Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của rừng phòng hộ đầu nguồn tại xã vầy nưa, huyện đà bắc, tỉnh hòa bình - Pdf 50

1

Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của rừng phòng hộ
đầu nguồn tại xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình


2

ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng phòng hộ đầu nguồn là một bộ phận quan trọng trong cấu thành
hệ thống rừng ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Rừng phòng hộ đầu nguồn
đã được thừa nhận là một bộ phận tài nguyên, một nhân tố đảm bảo cho sự
phát triển ổn định và vững chắc của đất nước.
Theo số liệu thống kê năm 2003, Việt Nam có tổng diện tích đất rừng
phòng hộ toàn quốc 9.430.267,2 ha, trong đó diện tích rừng phòng hộ đầu
nguồn tập trung chủ yếu ở các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ,
duyên hải Nam Trung Bộ.
Hòa Bình có tổng diện tích đất rừng phòng hộ là 212.930,5 ha, trong đó
diện tích đất rừng phòng hộ là rừng tự nhiên là 137.920,6 ha (chiếm 64,77%
tổng diện tích đất rừng phòng hộ) [60]. Theo quy hoạch diện tích rừng phòng
hộ giai đoạn 2010 – 2020 theo tỉnh thì Hòa Bình là 1 trong số 13 tỉnh trọng
điểm về phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn (52.500ha) nhưng hiện tại mới
chỉ có một số diện tích rất nhỏ được quản lý trên cơ sở khoa học kỹ thuật. Còn
lại hầu hết các rừng ở khu vực phòng hộ đầu nguồn đều thiếu một cơ sở lý
luận chặt chẽ để xây dựng cũng như phát triển rừng. Do vậy nhiều khu rừng
hiện có chưa phát huy được hết chức năng phòng hộ, tính ổn định và độ bền
vững của rừng. Sự hạn chế về cách thức và cơ sở quản lý này thể hiện trên
nhiều phương diện khác nhau:
Về mặt lý luận: Chưa làm rõ được đặc điểm về cấu trúc của rừng cũng
như chưa làm rõ đặc điểm về tái sinh của rừng.
Về mặt thực tiễn: Thiếu cơ sở khoa học kỹ thuật áp dụng không những

hành quy chế quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất là rừng
tự nhiên [57] gần đây nhất là Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày


4

14/8/2006 [59] của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý rừng,
theo đó rừng phòng hộ đầu nguồn được hiểu như sau:
+ Rừng phòng hộ đầu nguồn là rừng được xác lập nhằm tăng cường
khả năng điều tiết nguồn nước của các dòng chảy, hồ chứa nước để hạn chế lũ
lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, hạn chế bồi lấp các lòng sông, lòng hồ.
+ Rừng phòng hộ đầu nguồn được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ
số về: Diện tích, lượng mưa, độ dốc, độ cao tương đối, thành phần cơ giới và
độ dày tầng đất.
+ Quy mô của rừng phòng hộ đầu nguồn phù hợp với quy mô của lưu
vực sông và việc quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn gắn với việc quản lý tổng
hợp lưu vực sông.
Theo Thông tư số 34/2009 [72] của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn quy định về tiêu chí xác định và phân loại rừng tại khoản 1 điều 4: Phân
loại theo mục đích sử dụng
Rừng phòng hộ là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo
vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hoá, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu
và bảo vệ môi trường.
- Rừng phòng hộ đầu nguồn: Rừng phòng hộ đầu nguồn có tác dụng điều tiết
nguồn nước cho các dòng chảy, các hồ chứa nước để hạn chế lũ lụt, giảm xói
mòn, bảo vệ đất, hạn chế bồi lấp lòng sông, lòng hồ.
Về phân cấp rừng phòng hộ đầu nguồn: ở Việt Nam, vùng đầu nguồn
được phân chia theo 3 mức độ xung yếu như sau:
- Vùng rất xung yếu: Bao gồm những nơi đầu nguồn nước, có độ dốc lớn, gần
sông, gần hồ, có nguy cơ bị xói mòn mạnh, có yêu cầu cao nhất về điều tiết

bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả
phân loại về dạng sống, tầng phiến…của quần xã thực vật rừng.
Nghiên cứu về cấu trúc hình thái rừng mưa,theo Richards P.W (1952)
[66] đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật
đều thuộc thân cây gỗ và tác giả đã phân biệt tổ thành thực vật của rừng mưa
thành hai loại là rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp và rừng mưa
đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản. Trong những điều kiện đặc biệt thì rừng
mưa đơn ưu chỉ bao gồm một vài loài cây. Rừng mưa thường có nhiều tầng
(thường có 3 tầng, ngoại trừ tầng cây bụi và tầng cây thảm cỏ). Trong rừng


6

mưa nhiệt đới ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và cây thân cỏ còn có nhiều loài cây
dây leo đủ hình dạng và kích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân
hoặc cành cây. “Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất
về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây”.
Việc phân cấp cây rừng cho rừng hỗn loài nhiệt đới tự nhiên là một vấn
đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra được phương án phân
cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên mà được chấp nhận rộng rãi.
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra
những nhận xét mang tính định tính, chưa thực sự phản ánh được sự phân
tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới. Chính vì vậy, những nghiên cứu
sau này dần chuyển sang nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng. Nhiều tác giả
đã sử dụng các công thức và các hàm toán học để mô hình hóa cấu trúc rừng,
xác định mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng.
* Về phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D1,3)
Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính là quy luật kết cấu cơ bản
của lâm phần và được nhiều tác giả quan tâm, kiểu cấu trúc này thường được
biểu diễn dưới các dạng hàm toán học với nhiều dạng phân bố khác nhau.

điều tra diện tích tái sinh có diện tích từ 1 – 4m 2. Do diện tích ô điều tra nhỏ
nên việc đo đếm gặp nhiều thuận lợi nhưng số lượng ô phải đủ lớn và trải đều
trên diện tích khu rừng mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng.
Ngoài ra một số tác giả còn sử dụng phương pháp điều tra theo dải hẹp
với các ô đo đếm có diện tích từ 10 – 100m 2. Phương pháp này trong điều tra
tái sinh sẽ khó xác định quy luật phân bố lớp cây tái sinh trên bề mặt đất rừng.
Để giảm sai số Barnard (1950) đã đề nghị một phương pháp "điều tra chuẩn
đoán" mà theo đó ô đo đếm có thể thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của
cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau.
Richards P.W (1952) [66] đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các
ô dạng bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới. Dawkins (1958) đã
nói “Dù cho kinh doanh được đưa vào như thế nào, điều suy xét đầu tiên về
lâm sinh phải là tái sinh…”. Như vậy, có thể nói vấn đề tái sinh được bàn
nhiều, nhất là cách thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây
mục đích ở các kiểu rừng. Từ đó các nhà lâm học đã xây dựng thành công
nhiều phương thức chặt tái sinh. Công trình của Bernard (1954, 1959), Wyatt
Smith (1961, 1963), với phương thức rừng đều tuổi ở Mã Lai, Barnarji (1959)


8

với phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann. Nội dung từng
phương thức được Baur (1964) [1] tổng kết trong tác phẩm của mình.
Phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới cũng được quan tâm như:
Xác định cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt, cần phải bổ sung bằng
cách trồng rừng ở Châu Phi (Taylor, 1954; Bennard, 1955), các biện pháp lâm
sinh đề ra là cần thiết để bảo vệ cây tái sinh sẵn có dưới tán rừng nhiệt đới
Châu Á (Budowski, 1956; Bara, 1954; Catinot, 1965, Lamprecht, 1989),...
[9].
Ngoài ra, rất nhiều công trình nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của các

trình lớn nhất đề cập đến cấu trúc rừng phòng hộ đầu nguồn nước. Với những
trang thiết bị tạo mưa nhân tạo, các tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của của
các nhân tố cấu trúc tới khả năng điều tiết của nước, bảo vệ đất của rừng cũng
như cấu trúc tổ thành loài, cấu trúc tuổi, cấu trúc tầng thứ và độ tàn che.
Về xây dựng hệ thống rừng phòng hộ: Phương Chính Tam và cộng sự
(1973) đã nghiên cứu ở Trung Quốc, với địa hình đất dốc đã tiến hành bố
trí rừng phòng hộ cứ 20 - 50 m lại có một đai rừng cây bụi xen cây gỗ. Khi
nghiên cứu các biện pháp tác động nhằm nâng cao chất lượng rừng phòng
hộ Gyenge J. et all (2009) [85] cho rằng: Cây bản địa sử dụng ít nước hơn
cây ngoại lai, Sun G. et all (2005) [86] cho rằng: Rừng rụng lá sử dụng ít
nước hơn rừng thường xanh khoảng 20%. Chính vì vậy, khi xây dựng rừng
phòng hộ cần ưu tiên phát triển rừng bằng các loài cây bản địa.
* Nghiên cứu về khả năng bảo vệ đất, điều tiết nước và thuỷ văn rừng
Đối với mỗi quốc gia trên thế giới, rừng phòng hộ luôn chiếm một vị trí
quan trọng trong kế hoạch bảo vệ môi trường sinh thái và phòng chống thiên
tai. Vì vậy, nghiên cứu về rừng phòng hộ được rất nhiều tác giả quan tâm. Để
có cơ sở khoa học cho việc xây dựng và quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn thì
việc nghiên cứu về thủy văn rừng nhằm hiểu rõ những nguyên lý, những quy
luật thủy văn diễn ra trong rừng làm cơ sở cho việc xây dựng rừng phòng hộ
đã được các nhà nghiên cứu tập trung vào những mảng sau: đánh giá vai trò
điều tiết nước của rừng như khả năng ngăn cản nước mưa của tán rừng, lượng


10

nước phân chia thành dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm, lượng nước chảy
men thân cây, nguyên nhân xói mòn và hiện tượng xói mòn đất vùng đầu
nguồn...... là những cơ sở khoa học quan trọng.
Công trình nghiên cứu đầu tiên về xói mòn đất và dòng chảy được nhà
bác học Volni người Đức thực hiện trong thời kỳ 1877 đến 1885 (Hudson N,

phương trình của Wischmeier W.H - Smith D.D được thừa nhận và ứng dụng
rộng rãi (Smith D.D. và Wischmeier W.H. (1966; 1971) [90]; [91], Ching
J.G. (1978) [83], Bennet K., (1958), Daxlavxkii, (1962; 1977),... (Dẫn theo
Võ Đại Hải, 1996) [26]. Những nghiên cứu này đã góp phần tìm ra cơ chế
của quá trình xói mòn cũng như việc đề xuất các biện pháp chống xói mòn
thích hợp và có ý nghĩa đặc biệt đối với công tác xây dựng rừng phòng hộ
đầu nguồn.
Nghiên cứu về vật rơi rụng và khả năng giữ nước của nó các tác giả cho
thấy: Vật rơi rụng có khả năng ngăn giữ nước tương đối lớn, nên có tác dụng
bổ sung nước cho đất và cung cấp nước cho thực vật (Vu Chí Dân & Vương
Lễ Tiên, 2001) [12]. Ngoài ra, do vật rơi rụng có những lỗ hổng lớn và nhiều
hơn so với đất, nên lượng nước ngăn giữ lại dễ dàng bốc hơi đi. Những
nghiên cứu của Black và Kelliher (1998) (dẫn theo Vu Chí Dân & Vương Lễ
Tiên, 2001) [15] cho thấy rằng, lượng nước bốc hơi từ vật rơi rụng của các
kiểu rừng khác nhau chiếm khoảng 3 - 21% tổng lượng nước bốc hơi trên mặt
đất rừng.
Xây dựng các mô hình hoá trong nghiên cứu thuỷ văn rừng cũng
được nhiều tác giả quan tâm như: Richard A., et all., (2000), Ward R.C. &
Robinson M. (2010), Van Dijk et all (2004), Yong G. Lai (2009) [89],....
FAO (1995) cho rằng, rừng có tác dụng quan trọng trong việc điều tiết
dòng chảy, giảm lưu lượng nước bề mặt, góp phần làm giảm lũ lụt. Đối với
lưu vực nhỏ, thấy rằng độ che phủ của rừng có thể làm giảm thiểu lượng
nước lúc chảy xuống hạ lưu (Dẫn theo Vũ Tấn Phương, 2009) [52].
Tóm lại: Ở các nước tiên tiến trên thế giới, các công trình nghiên cứu
về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung và rừng phòng hộ đầu nguồn nói riêng


12

rất phong phú, đa dạng đã mang lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng. Các

13

quyết (C). Thái Văn Trừng đã bổ sung phương pháp biểu đồ mặt cắt đứng của
Davit – Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam.
Nguyễn Văn Trương (1983) [77] khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài
đã xem xét sự phân tầng theo hướng định lượng, phân tầng theo cấp chiều cao
một cách cơ giới.
Vũ Đình Phương (1987) [50] đã nhận định việc xác định tầng thứ của
rừng lá rộng thường xanh là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, nhưng chỉ trong
trường hợp rừng có sự phân tầng rõ rệt có nghĩa là khi rừng đã phát triển ổn
định mới sử dụng phương pháp định lượng để xác định giới hạn của các tầng
cây.
Đào Công Khanh (1996) [33] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm
cấu trúc rừng lá rộng thường xanh ở Hương Sơn, Hà Tĩnh làm cơ sở đề xuất
một số biện pháp lâm sinh phục hồi khai thác và nuôi dưỡng rừng.
Vũ Đình Phương, Đào Công Khanh [51] thử nghiệm phương pháp
nghiên cứu một số quy luật cấu trúc, sinh trưởng phục vụ điều chế rừng lá
rộng, hỗn loại thường xanh ở Kon Hà Nừng – Gia Lai cho rằng đa số loài cây
có cấu trúc đường kính và chiều cao giống với cấu trúc tương ứng của lâm
phần, đồng thời cấu trúc của loài cũng có những biến động.
Về nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng được nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu. Với rừng tự nhiên hỗn giao khác tuổi, từ kết quả nghiên cứu của
Đồng Sỹ Hiền (1974) [28] cho thấy, dạng tổng quát của phân bố N/D 1.3 là
phân bố giảm, nhưng do quá trình khai thác chọn thô không theo quy tắc nên
đường thực nghiệm thường có dạng hình răng cưa và ông đã chọn hàm Meyer
để mô phỏng cấu trúc đường kính cây rừng. Nguyễn Hải Tuất (1982,1986)
[75,76] sử dụng phân bố khoảng cách mô tả phân bố thực nghiệm dạng một
đỉnh ở ngay sát cỡ đường kính bắt đầu đo. Bảo Huy (1993) [31] cho rằng
phân bố khoảng cách thích hợp hơn các dạng phân bố khác. Trần Cẩm Tú
(1999) [74], Trần Văn Con (1991) [12] lại cho rằng hàm Weibull thích hợp

tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của
rừng nhiệt đới. Dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây tái sinh tương tự
tầng cây gỗ: “Dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ mềm kém giá
trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện rõ nét tạo nên sự phân bố số


15

cây không đồng đều trên mặt đất rừng”. Với những kết quả đó, tác giả đã xây
dựng biểu đánh giá tái sinh áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng miền Bắc
nước ta.
Nguyễn Vạn Thường (1991) [73] đã tổng kết và đưa ra kết luận về tình
hình tái sinh tự nhiên ở một số khu rừng miền Bắc Việt Nam như sau: Hiện
tượng tái sinh dưới tán rừng của những loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục,
không mang tính chu kỳ. Sự phân bố cây tái sinh rất không đồng đều, số cây
mạ chiếm ưu thế rõ rệt so với số cây ở cấp tuổi khác.
Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1987) [78] khi nghiên cứu về thảm thực
vật rừng Việt Nam, đã kết luận: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và
điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng.
Ảnh hưởng của biện pháp lâm sinh tới tái sinh tự nhiên của quần xã
thực vật còn được một số tác giả nghiên cứu, Phùng Ngọc Lan (1984), Hoàng
Kim Ngũ (1984), Nguyễn Duy Chuyên (1995) [11], Nguyễn Ngọc Lung
(1985).
Theo tài liệu của Viện điều tra quy hoạch rừng (1993) thì tại khu vực
lâm trường Sông Đà – Hòa Bình xuất hiện một số loài cây có giá trị như: Sến,
Dẻ, Re, Táu...Nhưng do quá trình khai thác không hợp lý, những loài cây này
dần bị mất đi và thay vào đó là những loài cây ưa sáng, mọc nhanh, ít có giá
trị kinh tế.
Bùi Văn Chúc (1996) [10] đã nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phòng
hộ đầu nguồn tại lâm trường Sông Đà ở các trạng thái rừng IIA và IIIA1 và

có cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn. Tuy nhiên đấy mới chỉ là nghiên cứu
bước đầu về cấu trúc, cần phải có những nghiên cứu sâu hơn về việc mô
phỏng cấu trúc cũng như các ảnh hưởng của cấu trúc rừng đến khả năng điều
tiết, duy trì lượng nước, một trong những vai trò chủ đạo của rừng phòng hộ
đầu nguồn.
Tác giả Vũ Văn Mễ và Nguyễn Thanh Đạm (1990) [41] lại xây dựng
phương thức trồng rừng kinh tế ở vùng khô hạn, trong đó hai vấn đề được
xem xét là tổ thành loài cây trồng và kết cấu đai rừng phòng hộ. Công trình đề
cập khá nhiều đến việc phối hợp các loài cây phòng hộ, kinh tế, đặc biệt là về


17

cấu trúc và đai rừng phòng hộ, có ý nghĩa lớn trong việc xây dựng các đai
rừng cải thiện điều kiện khí hậu, đất đai.
Kết quả nghiên cứu các dạng cấu trúc hợp lý cho rừng phòng hộ đầu
nguồn ở Việt Nam, theo Võ Đại Hải (1995) [25], độ tàn che, tầng thứ, tổ
thành loài cây là những nhân tố cấu trúc ảnh hưởng rất lớn tới xói mòn đất và
lượng phân phối nước mưa trong rừng. Rừng 3 tầng và 2 tầng, hỗn loại, độ
tàn che 0,7 – 0,8 là những mô hình cấu trúc tốt nhất của rừng phòng hộ đầu
nguồn. Trong mô hình này tầng thảm tươi, cây bụi và lớp thảm mục rừng giữ
một vai trò quan trọng.
Bước đầu tìm hiểu đặc điểm cấu trúc rừng phòng hộ đầu nguồn, làm cơ
sở đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý tại xã Canh Thuận, huyện Vân
Canh, tỉnh Bình Định, Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp, 1999 [65] cho
thấy: Phân bố N/D có dạng giảm hàm Meyer đối với các trạng thái rừng
IIIA1, IIIA2, dạng một đỉnh lệch trái hàm Weibull đối với trạng thái rừng IIB,
Phân bố N/H đều có dạng một đỉnh lệch trái, phản ánh sự phân tầng của rừng
kín thường xanh với β = 1,7 – 2,11.
Dựa trên kinh nghiệm quốc tế và kết quả nghiên cứu trong nước về

Bạch đàn và Keo lá tràm, khả năng ngăn cản nước mưa bình quân chỉ bằng 18
– 27%. Lượng nước mưa bị tán rừng ngăn cản dao động từ 30 – 38% đối với
rừng tự nhiên và rừng thứ sinh và từ 15 – 25% đối với rừng tự nhiên đã qua
khai thác và rừng trồng.
Nghiên cứu xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn cũng được nhiều tác giả
quan tâm, điển hình là công trình nghiên cứu của Ngô Đình Quế và CS (2001)
[55], Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2002) [67], các tác giả đã đưa ra một số mô
hình phục hồi rừng và đề xuất một số giải pháp sử dụng đất dốc vùng đầu
nguồn. Khi nghiên cứu tiêu chí phân chia rừng phòng hộ đầu nguồn bị suy
thoái nghiêm trọng ỏ Việt Nam, tác giả Ngô Đình Quế, Vũ Tấn Phương,
Hoàng Việt Anh (2010) [56] đã đưa ra 11 tiêu chí phân chia rừng phòng hộ bị
suy thoái và 7 tiêu chí đánh giá suy thoái rừng phòng hộ đầu nguồn, tác giả
cũng đưa ra kết quả phân chia rừng phòng hộ đầu nguồn bị suy thoái nghiêm


19

trọng ở một số lưu vực đầu nguồn (sông Cầu, sông Thạch Hãn, sông Đạ Tẻh)
và thử nghiệm bộ tiêu chí tại lưu vực sông Cả, độ chính xác của việc xác định
quy mô rừng phòng hộ đầu nguồn bị suy thoái bằng các tiêu chí đề xuất từ 70
– 87%. Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu khác về rừng phòng hộ đầu
nguồn như: Bùi Đoàn (2001) [24], Ngô Quang Đê (2001) [19], Nguyễn Anh
Dũng (2001) [16],....
Theo Hoàng Liên Sơn và các cộng sự (2005) [70], Dự án trồng mới 5
triệu ha rừng giai đoạn 1998 - 2004 đã xây dựng được khá nhiều mô hình
rừng trồng phòng hộ đầu nguồn. Kết quả tổng hợp số liệu báo cáo của các tỉnh
có trồng rừng phòng hộ đầu nguồn cho thấy các mô hình khá đa dạng. Tổng
số có tới 188 mô hình trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, mật độ trồng rừng rất
khác nhau tùy thuộc vào từng loài cây và kỹ thuật áp dụng trong mỗi mô hình.
Căn cứ vào các loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn có thể chia các mô

10 - 150 thì xói mòn sẽ tăng lên 21,44%, chiều dài sườn dốc tăng lên gấp đôi
thì xói mòn cũng tăng lên gấp 2 lần. Một số kết quả nghiên cứu khác cho thấy
độ tàn che và tầng thứ ảnh hưởng lớn tới xói mòn, rừng nhiều tầng là mô hình
tốt nhất, trong đó thảm tươi giữ một vai trò đặc biệt quan trọng.
Từ năm 1973 đến năm 1981 với cơ sở thí nghiệm ban đầu do chuyên gia
Liên Xô cũ giúp đỡ, Bộ môn khí tượng thuỷ văn rừng thuộc Viện Nghiên cứu
Lâm nghiệp đã xây dựng các khu nghiên cứu thuỷ văn rừng định vị ở Núi Tiên
(Hữu Lũng) và Tứ Quận (Hà Tuyên). Các công trình nghiên cứu trong thời
gian này tập trung chủ yếu vào nghiên cứu một số các nhân tố khí hậu rừng,
khả năng ngăn cản nước mưa của tán rừng, ảnh hưởng của độ tàn che rừng tới
khả năng giữ đất và điều tiết dòng chảy mặt của rừng như công trình của Bùi
Ngạnh và Nguyễn Danh Mô (1977) [46], của Bùi Ngạnh và Nguyễn Ngọc
Đích (1985) [45],... Đây là những công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối có
hệ thống và có cơ sở khoa học về thuỷ văn rừng ở nước ta với một số quan
điểm và phương pháp nghiên cứu tiến bộ, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
lớn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề phải đi sâu thêm như cơ sở và dẫn liệu


21

của việc đánh giá khả năng điều tiết nước, giữ đất của lớp thảm tươi, cây bụi,
một số nội dung nghiên cứu về thuỷ văn rừng chưa đề cập đầy đủ, mới chỉ
nghiên cứu dòng chảy mặt và lượng đất xói mòn ở các độ tàn che khác nhau.
Trong những năm 1980, các công trình nghiên cứu đã tập trung vào xói
mòn đất và khả năng giữ nước của một số thảm cây trồng nông nghiệp và
công nghiệp, đặc biệt là ở các vùng Tây Nguyên. Trong thời gian này, nhiều
khu nghiên cứu quan trắc định vị đã được xây dựng kiên cố bằng gạch và xi
măng, gỗ, kim loại,… Hàng loạt các công trình mang nhiều sắc thái và đi vào
định lượng một cách vững chắc như công trình nghiên cứu của Nguyễn
Quang Mỹ, Lê Thạc Cán (1983) [43], của Nguyễn Quang Mỹ, Quách Cao

ha.
Việc phá rừng đầu nguồn gây ra những tác động nghiêm trọng, đặc biệt là
hiện tượng xói mòn và bồi lắng. Theo Đặng Huy Huỳnh (1990), diện tích lưu vực
hồ Hoà Bình là 2.568.000 ha, trong đó diện tích rừng trên lưu vực (chủ yếu là
rừng nghèo kiệt) chỉ còn 266.000 ha. Lượng bùn cát lắng đọng ở hồ Hoà Bình
trung bình hàng năm là khoảng 83,6 triệu tấn. Với tốc độ này sau 25 năm lòng hồ
thuỷ điện Hoà Bình sẽ mất 60% dung tích chính (Dẫn theo Võ Đại Hải, 1996)
[26].
Vấn đề sử dụng đất ở vùng hồ thuỷ điện nước ta cũng được nhiều nhà khoa
học quan tâm, trong đó phải kể đến các công trình tiêu biểu sau đây: Nghiên cứu
định hướng các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng hồ của Trần
Thanh Bình (1991) [7]; Nguyễn Đình Tư (1992) [80]; Nghiên cứu kỹ thuật và
công nghệ canh tác trên đất dốc của Nguyễn Xuân Quát (1994) [54]; của Thái
Phiên và Nguyễn Tử Siêm (1996, 1999) [68]. Ngoài ra, có nhiều tác giả khác cũng
đề cập đến sử dụng đất ở vùng hồ thuỷ điện như: Nguyễn Văn Tuấn (1996),
Nguyễn Đức Vũ (2001) ... Đặc biệt, Vương Văn Quỳnh và cộng sự (2000) [64] đã
phân chia việc sử dụng đất ở vùng hồ Hoà Bình thành 3 hệ thống: hệ thống canh
tác nông nghiệp, hệ thống canh tác rừng trồng và hệ thống canh tác nông lâm kết
hợp. Qua phân tích cho thấy phương thức canh tác ruộng nước tác động đến kinh
tế, xã hội và môi trường có hiệu quả nhất so với các phương thức canh tác khác
[82]. Tuy nhiên, ở vùng lòng hồ đất nông nghiệp chủ yếu là nương rẫy còn ruộng


23

nước chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số đất nông nghiệp. Do đó, sử dụng đất
trong vùng hồ đạt hiệu quả chưa cao, áp lực lên tài nguyên rừng phòng hộ còn rất
lớn.
1.4. Nhận xét và đánh giá chung
Điểm qua các công trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy, rừng phòng

hình trồng rừng phòng hộ đầu nguồn như: Trồng cây bản địa, làm giàu rừng,
tái sinh rừng,… cũng đã được đặt ra và thực hiện trong nhiều năm qua, tuy
nhiên kết quả mang lại vẫn còn nhiều hạn chế. Xuất phát từ những yêu cầu
trên, đề tài luận án đặt ra là cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn và lý luận.

Chương 2
MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Về lý luận
Góp phần làm rõ một số đặc điểm lâm học của rừng phòng hộ đầu
nguồn: địa hình, thổ nhưỡng, cấu trúc và tái sinh rừng làm cơ sở cho việc đề
xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh.
2.1.2. Về thực tiễn
Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm phục hồi rừng
dựa trên các kết quả nghiên cứu về một số đặc điểm lâm học.
2.2. Giới hạn nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là 4 trạng
thái rừng phòng hộ có diện tích lớn ở vùng hồ thủy điện Hòa Bình: Rừng non
phục hồi (IIA, IIB); Rừng tự nhiên nghèo và trung bình (IIIA1, IIIA2).
- Về phạm vi và địa điểm nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn xã
Vầy Nưa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.
- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu một số đặc điểm lâm
học của một số trạng thái của rừng phòng hộ đầu nguồn: Đặc điểm địa hình,
thổ nhưỡng, cấu trúc và tái sinh rừng.
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Nghiên cứu đặc điểm điều kiện nơi mọc của rừng phòng hộ đầu
nguồn
2.3.1.1. Địa hình
2.3.1.2. Thổ nhưỡng
2.3.1.3. Mưa

trưởng phát triển của rừng. Mỗi trạng thái rừng ở mỗi điều kiện khác nhau lại
có những thay đổi về thành phần loài, về cấu trúc..và thích ứng với hoàn cảnh
riêng. Mọi biện pháp tác động vào rừng và từng trạng thái cụ thể không chỉ
ngẫu nhiên mà nó là kết quả tổng hợp phân tích, so sánh đối chiều và tìm ra
biện pháp tác động phù hợp nhất. Để thực hiện được điều đó thì việc tạo lập
nên một hoàn cảnh sinh thái phù hợp với loài cây trồng trong từng trạng thái
thông qua điều tra, nghiên cứu trong một thời gian dài trong các OTC định vị
là thực sự cần thiết.
Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài được thực hiện như sau:
Th thập, kế thừa các
tài liệu, số liệu đã có



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status