SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG dạy học PHÂN môn tập làm văn lớp 4 - Pdf 50

SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP LÀM
VĂN LỚP 4

Người thực hiện : Hoàng Thị Lê Na
Chức vụ : Giáo viên
Chuyên môn : Đại học Tiểu học

ĐẶT VẤN ĐỀ

1


Trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học, phân môn Tập làm văn
đóng vai trò quan trọng, mang tính chất thực hành, toàn diện, tổng hợp và
sáng tạo. Đối với học sinh tiểu học, hoạt động chủ đạo của các em thiên về
cảm tính, mỗi em có một cách nhìn riêng về cùng một vấn đề, với đặc điểm
tâm sinh lý lứa tuổi nhỏ, học sinh thích tìm tòi, học hỏi, khám phá cái mới
trong nhận thức và trong cuộc sống xã hội.
Ngay khi nhận lớp 4, tôi thấy đa số học sinh viết câu sai ngữ pháp,
dùng từ chưa phù hợp với hoàn cảnh và đặc biệt là viết thiếu ý, ngại phát
biểu trong giờ học, dẫn đến chất lượng học tập phân môn Tập làm văn chưa
cao. Cho nên, việc áp dụng đổi mới phương pháp dạy học Tập làm văn theo
hướng phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh vào quá
trình học tập, tự học và thực hành sẽ góp phần giúp học sinh có thể dạn dĩ
trước đám đông, trình bày to, rõ, mạch lạc bằng lời lẽ tự nhiên, dễ hiểu trong
bài văn do chính tay mình làm. Vì vậy, việc áp dụng đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng trên là hết sức cấp thiết.
Tuy nhiên, dạy Tập làm văn như thế nào để phù hợp với trình độ học

bài Tập làm văn. Ngơn ngữ là thứ cơng cụ có tác dụng vơ cùng to lớn. Nó có
thể diễn tả được những gì con người nghĩ ra, nhìn thấy biết được những điều
trừu tượng mà các giác quan khơng thể vươn tới được. Các mơn học ở Tiểu
học có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau nhằm giáo dục tồn diện cho học sinh phải
kể đến Tập làm văn, một phân mơn chiếm thời lượng khá lớn trong mơn
Tiếng Việt ở Tiểu học. Nó tách thành một phân mơn độc lập nhưng nó là kết
quả tổng hợp của các mơn học khác nói chung và mơn Tiếng Việt nói riêng.
2. Thực trạng của vấn đề
Khi bắt đầu tìm hiểu việc học tập Tập làm văn
của học sinh, tơi thấy đa số học sinh rất thụ động, ít phát biểu, khi cần

3


hỏi điều gì các em chậm đứng lên, dẫn đến việc thực hành làm văn chưa đạt
yêu cầu, trình bày bài văn thì chưa rõ bố cục, câu văn thiếu mạch lạc, viết
thiếu ý, diễn đạt ý chưa phù hợp, bài văn không có tính sáng tạo, lệ thuộc rất
nhiều vào bài văn mẫu. Bên cạnh đó, còn tồn tại các em có hoàn cảnh gia
đình khó khăn, ít quan tâm đến việc học tập của con em mình đã gây ảnh
hưởng không nhỏ đến kết quả học tập Tập làm văn của các em. Trong khi đó
thì giáo viên chỉ dành ít thời gian để sửa chữa những sai sót cho các em học
sinh yếu vì sợ mất thời gian chung cho cả lớp.
Qua khảo sát chất lượng học tập Tập làm văn vào đầu năm, tôi nhận thấy:
Năm học
Giỏi
2010 - 2011 5 em = 13,2%

Khá
12em=31,6%


được để đọc mẫu cho học sinh tham khảo.
- Nhận xét bài viết mẫu về việc sử dụng các từ ngữ, diễn đạt nội dung,
cách trình bày một bức thư.
- Giáo viên hướng dẫn, gợi ý cho học sinh có thêm vốn từ phong phú, đa
dạng để kết hợp vào việc viết thư.
- Cho học sinh trao đổi, thảo luận nhóm, thông tin cho nhau những sự
việc có liên quan đến viết thư.
- Giáo viên có thể dùng bảng phụ trình bày một bức thư mẫu, đủ để học
sinh cả lớp quan sát học tập.
b) Đối với loại bài kể chuyện:
- Để học sinh thực hiện tốt được kỹ năng kể chuyện ở lớp 4, giáo viên
tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với đối tượng kể. Yêu cầu học
sinh về nhà tìm các câu chuyện khác sách giáo khoa để kể hay nhớ lại câu
chuyện do chính học sinh tham gia tìm ra. Giáo viên cần phát huy có hiệu
quả đồ dùng dạy học (tranh ảnh, mô hình, vật thật …) để học sinh tri giác, từ
đó kể được dễ dàng, chính xác, nhớ lâu câu chuyện đã kể.
Chẳng hạn: Kể chuyện bài: “Ba lưỡi rìu”.
- Giáo viên chuẩn bị 06 tranh minh họa đẹp, tương ứng 06 sự việc của
truyện.
- Yêu cầu học sinh xác định các nhân vật ở từng đoạn văn:
+ Đoạn văn thứ nhất chỉ có một nhân vật là chàng tiều phu.
+ Các đoạn còn lại đều có hai nhân vật là chàng tiều phu và ông cụ
già.

5


- Cần chú ý vừa kể, vừa tả nhằm góp phần thêm cho bài kể chuyện sinh
động, và hấp dẫn hơn.
- Kết hợp phương pháp thảo luận nhóm trong kể chuyện, tạo không khí

- Trình tự không gian : Thường quan sát bao quát toàn bộ phận đến quan sát
từng bộ phận, quan sát từ trái sang phải hay từ trên xuống dưới, hay từ ngoài
vào trong.
- Trình tự thời gian : Quan sát cây cối, theo mùa, trong năm, …Quan sát
con vật như quan sát sinh hoạt của con gà, con lợn theo thời gian trong ngày.
- Dù quan sát theo trình tự nào cũng cần tập trung vào bộ phận chủ yếu và
trọng tâm.
+ Hướng dẫn học sinh sử dụng các giác quan để quan sát.
- Thường học sinh chỉ dùng mắt để quan sát. Giáo viên cần hướng dẫn học
sinh tập trung sử dụng các giác quan khác để quan sát như : thính giác (tai),
khứu giác (mũi), xúc giác (tay).
Ví dụ : Khi tả cây bút chì giáo viên có thể hỏi “Dùng tay sờ vào bút chì em
có cảm giác thế nào ?”.
* Hướng dẫn cách thu nhận các nhận xét do quan sát mang lại.
- Khi học sinh trình bày kết quả quan sát, nên hướng các em trả lời bằng
nhiều chi tiết cụ thể và sử dụng ngôn ngữ chính xác, gợi hình ảnh.
- Hướng dẫn học sinh tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả và lựa chọn từ ngữ miêu
tả.
Vốn từ ngữ miêu tả có ý nghĩa quan trọng đối với việc làm văn miêu tả.
Giúp học sinh tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả và lựa chọn từ ngữ khi miêu tả là
vấn đề quan tâm của mọi giáo viên.
*Tạo điều kiện để học sinh tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả.
- Biện pháp đầu tiên giúp các em tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả qua các bài
tập đọc. Nhiều bài tập đọc là bài văn miêu tả hay. Số lượng từ ngữ miêu tả ở

7


các bài đó phong phú, cách sử dụng chúng sáng tạo. Dạy các bài tập đọc,
giáo viên cần chỉ ra các từ ngữ miêu tả, có thể chọn trường hợp đặc sắc nhất

chỉ nên nhẹ nhàng sửa sai và động viên cho các em này.
- Ở phần thân bài, tôi thường phân nhóm 4 cho các em thảo luận theo dàn
ý chi tiết, các em nối tiếp, hỗ trợ nhau thực hiện:
+ Phần bao quát (01 em).
+ Phần chi tiết (02 em).
+ Hoạt động liên quan (01 em).
Ví dụ 1: Kiểu bài tả về đồ vật: “Tả chiếc cặp sách”.
Yêu cầu thảo luận phần thân bài sau đây:
+ HS1: Tả bao quát, kích thước, màu sắc, chất liệu của cặp ?
+ HS2: Tả bên ngoài cặp gồm: mặt cặp, nắp cặp, quai đeo, ổ khóa.
+ HS3: Tả bên trong cặp có mấy ngăn ? Mỗi ngăn đựng gì ?
+ HS4: Nêu ích lợi chiếc cặp ?
Sau khi thảo luận xong một nhóm học sinh trình bày:
+ HS1: Cặp hình chữ nhật, làm bằng vải giả da. Dài hơn hai gang tay
của em, rộng khoảng một gang rưỡi. Cặp có nhiều màu rất đẹp.
+ HS2: Ở phía trên cặp có quai xách thật êm tay. Sau lưng là hai quai
đeo. Hai ổ khóa bằng sắt, mỗi khi đóng hoặc mở nghe “tách, tách” rất vui tai.
Ngoài mặt cặp có in hình chú chó đốm rất đẹp.
+ HS3: Phía bên trong có ba ngăn. Ngăn lớn đựng sách, ngăn thứ hai
đựng bảng con, đồ dùng khác …, ngăn thứ ba nhỏ nhất đựng bút, thước, và
các đồ dùng như: áo đi mưa, chai nước, …
+ HS4: Chiếc cặp giúp em đựng sách vở không bị rơi rớt và không bị
mưa ướt.
Ví dụ 2: Kiểu bài tả về cây cối: “Tả cây có bóng mát” (cây phượng).
- Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát cây phượng (hình vẽ) hoặc cây

9


thật.

trước hết cần chuẩn bị kỹ tiết dạy và cách trình bày cũng phải chuẩn mực để
học sinh học tập.
* Tăng cường hình thức thi đua, khen thưởng, hạn chế phê bình, có nội
dung bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
* Kết quả:
Qua 02 năm học, 2010 – 2011, 2011 – 2012 và cuối kỳ I năm
học 2012 – 2013 tơi thấy kết quả đạt được như sau:
- Học sinh chủ động hơn trong tiết Tập làm văn.
- Biết lập dàn ý chi tiết khi miêu tả.
- Học sinh diễn đạt được rõ ràng ý mình muốn nói.
- Khơng còn lệ thuộc vào bài văn mẫu.
- Kỹ năng làm văn đã được nâng lên, từ đó bài viết của các em đạt kết
quả cao.
- Học sinh hứng thú học tập, u thích mơn Tiếng Việt và đặc biệt là
phân mơn Tập làm văn, thích được trình bày bài viết của mình và nhận xét
bài của bạn.
Năm học
Giỏi
Khá
Trung bình
Cuối năm : 2010 - 10em = 25,6% 18em = 46,2 % 11em = 28,2%
2011

11em = 28,2%

19em = 48,8%

9em = 23,0 %


lý làm cơ sở cho học sinh viết đoạn, viết bài tốt.
- Chấm, chữa bài thường xuyên, kịp thời để phát hiện những gì còn sai sót
của các em và có hướng sửa chữa, nhất là học sinh yếu.
- Có tinh thần trách nhiệm cao “Vì sự nghiệp giáo dục toàn diện trẻ”,
có lòng tận tụy, yêu thương học sinh. Nghiên cứu bài dạy, chuẩn bị chu đáo
các hoạt động dạy học cũng như các dụng cụ trực quan hỗ trợ cho tiết học
đạt hiệu quả cao.
- Luôn động viên, khen ngợi kịp thời các em học sinh yếu dù là tiến bộ
nhỏ nhất. Không áp đặt, không chê bai khi học sinh viết sai, viết thiếu ý hoặc
diễn đạt câu chưa đúng.
Bên cạnh đó, còn một vài phụ huynh học sinh chưa thực sự quan tâm đến

12


việc học tập của con mình, còn trông chờ, ỷ lại toàn bộ cho giáo viên chủ
nhiệm làm ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động giảng dạy của giáo viên.
* Bài học kinh nghiệm:
- Vận dụng linh hoạt các phương hướng dạy học giúp học sinh hứng
thú, tranh luận sôi nổi trong giờ học.
- Tạo điều kiện cho học sinh trao đổi, học hỏi nhau qua các bài học.
- Giáo viên có sự đầu tư suy nghĩ trong từng kiểu bài Tập làm văn cụ
thể, điều chỉnh, bổ sung hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt hợp lý giúp học
sinh đều có thể làm bài được và làm bài tốt.
- Hoạt động tổ chuyên môn đều đặn, đi sâu vào các vấn đề khó, bàn bạc
thảo luận nội dung dạy học từng kiểu bài, nhất là đối với các em yếu.
- Thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo viên chủ nhiệm với phụ huynh
học sinh, họp phụ huynh hàng tháng để thông báo, trao đổi tình hình học tập
của học sinh.
- Tổ chức học sinh ở cùng lớp, gần nhà để hợp nhóm học tập, phân công

các cấp chỉ đạo nh sau:
Cần quan tâm hơn nữa đối với giáo viên tiểu học, thờng xuyên bồi dỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên ở
môn Ting Vit, nhất là phõn môn tp lm vn.
Có thờm nhiu đồ dùng dạy học mụn Ting Vit cho giáo
viên.

14


15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status