ý đến các thứ nguyên của đơn vị
để lựa chọn phương án đúng.
f. Làm câu dễ trước, câu khó sau và không nên bỏ trống câu trả lời
Trước hết các em cần đọc lướt qua đề, câu nào dễ có thể trả lời ngay, câu
khó thì lướt qua. Sau khi đã trả lời hết các câu dễ thì quay lại các câu khó, và
nếu câu hỏi quá khó mà không thể giải được thì nên lựa chọn đáp án nào mà
hưởng rất lớn đến kết quả bài thi. Do đó, trang bị cho mình một kiến thức vững
vàng, bình tĩnh, tự tin và đừng quá gây áp lực cho bản thân sẽ giúp các em làm
bài hiệu quả hơn.
III. Kết luận
Trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 đối với các môn thi trắc nghiệm
mỗi học sinh có một đề riêng (không giống nhau, nhưng mức độ tương đồng)
theo cấu trúc từ dễ đến khó. Cho nên chúng ta cần trang bị cho các em học sinh
kiến thức chuẩn kỹ năng và kinh nghiệm làm bài để đạt kết quả tốt nhất. Cần
nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên về kĩ thuật xây dựng
ma trận đề và biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan với mục đích:
1. Nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý, giáo viên trung học phổ thông
về kĩ thuật xây dựng ma trận đề và biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan
theo quy trình chuẩn hóa.
2. Nâng cao năng lực cho giáo viên về việc tổ chức hoạt động dạy học và
kiểm tra, đánh giá nhằm phát triển năng lực và phẩm chất học sinh.
Tôi tin tưởng rằng những thay đổi của ngành để phù hợp với quy luật phát
triển của xã hội vì mục tiêu giáo dục toàn diện và lợi ích của học sinh. Chúng ta
nên có tâm thế thật tốt, trang bị cho học sinh một nền tảng kiến thức vững vàng,
bình tĩnh, tự tin thì thi cử sẽ không còn là áp lực đối với mỗi học sinh.
17
Hội thảo “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học của môn Vật lí
trong kì thi THPT Quốc gia”
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH
LÀM BÀI THI TRẮC NGHIỆM MÔN VẬT LÍ ĐẠT KẾT QUẢ CAO
Nguyễn Quí Đạo
Trường THPT Trần Văn Bảy
18
Hội thảo “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học của môn Vật lí
trong kì thi THPT Quốc gia”
trước bài này hoặc phần này mà không có một công việc cụ thể nào cả. Công
việc phải vừa sức để học sinh vui vẻ thực hiện.
1.1.2. Về phía học sinh:
- Phải tuân thủ các yêu cầu của giáo viên.
- Phải chuẩn bị một tâm thế phấn khởi, vui vẻ, sẵn sàng hợp tác với giáo
viên.
Để giúp học sinh đạt được hai yêu cầu trên, giáo viên phải thực sự có tấm
lòng yêu thương học sinh như con em mình, phải cố gắng che giấu cảm xúc
nóng giận khi gặp tình huống không thuận lợi, cố gắng hòa nhã với các em mặc
dù lúc đó có thể các thầy cô đang rất giận. Cũng cần lưu ý là giáo viên cũng
không nên quá cầu toàn, đòi hỏi một sự toàn vẹn ở học sinh, có như thế chúng ta
mới có cảm giác thanh thản khi lên lớp và thầy trò mới có thể hợp tác một cách
vui vẻ, đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp chúng ta thành công trong
công tác giảng dạy.
1.2. Về việc tiến hành ôn tập:
Theo tôi việc ôn tập tiến hành qua 3 giai đoạn chính:
Giai đoạn 1: Tái hiện kiến thức
Ở giai đoạn này, chủ yếu là giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại các kiến
thức cơ bản đã được truyền thụ trước đó. Trong giai đoạn này, giáo viên lên lưu
ý những học sinh thuộc dạng từ yếu tới trung bình yếu.
Đây là giai đoạn đòi hỏi sự nhẫn nại, biết kềm chế cảm xúc nóng giận vì
chắc chắn chúng ta sẽ phải đối diện với những học sinh biếng nhác, thậm chí xấc
xược, nếu không, chính chúng ta sẽ làm hỏng tiết dạy.
Giai đoạn 2: Tái tạo kiến thức
ở các lớp cơ bản thường không cẩn thận ở khâu này, các em coi thường sự dặn
dò của giáo viên bộ môn trước khi đi thi và cả giám thị coi thi trước khi làm bài.
Chính vì tô không đúng qui cách mà các em có thể bị mất điểm với những câu
đã chọn được đáp án đúng, Vì vậy theo chúng tôi, giáo viên bộ môn nên rèn
luyện kĩ thuật tô của học sinh ngay từ các bài kiểm tra thường kì, không cho các
em chọn đáp án theo hình thức gạch chéo mặc dù chúng ta chấm thủ công.
2.2. Về cách phân phối thời gian cho toàn bài thi
2.2.1. Thứ nhất: Thông thường học sinh có thói quen làm bài ngay trên đề
thi và làm hết bài mới bắt đầu tô vào phiếu trả lời. Theo chúng tôi cách làm này
không hợp lý vì sau khi làm xong bài thi thời gian còn lại rất ngắn nên các em tô
vội vàng, dễ bị nhầm lẫn, qui cách tô không bảo đảm. Vì vậy giáo viên bộ môn
nên yêu cầu học sinh nên tô ngay sau khi đã chọn được đáp án của từng câu hỏi.
2.2.2. Thứ hai: Học sinh không nên dừng lại quá lâu ở một câu hỏi vì có
những mã đề, đề thi bắt đầu từ những câu hỏi khó, nếu học sinh dừng lại quá lâu
ở những câu này các em dể bị mất tinh thần và không tận dụng được những câu
dễ phía sau. Vì vậy theo chúng tôi, giáo viên nên hướng dẫn các em làm bài theo
cách sau đây: học sinh nên dùng giấy nháp ghi kết quả đáp án theo hàng ngang
hoặc hàng dọc, câu nào khó bỏ trống tiếp tục ngay câu tiếp theo sao cho trong 30
phút đầu các em có thể đọc được từ câu 1 tới câu cuối. Ví dụ: 1... ; 2A ; 3D ; 4A
; 5... ; 6B ; 7D ; 8B ; 9.... ; ..... Sau đó các em tiếp tục đáo lại bài thi lần 2 và chỉ
cần nhìn vào giấy nháp là các em xác định nhanh những câu chưa làm được,
không phải lật qua lật lại đề thi nhiều lần, đỡ mất thời gian. Quá trình cứ tiếp tục
tương tự cho tới khi kết thúc bài thi.
2.3. Về cách khắc phục khâu chuyển đổi công thức
Theo quan điểm của chúng tôi, có khoảng 60% học sinh rất yếu về khâu
này. Vì vậy, để khắc phục nhược điểm này, giáo viên nên hướng dẫn học sinh
tận dụng máy tính để giải quyết vấn đề.
20