Khóa luận tốt nghiệp sử dụng phần mềm địa cầu ảo (google earth) trong thiết kế một số bài giảng địa lí lớp 11 theo định hướng phát triển năng lực - Pdf 50

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN XUÂN CHUNG

SỬ DUNG PHẦN MỀM ĐỊA CẦU ẢO (GOOGLE EARTH)
TRONG THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ LỚP 11
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Thái Nguyên, năm 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN XUÂN CHUNG

SỬ DUNG PHẦN MỀM ĐỊA CẦU ẢO (GOOGLE EARTH)
TRONG THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ LỚP 11
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Sư phạm Địa lí

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS ĐỖ VŨ SƠN

Thái Nguyên, năm 2018



DANH MỤC BẢNG

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHẦN MỀM ĐỊA CẦU ẢO (GOOGLE
EARTH) TRONG THIẾT KẾ BÀI DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH
HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 13
1.1. Cơ sở lý luận 13

iii


DANH MỤC HÌNH

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHẦN MỀM ĐỊA CẦU ẢO (GOOGLE
EARTH) TRONG THIẾT KẾ BÀI DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH
HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 13
1.1. Cơ sở lý luận 13

3.5.1. Chọn trường thực nghiệm 69
3.5.2. Chọn lớp thực nghiệm 69

iv


CHỮ VIẾT TẮT
STT

Chữ viết tắt

Viết đầy đủ


6

PPDH

Phương pháp dạy học

7

THPT

Trung học phổ thông

8

GD

Giáo dục

v


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Quá trình toàn cầu hóa về các lĩnh vực đang diễn ra mạnh mẽ. Hội
nhập quốc tế cách mạng khoa học công nghệ, cách mạng thông tin truyền
thông, nền kinh tế tri thức,… đã tạo ra cơ hội cho nền giáo dục Việt Nam
tiếp cận các xu thế mới, mô hình giáo dục, chương trình giáo dục tiên tiến, hiện
đại và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển giáo dục.
Đổi mới phương pháp dạy học ở trường Trung học phổ thông (THPT) là

Địa lí là một môn khoa học có phạm trù rộng lớn và có tính thực nghiệm,
cần liên hệ thực tế và có tính thời sự rất cao. Nên cần những hình ảnh thực tế để
HS có cái nhìn cụ thể về vấn đề đang học và lựa chọn Google Earth là một công
cụ hữu hiệu.
Với những lý do trên tác giả chọn “Sử dụng phần mềm Địa cầu ảo
(Google Earth) trong thiết kế một số bài dạy học địa lí lớp 11 Trung học phổ
thông theo định hướng phát triển năng lực” làm đề tài tốt nghiệp.
2. Lịch sử phát triển Google Earth và quá trình nghiên cứu, ứng dụng Google
Earth trong dạy học
2.1. Lịch sử phát triển Google Earth
Tháng 6/2005, phần mềm Google Earth, phiên bản vệ tinh bản đồ trái đất
được Google cho ra mắt.
Google Earth là một chương trình một phần mềm mô phỏng quả địa cầu
có tên gọi gốc là Earth Viewer vẽ bản đồ Trái đất là một quả địa cầu ảo 3D, trên
đó là những hình ảnh địa lí được lấy từ ảnh vệ tinh, các ảnh chụp trên không và
từ hệ thống thông tin địa lí GIS.
Google thể hiện một cách tổng quan về các khu vực trên Trái đất, mô
phỏng địa hình theo hình ảnh không gian đa chiều bằng cách kết hợp tổng thể
các ảnh viễn thám (phản xạ ánh sáng đa sắc (ánh mặt trời).Có thể lưu dấu vị trí,
hình dạng và toàn bộ thư mục và nội dung của thư mục vào ổ cứng máy tính .
Tệp hoặc thư mục dấu vị trí được lưu dưới dạng tệp đơn lẻ trong định dạng
KML hay KMZ mà chúng ta có thể mở bất kỳ lúc nào trong Google Earth.
Nhằm đa dạng hoá loại hình thông tin tìm kiếm, năm 2004 Google đã
mua lại phần mềm địa cầu ảo nổi tiếng là Keyhole để kết hợp nó với những tính
2


năng của Google Maps. Đến năm 2005, sản phẩm này được đổi tên thành
Google Earth và chạy được trên các hệ điều hành Linux, MAC OS và MS
Windows. Hiện nay có sẵn cho thiết bị Android và iOS.

Tại EarthAt Dominion University, sinh viên tạo tài liệu giảng dạy bằng
Google Earth và Google Sketch-up bằng cách đưa ra một loạt các tệp KML chỉ
vào các tấm kiến tạo, thung lũng núi, núi lửa... Các sinh viên đã sử dụng Google
Earth như một công cụ để trình bày các đại diện của động đất và dự báo các cơn
dư chấn. Dự án khoa học Google Earth của trường đã nhận được tài trợ từ Quỹ
Khoa học Quốc gia.
Các trường trung học / tiểu học đã sử dụng Google Earth để dạy HS về vĩ
độ và kinh độ bằng cách yêu cầu HS ghi lại tọa độ của các địa điểm. Tạo kế
hoạch bài học phong phú về phương tiện sử dụng video và Wikipedia. Trên một
bài đăng tại Random Connection đã chỉ ra quá trình làm thế nào Google Earth
có thể được sử dụng để tạo ra các bài học tương tác cho HS. Bài báo đưa độc giả
qua các bước sử dụng dấu vị trí, bảng phân tích Wikipedia và trình tạo vòng tròn
KML để tìm và đánh dấu nghiên cứu trên bản đồ. Ngoài ra, đề cập đến video
YouTube, Vimeo và TeacherTube có thể được đặt trong dấu vị trí của Google
Earth như thế nào. Các GV có thể sử dụng các bước này để tạo các chuyến tham
quan và bài học ảo tương tác cho HS. Và HS có thể đi đến các dấu vị trí khác
nhau và xem các video có liên quan về vị trí .
Như vậy trên thế giới, việc ứng dụng Google Earth vào dạy học, nhất là
dạy học địa lí đã trở nên khá phổ biến và đem lại nhiều hiệu quả giáo dục.
2.2.2. Ở Việt Nam
Trong dạy học ở Việt Nam, việc ứng dụng Google Earth vẫn còn khá hạn
chế, mới chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm, thu phóng và hiển thị các đối tượng trên
phần mềm. Tiêu biểu hơn cả là nghiên cứu “Sử dụng phần mềm Google Earth
trong thiết kế bản đồ dạy học Lịch sử và Địa lí” của tác giả Lê Thiên Nhiên
được đăng tải trên Tạp chí Thiết bị Giáo dục số 49/9-2009. Tác giả khẳng định
việc soạn bài giảng điện tử trong giảng dạy Lịch sử là rất khó khăn và tốn kém
thời gian nhất là thiết kế và sử dụng hiệu quả bản đồ Lịch sử. Google Earth được
đánh giá là đơn giản nhưng hiệu quả cao trong việc thiết kế các dạng bản đồ
trong dạy học Lịch sử, Địa lí cũng như việc tạo các bản đồ câm trong việc kiểm
tra, đánh giá HS.

tiếp tục được nghiên cứu.

5


3. Mục đích nghiên cứu
Nhằm giúp người học thấy được tầm quan trọng, tính tất yếu, tính hiệu
quả của việc kết hợp dạy học trên lớp và ứng dụng công nghệ thông tin đối với
quá trình học tập, dạy học môn Địa lí cho đối tượng học sinh THPT. Đồng thời
đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả học tập và hình thành cho các
em các năng lực tư duy, năng lực chủ động, năng lực sáng tạo trong tập trên lớp
và được trải nghiệm những ứng dụng của tin học ngay trong quá trình dạy và
học địa lí nói chung và địa lí 11 nói riêng ở trường THPT.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
1) Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc ứng dụng phần mềm
Google Earth trong dạy học môn Địa lí lớp 11 THPT.
2) Thiết kế quy trình ứng dụng Google Earth trong dạy học địa lí; thiết kế
một số giáo án địa lí 11 ứng dụng Google Earth;
3) Triển khai dạy học thực nghiệm tại một số trường THPT và đánh giá
kết quả thực nghiệm; khảo sát ý kiến người học, giáo viên và chuyên gia;
4) Đánh giá đề tài nghiên cứu.
5. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu quy trình và cách thức ứng dụng CNTT, cụ thể là phần mềm
Google Earth trong dạy học địa lí 11 THPT theo định hướng phát triển năng lực
cho học sinh.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Về chuyên môn: Ứng dụng phần mềm Google Earth trong dạy học môn
Địa lí lớp 11 THPT (Ban cơ bản);
- Về không gian: Một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Về thời gian: Năm học 2017 - 2018;

Hệ thống là tập hợp các thành tố tạo nên một chỉnh thể toàn vẹn, tương
đối ổn định và vận động theo quy luật tổng hợp. Mỗi hệ thống bao giờ cũng có
một cấu trúc và gồm nhiều thành tố, mỗi thành tố lại có những cấu trúc nhỏ hơn.
Như vậy hệ thống nhỏ bao giờ cũng nằm trong hệ thống lớn. Mỗi thành tố của
hệ thống lại là một bộ phận độc lập, có chức năng riêng và luôn vận động theo
quy luật của toàn hệ thống. Các thành tố của hệ thống có mối quan hệ biện
chứng với nhau bằng quan hệ vật chất và quan hệ chức năng.

7


Mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trên cơ sở của mối quan hệ với các sự
vật, hiện tượng khác. Tức là các sự vật, hiện tượng tồn tại và phát triển trong
một hệ thống. Trong giáo dục, các thành tố như mục đích, nội dung, phương
pháp, phương tiện, GV, HS và môi trường giáo dục có quan hệ mật thiết với
nhau, có cấu trúc nhất định và cùng phát triển trong một hệ thống. Nếu có sự
thay đổi thành phần này sẽ kéo theo sự thay đổi thành phần khác. Mục tiêu giáo
dục hiện nay là trang bị cho HS khả năng độc lập, sáng tạo. Do đó, nội dung dạy
học, phương pháp dạy học cũng phải thay đổi. Xu hướng thay đổi phương pháp
dạy học hiện nay là nhằm phát huy hơn nữa vai trò chủ động của người học, tìm
cách giúp cho học sinh có động cơ, thái độ và phương pháp học tập đúng đắn.
Vận dụng quan điểm hệ thống để làm nổi bật mối quan hệ giữa: Phương
pháp dạy học – CNTT – Phương tiện. Qua đó tìm ra quy trình hợp lí trong việc
sử dụng CNTT vào dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo và phát triển năng lực của học sinh trong học tập môn Địa Lí lớp 11 ở nhà
trường THPT.
7.1.4. Quan điểm tổng hợp
Trong nghiên cứu Địa lí, việc vận dụng quan điểm tổng hợp có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng, điều đó bắt nguồn từ chính đối tượng nghiên cứu của ngành
khoa học này.

phương tiện như thế nào để đạt được hiệu quả cao. Qua thực tiễn để thấy được mối
liên hệ giữa các môn học để thiết kế được bài giảng có nội dung tích hợp đạt hiệu
quả cao nhất và là xu hướng cho sự phát triển giáo dục trong tương lai.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Phương pháp thu thập, phân tích và hệ thống hóa tài liệu
- Căn cứ vào mục đích nhiệm vụ của đề tài, tác giả đã tiến hành thu thập,
phân tích tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau như trong các sách báo, tạp chí, các
luận văn, các công trình đề tài nghiên cứu khoa học, các phần mềm nghiên cứu
ứng dụng vào học tập có liên quan.
- Để việc thiết kế bài giảng đảm bảo tính khoa học và tính giáo dục, tác
giả chú ý đến việc nghiên cứu tài liệu chuẩn cho việc thiết kế bài giảng là SGK
Địa lí 11THPT hiện hành thuộc ban cơ bản, các tài liệu về tâm lí học đại cương,
tâm lí học sư phạm, tâm lí học lứa tuổi để đảm bảo cho việc thiết kế bài giảng
đạt hiệu quả cao nhất.
9


7.2.2. Phương pháp thống kê toán học
Ngày nay, trong nghiên cứu khoa học đã sử dụng các lý thuyết toán học
vào việc tìm ra các lý thuyết chuyên ngành, xu huóng toán học hóa mở ra con
đường mới giúp cho khoa học đạt tới mức độ chính xác, sâu sắc để từ đó khám
phá ra bản chất và quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu. Khoa học hiện
đại sử dụng toán học với hai mục đích:
- Sử dụng toán thống kê như một công cụ xử lý các tài liệu (xử lý cá
thông tin định lượng được trình bày dưới dạng: Con số rời rạc, bảng số liệu, biểu
đồ, đồ thị, xử lý thông tin định tính bằng biểu đồ) đã thu thập được từ các
phương pháp nghiên cứu khác nhau như: Quan sát, điều tra, thực nghiệm,.. Làm
cho các kết quả nghiên cứu trở nên chính xác, đảm bảo độ tin cậy.
- Sử dụng các lý thuyết toán học như: Thống kê xác suất, các phương tiện
của lý thuyết tập hợp, của logic và của đại số,… Và phương pháp logic học như:

cứu và là căn cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp khoa học hat giải pháp
thực tiễn.
Có hai loại điều tra: điều tra cơ bản và điều tra xã hội học.
Điều tra cơ bản: là khảo sát sự có mặt của đối tượng trên một diện rộng
để nghiê cứu các quy luật phân bố cũng như các đặc điểm về mặt định tính và
định lượng. Ví dụ: điều tra dân số, điều tra trình độ văn hóa, điều tra chỉ số
thông minh (IQ) của trẻ em….
Điều tra xã hội học: là điều tra quan điểm, thái độ của quần chúng về một
sự kiện chính trị, hiện tượng văn hóa, thị hiếu…
Ví dụ: Điều tra nguyện vọng nghề nghiệp của học sinh khối 12, điều tra
về mức độ yêu thích đối với bộ môn….
Trong đề tài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng cả hai loại điều tra: điều tra cơ
bản và điều tra xã hội học để tìm hiểu về thực trạng dạy và học sử dụng phần
mềm Địa cầu ảo Google Earth trong chương trình Địa lí lớp 11 theo định hướng
phát triển năng lực người học của GV và HS. Để khảo sát điề tra, tác giả sử
dụng nhiều hình thức điều tra như: điều tra miệng, điều tra viết với các loại
phiếu điều tra gồm trắc nghiệm và tự luận để lấy thông tin từ GV và HS. Từ đó
nhận thức được thực trang để đưa ra các biện pháp thích hợp để ứng dụng phần
mềm Địa cầu ảo Google Earth trong dạy học Địa lí lớp 11 theo định hướng phát
triển năng lực người học.
11


7.2.5. Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu nhận thông tin về sự thay đổi
số lượng và chất lượng trong nhận thức và hành động của đối tượng giáo dục do
các nhà khoa học tác động đến chugs bằng một số tác nhân điều khiển và đã
được kiểm tra.
Thực nghiệm sư phạm được dùng khi đã có kết quả điều tra quan sát các
hiện tượng giáo dục, cần khẳng định lại cho chắc các kết quả đã được rút ra.

1.1.1.1. Khái niệm
Hình thức tổ chức dạy học là hình thức tổ chức quá trình dạy học chuyên
nghiệp trong các cơ sở giáo dục chuyên trách, trong đó diễn ra sự liên kết một
cách thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động học và sự tương tác đa chiều
giữa những chủ thể dạy và học. Mỗi hình thức tổ chức dạy học thực hiện một
nội dung nhất định, được tổ chức theo một trình độ nhất định, với một chế độ
học tập và trong một không gian, thời gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu
dạy và học đã đặt ra
Vận dụng vào hoạt động giáo dục có thể nói hoạt động tổ chức dạy học là
cách sắp xếp, tổ chức các biện pháp sư phạm. Từ đây, ta có thể định nghĩa: “
Hoạt động tổ chức dạy học là cách thức tổ chức, sắp xếp và tiến hành các buổi
dạy học”.
Hình thức tổ chức dạy học thay đổi tùy theo mục đích, nhiệm vụ dạy học,
tùy theo số lượng người học. Các nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học, phương
pháp dạy học đều được tiến hành trong các hình thức tổ chức dạy học.
1.1.1.2. Một số hình thức tổ chức dạy học
(1) Dạy học trên lớp
Thường được tiến hành trong các phòng học, có sự hướng dẫn, tổ chức,
chỉ đạo trực tiếp của giáo viên và sự tham gia của học sinh. Xuất hiện ở Châu
Âu từ thế kỉ 16, ở Việt nam vào cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19.
- Đặc điểm:
+ Thuận tiện, dễ thích nghi với nhiều loại bài học: lý thuyết, thực hành.
13


+ Tổ chức lớp chặt chẽ, dễ quản lý.
+ Trong một thời gian có hạn có thể cung cấp, khai thác được lượng thông
tin khá lớn, có thể hoàn thành đúng kế hoạch đề ra.
+ Không chịu ảnh hưởng của thời tiết.
+ Trong một vài bài học, việc hình thành biểu tượng, khái niệm địa lí bị

mỗi cá nhân trong tập thể.
1.1.2. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
1.1.2.1. Khái niệm dạy học theo định hướng phát triển năng lực
* Khái niệm năng lực
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng. 1998) có
giải thích:
Năng lực là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực
hiện một hoạt động ào đó. Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả
năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [15].
Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định
hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành
năm 2014 thì “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có
tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,…
nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh
nhất định [1]. Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất
của người lao động, kiến thức và kĩ năng) được thể hiện thông qua các hoạt
động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. Năng lực bao gồm
các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là
các năng lực chung, cốt lõi”.
Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc
như là các khả năng, hình ảnh thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm,
hiện thực hóa qua ý chí (John Erpenbeck 1998)
Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng yêu cầu phức hợp và thực hiện
thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể (OECD,2002). Năng lực là các
khả năng và kĩ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được… để giải
quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống.
Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí
và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm
các giải pháp… trong những tình huống thay đổi (Weinert, 2001).
15

[Nguồn:https://tusach.thuvienkhoahoc.com]
* Năng lực chuyên biệt
- Khái niệm năng lực chuyên biệt: Là những năng lực được hình thành và
phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt
trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù,
cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của
một hoạt động như Toán học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thê thao, Địa lí,…
- Các năng lực chuyên biệt:
+ Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ (đặc trưng nhất của môn Địa lí)
+ Năng lực học tập ngoài thực địa
+ Năng lực sử dụng bản đồ
+ Năng lực sử dụng số liệu thống kê
+ Năng lực sử dụng hình ảnh, hình vẽ, video, mô hình,…
* Năng lực của học sinh phổ thông
Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ
năng, thái độ,… phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp
17


lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề
đặt ra cho chính các em trong cuộc sống. Năng lực của HS là một cấu trúc động
(trìu tượng), có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ
là kiến thức, kĩ năng,… mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội,… thể hiện
tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và
những điều kiện thực tế đang thay đổi.
Như vậy, khái niệm về dạy học phát triển năng lực người học là:
Dạy học phát triển năng lực người học là dạy học hướng người học phát
huy các năng lực của bản thân như sáng tạo, trừu tượng, tư duy, phân tích,...
Nhằm góp phần cho việc hình thành và phát triển nhân cách cho người học.
1.1.2.2. Một số phương pháp dạy học địa lí theo định hướng phát triển năng lực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status