PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆT TRÌ
TRƯỜNG TIỂU HỌC BẠCH HẠC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
VẦN Ở LỚP 1”
Người thực hiện:
Vò ThÞ Ninh
Chức vụ: Giáo viên
Chuyên môn: Đại học Tiểu học
Việt Trì, Tháng 10 năm 2012
MỤC LỤC
TT
Nội dung
Trang
1
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang số 1-3
2
Trang số 4
Trang số 4-9
2
Trang số 19
Trang số 20-21
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi
hỏi phải có những người chủ nhân tương lai vừa giỏi về chuyên môn vừa có
năng lực tư duy, vừa có nhân cách tốt mà ngành giáo dục chủ trương thay đổi
chương trình và sách giáo khoa đòi hỏi người giáo viên phải tiếp cận nội dung
và phương pháp dạy học mới để nâng cao chất lượng đào tạo. Môn Tiếng việt
và phân môn Học vần không nằm ngoài qui luật đó.
Học vần là môn học khởi đầu giúp cho học sinh chiếm lĩnh một công cụ mới
để sử dụng trong học tập và giao tiếp.
Tầm quan trọng của học vần chịu sự qui định bởi tầm quan trọng của chữ
viết trong hệ thống ngôn ngữ. Nếu chữ viết được coi là phương tiện ưu thế nhất
trong giao tiếp thì học vần có một vị trí quan trọng không thể thiếu được trong
chương trình môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học.
Cùng với Tập viết, Học vần có nhiệm vụ lớn lao là trao cho các em chìa
khóa để vận dụng chữ viết vào học tập. Khi biết đọc, biết viết các em có điều
kiện nghe lời thầy giảng trên lớp, sử dụng sách giáo khoa, sách tham khảo… từ
đó có điều kiện học tốt các môn học khác trong chương trình.
Chúng ta đều nhận thức sâu sắc rằng môn Tiếng Việt ở tiểu học rèn luyện
cho học sinh 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Song mục tiêu của dạy và học
Tiếng việt ở lớp 1 là đem lại cho các em kĩ năng đọc đúng, viết đúng. Quá trình
phụ âm, thanh điệu cùng các chữ ghi âm và các dấu ghi thanh. Luyện cho các
em kĩ năng ghép âm thành vần, ghép vần thành tiếng và phát âm đúng. Luyện
cho học sinh viết đúng qui cách, bước đầu viết đúng chính tả và viết đẹp. Thông
qua giờ học vần, học sinh mở rộng được vốn từ cần thiết làm giàu vốn từ cho cá
nhân.
Học vần, Tập đọc giúp trẻ đọc thông, Tập viết giúp trẻ viết thạo. Hai kĩ
năng này có quan hệ mật thiết với nhau. Học vần là phân môn có tính chất thực
hành, thể hiện rõ ở từng bài học. Học bài nào học sinh phải nhận dạng, đọc, viết
ngay từ đầu. Ngoài ra Học vần còn bồi dưỡng tình cảm đẹp thông qua các bài
học.
4
Về thực trạng dạy học phân môn Học vần ở tiểu học: Trong những năm gần
đây, nước ta đang tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế. Để thực hiện điều này thì
yếu tố đầu tiên không thể thiếu dẫn đến thành công là tri thức con người. Chính
vì vậy Bộ Giáo Dục đã quyết định đổi mới sách giáo khoa. Đó là việc làm hoàn
toàn đúng để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy- học. Việc đổi mới sách giáo
khoa Tiếng Việt 1 cho ta các hình ảnh minh họa đẹp, sách in 4 màu tươi sáng,
tranh sinh động. Các âm vần mới ghi bằng màu khác phân biệt, nổi rõ nên dễ
nhìn, dễ nhớ.
Hệ thống chữ cái thay đổi cũng cho ta biểu tượng về dáng chữ thanh, đẹp
hơn, hầu như trở về nét chữ truyền thống.
Song việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa làm cho học sinh và giáo
viên gặp một số khó khăn nhất định trong thời gian đầu dạy-học :
Đối với giáo viên: trước đây thường dạy theo chương trình công nghệ, cải
cách giáo dục nay lại theo chương trình mới nên việc nhanh chóng xóa bỏ nếp
cũ, thay vào nắm bắt và thực hiện phương pháp dạy học mới gặp không ít khó
khăn.
Mẫu chữ cũng thay đổi: các nét khuyết cao 5 li( vở Tập viết ) các chữ mẫu
Triết học Mác-Lênin là cơ sở quyết định phương hướng chung của
phương pháp dạy học Tiếng Việt. Theo Lê-nin:“ Ngôn ngữ là phương tiện giao
tiếp quan trọng nhất của loài người”. Không có ngôn ngữ xã hội không thể tồn
tại được. Mục đích nghiên cứu ngôn ngữ trong nhà trường phải là cho học sinh
có thể sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện sắc bén để giao tiếp. Vì vậy phát triển
lời nói là nhiệm vụ quan trọng nhất của dạy “tiếng” trong nhà trường.
Tất cả các giờ dạy Tiếng Việt, kể cả dạy đọc, dạy viết hay nghiên cứu từ
ngữ, ngữ pháp đều phải đi theo khuynh hướng này. Các em cần hiểu rõ: Người
ta nói và viết không chỉ để cho mình mà còn để cho người khác nên ngôn ngữ
cần chính xác, rõ ràng, đúng đắn, dễ hiểu. Đồng thời vì ngôn ngữ là phương tiện
giao tiếp nên phải lấy hoạt động giao tiếp làm phương tiện để dạy và học Tiếng
Việt .
Ngôn ngữ luôn gắn bó với tư duy:“ Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư
tưởng”( C.Mac). Ngôn ngữ là phương tiện của nhận thức lô-gic, lí tính. Tư duy
6
của con người không thể phát triển nếu thiếu ngôn ngữ. Việc chiếm lĩnh ngôn
ngữ nhằm tạo ra tiền đề phát triển tư duy. Từ đây người ta rút ra kết luận có tính
chất phương pháp: kiến thức, kĩ năng, ngôn ngữ phải được xem xét như là yếu
tố của phát triển tư duy, các hệ thống dạy học Tiếng Việt cần đảm bảo mối liên
hệ giữa lời nói và tư duy. Phải thường xuyên luyện tập cho học sinh có kĩ năng
diễn đạt tư tưỏng của mình bằng những hình thức khác nhau. Lời nói cần có nội
dung đó chính là tư duy. Trong dạy tiếng có thể đi từ tư duy đến ngôn ngữ.
Nhận thức luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin dạy rằng: Con đường biện
chứng của nhận thức chân lí đi qua giai đoạn nhận thức cảm tính và nhận thức lí
tính. Đây là cơ sở của nguyên tắc trực quan trong dạy tiếng và là cơ sở để lên
nguyên tắc phải tính đến đặc điểm tiếng mẹ đẻ của học sinh trong quá trình dạy
học Tiếng Việt.
Đứa trẻ bắt đầu nhận thức thế giới xung quanh bằng cảm tính: mắt, tai gắn
khác nhau tạo điều kiện cho học sinh học viết, vừa viết vừa kết hợp với mắt
nhìn, tai nghe. Bên cạnh đó ý thức về không gian của các em cũng bắt đầu hình
thành.
Nói tóm lại, những đặc điểm tâm lí trên cho ta thấy học sinh lớp 1 có đầy
đủ các điều kiện để học chữ, học vần. Để cho hoạt động này có thể phát triển
tốt, cần tạo ra những mục đích, động cơ thích hợp với học sinh. Mặt khác, học
vần nhằm tạo ra những kĩ năng và thói quen do đó các hoạt động phải được lặp
đi lặp lại, nghĩa là học sinh phải được đọc nhiều và viết nhiều, đồng thời nội
dung đọc, viết phải thay đổi và luôn thay đổi để tạo ra hứng thú học tập ở học
sinh. Ngoài ra khi dạy cũng cần phải chú ý bằng cách nào giúp các em hiểu điều
đã học, đã viết dù ở mức độ sơ giản nhất.
3. Cơ sở ngôn ngữ học
Đặc trưng loại hình Tiếng việt là ngôn ngữ đơn lập thể hiện rất rõ ở mặt
ngữ âm, là ngôn ngữ có thanh điệu và hệ thống 6 thanh. Mặt khác trong Tiếng
Việt các tiếng, các âm tiết hầu hết đều có nghĩa, ranh giới rõ ràng trên ngữ điệu.
Nói rời từng âm, viết rời từng chữ tạo điều kiện cho việc dạy âm và dạy chữ cho
học sinh.
8
Ở lớp 1 chọn đơn vị tiếng là đơn vị cơ bản để dạy học sinh đọc, viết. Âm
tiết Tiếng Việt có cấu trúc theo hai bậc:
Âm đầu
Vần
Âm đệm Âm chính Âm cuối
Trong âm tiết có hai thành phần không thể vắng là âm chính và thanh điệu.
Khi dạy học vần bao giờ cũng dạy ghép vần trước rồi mới ghép âm đầu và
thanh điệu để rút ngắn thời gian học đọc.
; h – k - kh
Chỉ yêu cầu các em viết tiếng, chữ các em đã biết.
Về phương pháp dạy học: Chương trình mới chú ý đến quan điểm giao
tiếp. Trong một bài học vần phải dạy trẻ cả 4 kĩ năng: Nghe- nói- đọc- viết. Các
phương pháp chủ yếu trong dạy Học vần là:
Phương pháp trực quan:
Học sinh quan sát vật thật, tranh ảnh hoặc quan sát việc làm của giáo viên.
Có khi các em còn được nghe giọng nói, khuôn miệng của giáo viên khi phát
âm hoặc đánh vần mẫu. Phương pháp này có tác dụng trong giới thiệu bài mới
hoặc trong phần luyện tập nhằm giúp học sinh tiếp thu kiến thức mới dễ dàng
hơn cũng như củng cố sâu sắc âm, vần đã học.
Phương pháp phân tích-tổng hợp: là phương pháp mà giáo viên tách các
hiện tượng ngôn ngữ theo cấp độ và khi đó gọi là phương pháp phân tích.
Ví dụ: lá sen
sen
en.
Và ngược lại là tổng hợp: ghép các yếu tố ngôn ngữ đã được tách trở lại dạng
ban đầu.
Ví dụ:
en
sen
lá sen.
Phương pháp hỏi đáp: giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi và học sinh trả
lời các câu hỏi đó để tìm ra tri thức mới. Phương pháp này có tác dụng giúp học
sinh tìm hiểu bài mới một cách tích cực, chủ động, thuộc bài nhanh hơn và hứng
10
11
Bộ đồ dùng Học vần vỏ bìa cứng, bóng, chữ in một mặt có gạch chân chữ
để học sinh dễ nhận đúng chiều của con chữ nên sử dụng rất dễ dàng, thuận tiện
cho cả quá trình dạy của giáo viên và học tập của học sinh.
Về mẫu chữ: Mẫu chữ đã cải tiến, có nhiều nét trở về nét chữ truyền thống
rất đẹp. Bảng mẫu chữ viết thường, viết hoa có đầy đủ, sử dụng thuận tiện, song
đây cũng là khó khăn cho những giáo viên đã quen viết chữ cải cách.
Về tranh minh họa: tranh minh họa chủ yếu là ở trong sách giáo khoa, học
sinh quan sát tranh thuận tiện.
1.2. Về tài liệu dạy học
Để dạy Học vần, tài liệu chính thống và cơ bản nhất là sách giáo khoa
Tiếng Việt 1. Theo chương trình mới, kênh hình chiếm ưu thế hơn kênh chữ rất
nhiều. Nhìn chung các hình vẽ đẹp, minh họa rõ ràng, chữ rõ, dễ phân biệt được
các âm vần mới học.
Phần luyện nói: Chương trình mới không chỉ chú ý tới cung cấp kiến thức
mà còn chú trọng rèn kĩ năng và khả năng sáng tạo, diễn đạt ngôn ngữ ở trẻ.
Sách dành một phần bài học cho các chủ đề luyện nói. Theo các câu hỏi gợi ý,
các em có thể tự mình trò chuyện, trao đổi xung quanh chủ đề. Các chủ đề
thường là rất gần gũi với đời sống của trẻ.Cùng với sách giáo khoa, tài liệu cơ
bản để giáo viên định hướng mục tiêu, phương pháp tiến hành giờ học là sách
giáo viên.
Sách giáo viên Tiếng Việt 1 gợi ý rõ ràng, tỉ mỉ các hình thức tổ chức dạy
học ở từng bài cụ thể, giáo viên có thể tham khảo để đạt mục tiêu giờ học.
Vở bài tập Tiếng Việt là tài liệu học tập không yêu cầu bắt buộc nhưng đối
với những trường dạy hai buổi/ngày thì sử dụng vở bài tập lại hợp lí. Các bài
tập phong phú, có chất lượng tốt.
1.3. Về hoạt động dạy học
Về hoạt động dạy của giáo viên: Trong thực tế, không ở cấp học nào mà
ngang.
Hoặc ở bài 6: Tranh minh họa quả dưa hấu vỏ mầu đen, cây cọ mầu đỏ
vàng, quả dừa mầu tím. Như vậy không đảm bảo tính thực tiễn mặc dù việc
chọn mầu đồ vật cùng với dấu thanh là dụng ý của tác giả.
13
Việc xắp xếp các nội dung bài học hợp lí song trang 103 bài học âm và vần
thì còn có các vần khó mà sách không đưa vào dạy.
Khi dạy tập đọc phần sau hoặc nhiều lúc gặp nhiều các tiếng chứa vần như
vậy các em không tự đọc được, giáo viên phải hướng dẫn cách đọc hoặc phải
giải thích cho các em.
Một số từ mới có tính chất là đặc trưng của vùng miền, học sinh chưa được
làm quen, giáo viên cũng gặp nhiều khó khăn khi giải thích:
Ví dụ: từ “phố xá”, “công viên”.
Thực tế giáo viên phải dùng tranh ảnh, lời nói để giúp học sinh hiểu vì các
từ đó không gần gũi với đời sống trẻ ở nông thôn. Phần chữ mẫu viết thường
trong sách giáo khoa nhìn chung đẹp, mẫu mực song có một số chữ không
thống nhất với vở tập viết.
Ví dụ: Bài 2 đến bài 7: sách viết: be, bê, ve.
Vở viết: be, bê.
Chữ: i, y, u, ư điểm đặt bút ở sách là dưới kẻ ngang 2
điểm đặt bút ở vở Tập viết là trên kẻ ngang 2.
Vở Tập viết một số chữ in lệch dòng dẫn đến học sinh cũng bắt trước máy
móc.
Về phần luyện nói: tôi thấy yêu cầu luyện nói trong các bài học là hơi cao.
Một số chủ đề học sinh ở nông thôn không thảo luận được hoặc thảo luận ít hiệu
quả như chủ đề:
Xiếc, múa rối, ca nhạc (Bài 80)
Chúng em đi du lịch( Bài 82).
Ở lớp 1, trình độ nhận thức của các em không đồng đều, chưa quen môi
trường giáo dục nhà trường. Nhiều em vào học lớp 1 còn ngọng ảnh hưởng
nhiều tiếng địa phương. Ở trường, lớp chúng tôi còn nhiều em phát âm sai:
l- n
uya – uê (đêm khuya - đêm khuê)
uyên – uên (thuyền – thuền) ; uyêt – uêt (quyết – quết)
ưu – iu (hưu – hiu).
15
Từ việc học sinh phát âm tiếng địa phương dẫn đến viết chính tả, nhất là
phần nghe đọc còn nhiều em viết sai.
Từ những cơ sở lí luận và thực trạng trên, tôi mạnh dạn tìm hiểu nghiên
cứu đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả giờ học vần nhằm góp phần nhỏ bé
giúp các bạn đồng nghiệp tham khảo, có thể nâng cao chất lượng giờ dạy Học
vần lớp 1.
3. Nguyên nhân của khó khăn
Trường Tiểu học Bạch Hạc là địa bàn vùng ven thành phố; trường có 18
lớp, mỗi năm trường đón nhận gần 500 học sinh. Cách thành phố gần 10km
thuộc vùng nông thôn nên cơ sở vật chất chưa được khang trang. Học sinh ở rải
rác nhiều khu, một số em do thiếu sự quan tâm của gia đình nên khó khăn trong
việc học tập. Do đó cũng góp phần ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục.
Đối với lớp tôi chủ nhiệm, phụ huynh học sinh thuộc nhiều ngành nghề
khác nhau phần lớn đi tàu thuyền, không có thời gian dạy dỗ con cái, còn phó
thác việc học hành cho nhà trường và giáo viên chủ nhiệm.
Học sinh ở một số em phát âm chưa chuẩn, còn ngọng giữa l/n, uya/ uê,.
do chịu ảnh hưởng tiếng địa phương dẫn đến đọc sai, viết sai chính tả.
Từ các nguyên nhân trên, ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát
chất lượng học tập của học sinh của lớp 1B tôi chủ nhiệm và thu được kết quả
như sau:
1. Đổi mới các phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học lớp 1 chủ yếu dựa vào hệ thống tranh minh họa trong
sách giáo khoa vì nó rất đẹp, phù hợp với đặc điểm tâm lí và nhận thức của trẻ.
16
Cần phát huy tác dụng, tận dụng triệt để tranh minh họa trong sách giáo
khoa.
Nên sưu tầm càng nhiều mẫu vật (vật thật) gần gũi với đời sống của trẻ để
minh họa cho bài học thì hiệu quả giờ học càng cao, có tính giáo dục và thực
tiễn.
Nếu có điều kiện thì nên phóng to tranh minh họa trong sách, nhất là phần
kể chuyện nhưng tranh vẽ phải đảm bảo tính thẩm mĩ và thực tiễn.
Ngoài ra giáo viên có thể tự thiết kế đồ dùng học tập cho phù hợp với bài học,
điều kiện thực tế của bản thân và của địa phương.
Song dù bằng phương tiện dạy học nào: tranh minh họa, vật mẫu, băng
hình… thì giáo viên cũng phải lưu ý đưa minh họa vào đúng lúc, đúng chỗ,
dùng song phải cất tránh để học sinh phân tán chú ý trong giờ học.
Về bộ đồ dùng dạy học vần nên mua bộ đồ dùng học vần thực hành một
loại thống nhất để thuận tiện cho quá trình dạy của giáo viên và quá trình học
của học sinh, các thao tác không mất nhiều thời gian, góp phần đảm bảo hiệu
quả giờ học.
Với những lớp học 2 buổi/ngày, việc dùng hệ thống vở bài tập là cần thiết.
Song với những dạng bài tập dạng điền khuyết, nối cột hoặc phần luyện viết có
kẻ li thì cho các em làm vào vở bài tập. Còn với nội dung cần ghi lại lượng chữ
tương đối nhiều hơn thì nên cho các em làm vào vở ô li để đảm bảo chất lượng
chữ viết của các em.
2. Đổi mới nội dung dạy học
Nhìn chung các bài dạy học vần ở lớp 1 phù hợp với đặc điểm tâm lí và
đặc điểm nhận thức của trẻ. Các bài dạy từ dễ đến khó, học sinh nắm bài tốt,
Cần khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học hợp lí. Sử dụng đúng lúc, đúng
chỗ, khoa học, linh hoạt không gò bó, gượng ép.
Về qui trình giờ học: theo trình bày ở sách giáo khoa và gợi ý hướng dẫn ở
sách giáo viên thì dạy hết vần thứ nhất: cho học sinh đọc, viết bảng rồi mới
chuyển sang vần thứ hai. Làm như vậy củng cố được ngay âm, vần vừa học
song, dạy như vậy bài học ít liền mạch, việc so sánh vần với nhau khó, tốn
nhiều thời gian để học sinh mở sách, lấy đồ dùng, lấy bảng con… vì các thao
tác này học sinh phải lặp lại hai lần.
18
Vì vậy nên thay đổi qui trình: giới thiệu vần, cho học sinh nhận diện, ghép
và phát âm vần này song sang luôn vần thứ hai, sau đó hướng dẫn viết luôn cả
hai vần, tiếng mới.
Cần phân loại học sinh để giao nhịêm vụ cho phù hợp với đối tượng. Câu
hỏi để dành cho học sinh trung bình, yếu.
Ví dụ: Tìm âm vần mới trong tiếng khóa. Câu hỏi khó dành cho học
sinh khá- giỏi.
Ví dụ: Tìm tiếng chứa âm, vần mới ngoài bài.
Trong quá trình dạy vần kết hợp dạy đọc, viết với dạy nghĩa của từ. Có
trường hợp chỉ đưa ra bức tranh minh họa là đủ như: con le le, nhà sàn…
Có trường hợp phải đưa vào ngữ cảnh khi giải nghĩa.
Ví dụ: mơn mởn, oi ả…
Do ảnh hưởng phương ngữ nên khi học sinh phát âm lẫn, giáo viên cần tỉ
mỉ, bình tĩnh giúp các em khắc phục như: phát âm, đánh vần chậm, cho học sinh
nhìn khuôn miệng cô để sửa. Nên sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở tốt khi dạy
bài mới hoặc khi củng cố bài.
Ví dụ: vần ưng gồm có âm nào?
Vần ung khác vần ưng ở điểm nào?
Nhận xét độ cao của các con chữ trong vần ưng ?
Với những chủ đề gần gũi với đời sống các em, có thể tự cho học sinh thảo
luận. Còn đối với các chủ đề khó như: Xiếc, múa rối, ca nhạc hay Thủ đô, đây là
những chủ đề ít gần gũi với các em, giáo viên nên có hệ thống câu hỏi gợi mở
để định hướng cho các em trước khi thảo luận. Cần tập cho học sinh hỏi và trả
lời thành câu.
Ngoài việc thực hiện có hiệu quả các bước trong giờ dạy Học vần, giáo
viên còn cần lưu ý dạy tích hợp trong các môn khác. Dạy nghĩa của từ trong
Toán, Tự nhiên xã hội… để học vần Tiếng Việt là cơ sở cho các môn khác
nhưng ngược lại các môn học khác lại bổ sung, làm giàu vốn từ ngữ Tiếng Việt.
Cụ thể đầu tiên là tiết Học vần lớp 1. Vì Tiếng Việt là chìa khóa mở ra tri thức
mới ở các môn học mà các em được trang bị trong nhà trường và ngoài cuộc
sống.
20
IV. Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm:
Có thể thấy kết quả học tập sau khi tiến hành thực nghiệm của học sinh lớp
1B, tính đến giữa Học kì I năm học 2012 - 2013 qua bảng thống kê chất lượng
để minh hoạ cho thành công của mình:
Sĩ số
23
Điểm 9-10
SL
Tỉ lệ
12
52,2
Điểm 7-8
SL
1. Kết luận
Qua quá trình thực hiện đề tài “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy
Học vần lớp 1- Trường Tiểu học Bạch Hạc”, tôi đã trình bày kinh nghiệm của
bản thân cùng với sự giúp đỡ của bạn bè đồng nghiệp để giờ dạy Học vần đạt
hiệu quả.
Trên đây, trong nội dung của Sáng kiến kinh nghiệm, tôi đã phân tích những
cơ sở lí luận và thực trạng chi phối việc dạy Học vần ở Tiểu học. Tôi cũng mạnh
dạn đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả dạy Học vần ở Tiểu học; các biện pháp
đó đã bước đầu đánh giá có tính khả thi thông qua kết quả thực nghiệm. Kết quả
bước đầu cho thấy những biện pháp này bước đầu có tính khả thi và nếu thực
nghiệm trong phạm vi rộng hơn cũng cho kết quả tương tự thì có thể đưa vào
thực tiễn.
Chúng tôi rất mong được sự ủng hộ của các bạn đồng nghiệp, các cấp lãnh
đạo để những ý kiến đóng góp nhỏ của tôi được áp dụng hoặc sửa đổi trong thời
gian tới.
2. Kiến nghị
Đề nghị các cấp quản lí chuyên môn tạo điều kiện cho giáo viên học tập
nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, bồi dưỡng kiến thức về môn Tiếng
Việt. Mặt khác tạo điều kiện, cho phép và động viên GV được chủ động sáng
tạo trong việc lựa chọn nội dung và biện pháp dạy học sao cho phù hợp với đối
tượng và có hiệu quả, củng cố kiến thức và hình thành kĩ năng cho học sinh một
cách chắc chắn và mau chóng nhất.
Sau một thời gian nghiêm túc nghiên cứu, tôi đã hoàn thành Sáng kiến kinh
nghiệm mang tên:“ Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Học vần lớp 1 ở
Trường tiểu học Bạch Hạc- Việt Trì”. Mặc dù đã rất cố gắng song có những hạn
chế về chuyên môn, khó khăn về tài liệu tham khảo, kinh nghiệm ít, thời gian
nghiên cứu chưa nhiều mà Sáng kiến của tôi mới chỉ nghiên cứu được đề tài ở
phạm vi nhỏ, vẫn chưa giải quyết thấu đáo những vấn đề mà đề tài đặt ra. Tôi hy
24
25