VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN TUẤN ANH
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN TUẤN ANH
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số : 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Võ Đình Toàn
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Tuấn Anh
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật Dân sự
HĐXD
: Hợp đồng xây dựng
LXD
: Luật Xây dựng
NĐ
: Nghị định
TT
: Thông tư
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động đầu tư xây dựng ngày nay là một trong những hoạt động kinh tế phát
triển rất mạnh mẽ và được sự quan tâm của chính quyền các cấp, chiếm một phần cơ
cấu không nhỏ trong các hoạt động kinh tế tại Việt Nam, nhất là trong giai đoạn thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngành xây dựng cơ bản ngày càng có vai trò to lớn
trong việc xây dựng đất nước, hình thành nền kinh tế vững mạnh có chiều sâu. Hợp
đồng xây dựng là một trong những công cụ quan trọng nhằm đạt được điều mong
muốn đó. Hợp đồng là một trong những phương tiện pháp lý chủ yếu để cá nhân, tổ
chức trao đổi lợi ích nhằm thỏa mãn các nhu cầu. Sản phẩm của hoạt động xây dựng
thường có thời gian sử dụng lâu dài, gắn liền với nguồn vốn đầu tư lớn. Do vậy, để
một dự án đầu tư xây dựng vận hành thực sự có hiệu quả về cả chất lượng, sử dụng
hợp lí chi phí đầu tư, yêu cầu đòi hỏi tất yếu là giữa các chủ thể là phải có hợp đồng
xây dựng thoả mãn được nhu cầu lợi ích của các chủ thể và hơn hết là tuân thủ đúng
quy định của pháp luật. Chế định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trở thành
một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật hợp đồng Việt Nam. Điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng chính là sự tạo lập ra quyền và nghĩa vụ giữa các bên giao
kết, là hiệu lực ràng buộc về mặt pháp lý đối với các bên tham gia. Một hợp đồng
được ký kết, nếu không có hiệu lực thì hợp đồng đó chưa thể tạo ra quyền và nghĩa
vụ giữa các bên, chưa ràng buộc các bên với nhau và pháp luật cũng chưa tác động
đến cách xử sự của các bên theo qui định của hợp đồng đó.
Thực tiễn cho thấy vấn đề hiệu lực của hợp đồng xây dựng đã được qui định
khá cụ thể trong Bộ luật Dân sự 2015, Luật Xây dựng 2014. Tuy nhiên, thực tiễn
thực hiện một số quy định về điều kiện hiệu lực hợp đồng xây dựng cũng đã bộc lộ
nhiều bất cập, gây khó khăn cho công tác giải quyết các tranh chấp có liên quan.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu và tìm hiểu pháp luật về điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng xây dựng trở thành một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết nhằm tạo
điều kiện phân tích chỉ ra những điểm mạnh cần phát huy và một số bất cập của
những vướng mắc của thực tiễn áp dụng Pháp lệnh hợp đồng kinh tế theo quy
định hiện hành và đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện lý luận về hợp
đồng kinh tế vô hiệu nhằm nâng cao năng lực áp dụng pháp luật trong lĩnh vực
này;
-
“Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật hiện
hành” - Khoá luận tốt nghiệp của Thạc sỹ Trần Thị Nhường; năm 2010; nội dung
cơ bản là phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật dân sự hiện hành về điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự và hậu quả pháp lý của việc không tuân thủ
2
các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự.
Ngoài ra còn có một số sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu có liên quan
tới một số khía cạnh pháp lý của vấn đề hiệu lực hợp đồng, như “Chế định hợp
đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam” của TS. Nguyễn Ngọc Khánh - Nxb. Tư
pháp, xuất bản năm 2007; “Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận bản
án”, của TS. Đỗ Văn Đại - Nxb. Chính trị Quốc gia, xuất bản năm 2014, nội dung
chính là đưa ra các bản án liên quan đến hợp đồng và bình luận, rút ra những nhận
xét pháp lý về các bản án đó. Một số công trình nghiên cứu về vấn đề hiệu lực của
hợp đồng mà tác giả nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến như:“Báo cáo phúc trình đề
tài hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng” của Bộ Tư pháp năm 2002;
“Báo cáo tổng kết thực hiện Luật dân sự 2005” của Bộ Tư pháp năm 2009.
Đề tài mà tác giả lựa chọn về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng là
chủ đề không quá mới, nhưng các tài liệu, bài báo, công trình nghiên cứu viết về vấn đề
này mới chỉ là những nghiên cứu chung về điều kiện hiệu lực của hợp đồng. Các chủ
đề chuyên sâu về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng trong thời gian gần đây
theo tác giả tìm hiểu là chưa có sách chuyên khảo hay công trình nghiên cứu nào cụ thể
Chỉ ra thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về điều kiện có hiệu
lực của hợp đồng xây dựng ở Việt Nam;
-
Chỉ ra một số bất cập, đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả thực hiện pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu đối tượng là các vấn đề pháp lý liên quan đến điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng theo pháp luật của Việt Nam được quy
định tại các văn bản pháp luật như: Bộ luật Dân sự 2015, Luật Xây dựng 2014, Luật
Thương mại 2005 và các văn bản pháp lý liên quan đến hợp đồng xây dựng hiện
hành. Đề tài không nghiên cứu các vấn đề liên quan tới vấn đề kinh tế - xã hội, văn
hóa, truyền thống, trừ khi tác giả Luận văn chủ động đề cập tới nhằm mục đích
nghiên cứu nói trên.
Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi pháp luật hiện hành ở Việt Nam mà
không nghiên cứu sâu về lịch sử của lĩnh vực pháp luật này trừ khi cần xử lý những
thông tin liên quan để đáp ứng mục đích nghiên cứu của đề tài theo sự lựa chọn của
tác giả Luận văn. Phạm vi nghiên cứu của tác giả trong luận văn chủ yếu về điều
kiện có hiệu lực của các hợp đồng thi công xây dựng trong lĩnh vực xây dựng nói
chung, không đi sâu vào phân tích về từng loại hợp đồng xây dựng (như hợp đồng
sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước theo mẫu Thông tư 09/2016/TT-BXD, mẫu
hợp đồng xây dựng FIDIC...). Luận văn tập trung nghiên cứu về các hợp đồng xây
dựng có đối tượng là các công trình xây dựng trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Thời
gian nghiên cứu là đối với các hợp đồng xây dựng được giao kết sau thời điểm Luật
Xây dựng 2014, Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực thi hành.
tham khảo. Phần nội dung của đề tài được kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật về hợp đồng xây dựng, điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng xây dựng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tế thi hành pháp luật về điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng xây dựng ở Việt Nam.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp luật
về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ
HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG, ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC
CỦA HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG
1.1. Khái quát về hợp đồng xây dựng và điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
xây dựng
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng xây dựng
a)
Khái niệm
Trong xã hội hiện đại, hợp đồng là phương tiện pháp lý phố biến để các chủ
thể thực hiện giao dịch nhằm phục vụ mục đích trong xã hội. Ở Việt Nam, trước đây
hợp đồng được thể hiện dưới các dạng thuật ngữ như khế ước, văn tự, cam kết...,
được định nghĩa trong Bộ Dân Luật Bắc và Dân Luật Trung. Lấy ví dụ khế ước
được định nghĩa là một hợp ước của một người hay nhiều người cam kết với một
giao thầu có nghĩa vụ giao cho bên nhận thầu các số liệu, tài liệu, yêu cầu về khảo
sát, thiết kế, mặt bằng xây dựng, vật liệu xây dựng và vốn đầu tư đúng tiến độ, đồng
thời có nghĩa vụ nghiệm thu và thanh toán khi công trình hoàn thành từng phần
hoặc toàn bộ” [39, tr.402]. Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Luật Xây dựng
2014 thì: “Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thỏa thuận bằng văn bản
giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc
trong hoạt động đầu tư xây dựng”.
Tuy nhiên, việc định nghĩa hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự cũng chưa
thực sự chính xác. Trong chế độ hợp đồng kinh tế của pháp lệnh hợp đồng kinh tế,
hợp đồng xây dựng là một chủng loại hợp đồng kinh tế. Hiện nay, pháp lệnh hợp
đồng kinh tế hết hiệu lực, từ khi có Luật Thương mại 2005, hợp đồng xây dựng
cũng được xem là một loại hợp đồng thương mại. Cụm từ “dân sự” kèm theo khái
niệm “hợp đồng” mà Luật Xây dựng 2014 định nghĩa là không thực sự hợp lý, bởi
lẽ, thuật ngữ “dân sự” vừa có thể được hiểu theo nghĩa rộng, nhưng cũng vừa có thể
được hiểu theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, khái niệm “dân sự” bao hàm cả các lĩnh
vực khác, như lĩnh vực dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân, gia đình (với nghĩa
không bao gồm quan hệ công). Còn theo nghĩa hẹp, khái niệm “dân sự” chỉ được
dùng trong các quan hệ dân sự (để phân biệt với các quan hệ pháp luật khác: hình
7
sự, hành chính…). Vì vậy, để đảm bảo tính chuẩn xác, Quốc hội đã bỏ cụm từ “dân
sự” trong định nghĩa hợp đồng tại Điều 388 BLDS 2005 và thay thế thành quy định
tại điều 385 BLDS 2015.
Như vậy, từ bản chất có thể đưa ra khái niệm hợp đồng xây dựng là: sự thoả
thuận bằng văn bản giữa Bên giao thầu và Bên nhận thầu về việc xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng để thực hiện toàn
bộ hay một số công việc trong hoạt động xây dựng, có giá trị pháp lý ràng buộc về
quyền và nghĩa vụ của các bên.
b)
Thứ hai, hợp đồng xây dựng nhằm tạo ra sự ràng buộc pháp lý giữa các bên.
Một sự thỏa thuận không phải là hợp đồng, nếu không tạo nên hiệu lực ràng
buộc giữa các bên. Bởi vậy, dấu hiệu thứ hai thể hiện bản chất của hợp đồng xây
dựng là sự thỏa thuận giữa các bên phải nhằm tạo ra một sự ràng buộc pháp lý, tức
là tạo ra các quyền và nghĩa vụ ngoài những quyền và nghĩa vụ luật định, hoặc làm
thay đổi hay chấm dứt các quyền, nghĩa vụ ấy. Một sự thỏa thuận mang tính chất xã
giao hoặc một lời hứa thực hiện công việc xây dựng nào đó không phải là hợp đồng
xây dựng vì các thỏa thuận này không tạo ra sự ràng buộc quyền và nghĩa vụ pháp
lý giữa các bên và không thể bị áp dụng chế tài dân sự như trường hợp vi phạm hợp
đồng.
Tóm lại, mọi hợp đồng đều là sự thỏa thuận giữa các bên, nhưng không phải
sự thỏa thuận nào của các bên cũng là hợp đồng. Chỉ những thỏa thuận tạo ra một
sự ràng buộc pháp lý về quyền và nghĩa vụ mới được coi là hợp đồng. Bởi vậy, sự
thỏa thuận và sự tạo ra một ràng buộc pháp lý là hai dấu hiệu cơ bản tạo nên bản
chất của hợp đồng xây dựng.
c)
Đặc điểm của hợp đồng xây dựng
Hợp đồng xây dựng là loại hợp đồng phức tạp, mang nhiều đặc điểm riêng biệt
như sau:
Thứ nhất, mặc dù được định nghĩa là loại hợp đồng dân sự nhưng hợp đồng
xây dựng lại chứa đựng nhiều yếu tố thương mại bởi lẽ hợp đồng xây dựng cũng
mang bản chất của hoạt động thương mại, đó là mục đích lợi nhuận của ít nhất một
bên trong hợp đồng.
Thứ hai, đối tượng và nội dung công việc của hợp đồng xây dựng có quy mô
lớn, thời gian thực hiện kéo dài. Đối tượng của hợp đồng xây dựng thường là các
công trình xây dựng có quy mô to lớn hơn nhiều, đòi hỏi nhiều hạng mục hơn gấp
9
10
giống như đối với các hợp đồng khác.
Thứ sáu, việc thực hiện hợp đồng xây dựng công trình chịu sự chi phối, điều
chỉnh của rất nhiều các văn bản pháp luật liên quan chặt chẽ đến nội dung công việc
của hợp đồng do đối tượng công việc của hợp đồng xây dựng rất phong phú và đa
dạng như tư vấn, thiết kế, thi công, lắp đặt... Bên cạnh việc phải tuân thủ các
nguyên tắc chung về thực hiện hợp đồng xây dựng quy định trong Luật Xây dựng
2014 thì hợp đồng xây dựng còn phải tuân thủ các nguyên tắc điều chỉnh riêng đối
với từng loại đối tượng tại các văn bản hướng dẫn như Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư
công, Luật Ngân sách Nhà nước, NĐ 37/2015/NĐ-CP, TT 09/2016/TT-BXD v.v.
Thứ bảy, việc thanh toán và quyết toán hợp đồng xây dựng diễn ra trong nhiều
giai đoạn, nhiều quy trình, và phải tuân theo trình tự, thủ tục luật định, đặc biệt là
đối với những công trình xây dựng có nguồn vốn ngân sách nhà nước. Đây là đặc
điểm rất đặc trưng bởi lẽ không giống như hợp đồng mua bán hàng hóa, hàng hóa
trao tay thì bên mua thanh toán hết giá trị hợp đồng. Hợp đồng xây dựng có giá trị
lớn, mất nhiều thời gian thực hiện nên việc thanh, quyết toán thường sẽ được chia
thành nhiều đợt, ngoài ra, còn các vấn đề liên quan đến thanh, quyết toán như thời
hạn, hồ sơ thanh quyết toán (bao gồm hồ sơ hoàn công, các loại quyết toán A-B v.v)
là rất nhiều những nội dung cần được quy định chi tiết trong hợp đồng xây dựng.
1.1.2. Những vấn đề chung về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng
1.1.2.1. Khái niệm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng
Khi xét tới bất kể một vấn đề pháp lý nào, hiệu lực luôn là yếu tố cần được
quan tâm hàng đầu, là điều kiện tiên quyết được đặt ra trước khi xem xét các nội
dung pháp lý khác. Một hợp đồng trong bất kể lĩnh vực nào cũng vậy sẽ chỉ tồn tại
quan hệ hợp đồng giữa các bên nếu như hợp đồng đó đáp ứng được các yêu cầu về
điều kiện có hiệu lực. Tuy nhiên, việc định nghĩa chính xác về điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng chưa được ghi nhận trong bất kỳ tài liệu nào trên thế giới, chỉ có các
đặt ra. Chính vì lẽ đó dưới bất kể hình thức pháp luật nào, giới hạn về quyền tự do ý
chí cũng được đặt ra, đó chính là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng.
Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng là một khía cạnh khi bàn về hiệu lực
của hợp đồng xây dựng. Dựa vào bản chất hiệu lực hợp đồng đã phân tích ở trên,
chúng ta có thể hiểu điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng là những yêu cầu
12
pháp lý nhằm đảm bảo cho hợp đồng xây dựng được xác lập hợp pháp và có hiệu
lực ràng buộc đối với các bên, nhằm đáp ứng được mục đích, mong muốn của các
bên chủ thể tham gia.
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây
dựng là: “tổng hợp những yêu cầu pháp lý để hợp đồng xây dựng được lập được
pháp luật thừa nhận và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên”. Pháp luật
Việt Nam quy định hợp đồng xây dựng phải tuân thủ các điều kiện về chủ thể, nội
dung, mục đích, sự tự nguyện và hình thức của hợp đồng để đảm bảo hợp đồng
được giao kết hợp pháp. Đây chính là các điều kiện để hợp đồng xây dựng có hiệu
lực. Hợp đồng xây dựng được giao kết hợp pháp mới có hiệu lực pháp luật để ràng
buộc được quyền, nghĩa vụ của các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực xây dựng.
1.1.2.2. Ý nghĩa của điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng trong quan hệ
hợp đồng xây dựng
Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng trong quan hệ hợp đồng xây
dựng là tiền đề pháp lý để hợp đồng có hiệu lực. Theo đó, chỉ khi hợp đồng xây
dựng được xác lập, giao kết đáp ứng những điều kiện pháp lý cụ thể thì hợp đồng
xây dựng đó mới có hiệu lực. Những điều kiện này, như đã đề cập ở trên, bao gồm
các điều kiện về chủ thể, nội dung, mục đích, sự tự nguyện và hình thức của hợp
đồng xây dựng. Nếu một hợp đồng xây dựng không đáp ứng được một hoặc một số
các điều kiện có hiệu lực đó, thì hợp đồng này đương nhiên vô hiệu hoặc có thể bị
vô hiệu theo phán quyết của cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, các điều kiện có hiệu
lực của hợp đồng xây dựng mang nhưng ý nghĩa như sau:
cao ý thức thực hiện pháp luật của các chủ thể.
Thứ ba, hợp đồng xây dựng được hình thành khi đáp ứng đủ các điều kiện về
hiệu lực giúp góp phần ổn định quan hệ dân sự, quan hệ kinh tế và quan hệ xã hội.
Các chủ thể khi tham gia quan hệ hợp đồng xây dựng đáp ứng đầy đủ các điều kiện
luật định sẽ nghiêm túc thực hiện các nội dung đã thoả thuận. Trường hợp một bên
vi phạm quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng sẽ khiến cho hợp
đồng bị vô hiệu. Bên vi phạm sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi và
phải bồi thường cho bên bị vi phạm. Qua đó, pháp luật đã tạo thái độ nghiêm túc
cho các chủ thể, từ đó hình thành sự bình đẳng, công bằng trong các giao dịch dân
14
sự, kinh tế và hơn thế nữa là sự ổn định cân bằng cho toàn xã hội.
1.2. Khái quát pháp luật và nguồn luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
xây dựng
1.2.1. Khái quát pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng
Các điều kiện bắt buộc để hợp đồng có hiệu lực là những yêu cầu pháp lý phải
được tuân thủ khi xác lập, giao kết hợp đồng mà nếu thiếu các điều kiện đó thì hợp
đồng đương nhiên vô hiệu hoặc có thể bị vô hiệu. Hầu hết các hệ thống pháp luật
trên thế giới đều xem các điều kiện về chủ thể, nội dung và ý chí tự nguyện của các
bên tham gia hợp đồng, hình thức hợp đồng là những yêu cầu pháp lý bắt buộc phải
tuân thủ khi xác lập các loại hợp đồng, kể cả hợp đồng xây dựng. Đây là tiền đề
pháp lý nhằm đảm bảo cho hợp đồng xây dựng được xác lập có hiệu lực ràng buộc
đối với các bên chủ thể.
Theo quy định tại Điều 117 BLDS 2015, điều kiện có hiệu lực của giao dịch
dân sự gồm: chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp
với giao dịch dân sự được xác lập; chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự
nguyện; mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của
luật, không trái đạo đức xã hội. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì hình
danh. Đối với nhà thầu chính nước ngoài, phải có cam kết thuê thầu phụ trong nước
thực hiện các công việc của hợp đồng dự kiến giao thầu phụ khi các nhà thầu trong
nước đáp ứng được yêu cầu của gói thầu;
Chủ đầu tư hoặc đại diện của chủ đầu tư được ký hợp đồng với một hay
nhiều nhà thầu chính để thực hiện công việc. Trường hợp chủ đầu tư ký hợp đồng
với nhiều nhà thầu chính thì nội dung của các hợp đồng này phải bảo đảm sự thống
nhất, đồng bộ trong quá trình thực hiện các công việc của hợp đồng để bảo đảm tiến
độ, chất lượng, hiệu quả đầu tư của dự án đầu tư xây dựng;
Tổng thầu, nhà thầu chính được ký hợp đồng với một hoặc một số nhà thầu
phụ, nhưng các nhà thầu phụ này phải được chủ đầu tư chấp thuận, các hợp đồng
thầu phụ này phải thống nhất, đồng bộ với hợp đồng thầu chính đã ký với chủ đầu
tư. Tổng thầu, nhà thầu chính phải chịu trách nhiệm với chủ đầu tư về tiến độ, chất
lượng các công việc đã ký kết, kể cả các công việc do nhà thầu phụ thực hiện.
16
Giá ký kết hợp đồng không được vượt giá trúng thầu hoặc kết quả đàm
phán, thương thảo hợp đồng xây dựng, trừ khối lượng phát sinh ngoài phạm vi công
việc của gói thầu được Người có thẩm quyền quyết định đầu tư cho phép.
1.2.2. Nguồn luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng
Pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tại một số quốc gia trên thế
giới được quy định như sau:
Quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự của
Pháp, hợp đồng được thừa nhận là có hiệu lực thì phải thỏa mãn bốn điều kiện chủ
yếu quy định tại Điều 1108 đó là các bên giao kết hợp đồng phải hoàn toàn tự
nguyện (các trường hợp giao kết hợp đồng không được coi là tự nguyện khi hợp
đồng giao kết do nhầm lẫn; do bị lừa dối và giao kết do bị đe doạ); các bên giao kết
phải có năng lực hành vi dân sự để giao kết hợp đồng; đối tượng và nội dung chủ
yếu của hợp đồng phải xác định (tức nếu đối tượng hợp đồng là vật thì vật phải còn
tồn tại; nếu đối tượng là hành vi thì hành vi phải có khả năng thực hiện được); mục
thực đó. Nếu một hành vi pháp lý có ý định nhằm che đậy một hành vi pháp lý khác,
thì những quy định của pháp luật về che đậy hành vi sẽ được áp dụng”; Điều 108
Luật dân sự Nhật Bản cũng quy định: “Việc tuyên bố ý chí giả tạo được tiến hành
với sự câu kết của bên kia là không có ý nghĩa và bị vô hiệu”. Về quy định hợp
đồng vô hiệu do trái pháp luật và đạo đức, xã hội, Điều 113 Bộ luật dân sự và
Thương mại Thái Lan quy định: “Một hành vi pháp lý bị coi vô hiệu nếu mục tiêu
của nó rõ ràng bị pháp luật ngăn cấm hoặc không thể thực hiện được hoặc trái với
trật tự công cộng hoặc trái với đạo đức”; Điều 90 của BLDS Nhật Bản quy định:
“Các hành vi pháp lý nhằm thực hiện những việc trái với trật tự công cộng và trái
với đạo đức bị coi là vô giá trị và không có hiệu lực”; Điều 1133 BLDS của Cộng
hoà Pháp quy định: “Căn cứ là bất hợp pháp khi bị pháp luật cấm, trái với thuần
phong mỹ tục hoặc trật tự công cộng”. Đối với quy định điều kiện về hình thức của
hợp đồng, Bộ luật Dân sự và thương mại của Thái Lan quy định: “Một hành vi
pháp lý không theo đúng hình thức quy định của pháp luật thì vô hiệu”. Hoặc như
quy định về hợp đồng khi giao kết phải thoả mãn điều kiện chủ thể không bị đe doạ
tại Điều 126 Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan quy định: “Để có thể khiến
18
một hành vi bị vô hiệu, sự cưỡng bức phải đến mức mà nó gây ra cho người bị tác
động, bởi sự cưỡng bức đó, nỗi lo sợ có cơ sở về thiệt hại xảy ra cho bản thân và
gia định hoặc tài sản của người đó, rằng nó sắp xảy ra đến nơi và tương đương, ít
nhất, với sự thiệt hại mà người đó lo sợ từ hành vi bị ép buộc”. Như vậy, có thể
nhận thấy khi xây dựng pháp luật về hợp đồng, các quốc gia đều quan tâm đến vấn
đề các điều kiện để xác định hợp đồng có hiệu lực cũng như các tiêu chí để xác định
hợp đồng vô hiệu nhằm bảo đảm lợi ích của các chủ thể tham gia giao dịch, ổn định
trật tự trong giao lưu dân sự, ổn định các quan hệ xã hội được pháp luật bảo hộ.
Ở Việt Nam, pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng là một
lĩnh vực pháp luật được quy định ở nhiều văn bản luật khác nhau. Điều kiện có hiệu
lực của hợp đồng xây dựng thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2015 do