VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI - Pdf 50

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------

NGUYỄN HOÀNG LONG

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI
(Nghiên cứu tại xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------

NGUYỄN HOÀNG LONG

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI
(Nghiên cứu tại xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60.90.01.01

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THẾ HUỆ

Hà Nội - 2018

bạn đọc. Chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn

Nguyễn Hoàng Long


MỤC LỤC
Tiêu đề

Trang

MỤC LỤC................................................................................................................ 3
DANH MỤC CÁC BẢNG.......................................................................................5
DANH MỤC CÁC BIỂU.........................................................................................7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT.........................................................................9
MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài..................................................................................................1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu.............................................................................3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn..........................................................................22
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................23
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu..................................................23
6. Câu hỏi nghiên cứu............................................................................................24
7. Giả thuyết nghiên cứu.......................................................................................24
8. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................25
NỘI DUNG CHÍNH..............................................................................................29
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI..........................29

1.1. Khái niệm công cụ....................................................................................29
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm về NCT được quy định
tại Điều 2, Chương I, Luật Người cao tuổi (2009): Người cao tuổi là tất

vật chất cho người cao tuổi tại địa bàn....................................................85
3.1.4. Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động chăm sóc đời sống
tinh thần cho người cao tuổi tại địa bàn..................................................88
3.1.5. Đánh giá của NCT về vai trò của nhân viên xã hội.......................91
3.2. Đề xuất vai trò chuyên nghiệp của nhân viên công tác xã hội trong hoạt
động chăm sóc người cao tuổi tại địa bàn.......................................................93
KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ..............................................................................99
2. KHUYẾN NGHỊ..............................................................................................100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................102
PHỤ LỤC.............................................................................................................107


DANH MỤC CÁC BẢNG
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC BIỂU 7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 9
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 22
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 23
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 23
6. Câu hỏi nghiên cứu 24
7. Giả thuyết nghiên cứu 24
8. Phương pháp nghiên cứu 25
NỘI DUNG CHÍNH 29
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 29

1.1. Khái niệm công cụ 29

cho người cao tuổi tại địa bàn 82
3.1.3. Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động chăm sóc đời sống
vật chất cho người cao tuổi tại địa bàn 85
3.1.4. Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động chăm sóc đời sống
tinh thần cho người cao tuổi tại địa bàn 88
3.1.5. Đánh giá của NCT về vai trò của nhân viên xã hội 91
3.2. Đề xuất vai trò chuyên nghiệp của nhân viên công tác xã hội trong hoạt
động chăm sóc người cao tuổi tại địa bàn 93
KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 99
2. KHUYẾN NGHỊ 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 107


DANH MỤC CÁC BIỂU
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC BIỂU 7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 9
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 22
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 23
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 23
6. Câu hỏi nghiên cứu 24
7. Giả thuyết nghiên cứu 24
8. Phương pháp nghiên cứu 25
NỘI DUNG CHÍNH 29
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 29

3.1.1. Nhận thức về vai trò của nhân viên xã hội của NCT tại địa bàn 79
3.1.2. Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động chăm sóc sức khỏe
cho người cao tuổi tại địa bàn 82
3.1.3. Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động chăm sóc đời sống
vật chất cho người cao tuổi tại địa bàn 85
3.1.4. Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động chăm sóc đời sống
tinh thần cho người cao tuổi tại địa bàn 88
3.1.5. Đánh giá của NCT về vai trò của nhân viên xã hội 91
3.2. Đề xuất vai trò chuyên nghiệp của nhân viên công tác xã hội trong hoạt
động chăm sóc người cao tuổi tại địa bàn 93
KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 99
2. KHUYẾN NGHỊ 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 107


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NCT
CLB
LĐ-TB&XH
CSSK
TDTT
CTXH
NVCTXH

: Người cao tuổi
: Câu lạc bộ
: Lao động - Thương binh và Xã hội
: Chăm sóc sức khỏe
: Thể dục thể thao

thường xuyên tổ chức các hoạt động chăm sóc, trợ giúp và phát huy vai trò
NCT. Theo thống kê đến cuối năm 2016, xã Long Xuyên có tổng số 1.022

1


NCT, số NCT nghèo có 83 người, NCT cận nghèo có 102 người, NCT cô đơn
có 39 người. Hầu hết NCT tại xã Long Xuyên hiện đều đang tham gia sinh
hoạt các hoạt động cộng đồng do địa phương tổ chức cho NCT như: chăm sóc
sức khỏe, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần… Các hoạt động này được
địa phương tổ chức thường xuyên và trợ giúp cho đối tượng NCT tham gia
khá hiệu quả. Đội ngũ cán bộ xã Long Xuyên tham gia vào hoạt động chăm
sóc, trợ giúp NCT rất đông đảo, thuộc nhiều tầng lớp, cơ quan đoàn thể khác
nhau như: Hội NCT, Cán bộ chính sách xã hội, Mặt trận tổ quốc, Hội Phụ nữ,
Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, cán bộ y tế xã, tình
nguyện viên trợ giúp NCT tại cộng đồng… Xã Long Xuyên từ nhiều năm qua
luôn phát huy truyền thống tốt đẹp, gia đình và cộng đồng cùng chung tay
chăm sóc và phát huy vai trò NCT, các phong trào về NCT thường xuyên
được triển khai trong cộng đồng.
Cùng với xu hướng già hóa dân số nhanh và nhiều vấn đề nảy sinh từ
phía NCT, rất cần có những chính sách và hoạt động chăm sóc, trợ giúp cho
đối tượng là NCT hiện đang sinh sống tại cộng đồng, chú trọng tới nhóm
NCT thiệt thòi, dễ bị tổn thương tại cộng đồng nhằm bảo đảm những quyền,
lợi ích hợp pháp cho NCT, đáp ứng nhu cầu về mọi mặt cho NCT. Hoạt động
chăm sóc NCT tại cộng đồng đã đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của số
đông NCT và nguyện vọng của xã hội, có những tác động tích cực, góp phần
nâng cao đời sống cho NCT ở nhiều địa phương, trong đó có NCT tại địa bàn
nghiên cứu thuộc xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên tác giả lựa chọn đề tài
“Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc người cao tuổi

Forest). Nghiên cứu này được tiến hành từ năm 1993 - 1994 tại Viện Nghiên
cứu sức khỏe tim mạch bằng phương pháp nghiên cứu định lượng bao gồm
5.888 người đàn ông và phụ nữ từ 65 tuổi trở lên được chọn ngẫu nhiên từ
danh sách đủ điều kiện chăm sóc y tế ở 4 cộng đồng: quận Forsyth, quận
Sacramento, quận Washington và quận Alleghny. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
các rào cản chủ yếu như sự thiếu đáp ứng của bác sỹ đối với bệnh nhân, không

3


có bảo hiểm, các rào cản về tâm lý và thể chất khác… Nghiên cứu này không
chỉ khái quát thực trạng chăm sóc sức khỏe đối với NCT, những rào cản tác
động đến việc NCT nhận được sự quan tâm, chăm sóc riêng ở nước Mỹ. Chúng
ta cũng có thể nhận thấy những rào cản này ngay trong xã hội Việt Nam.
Những rào cản này sẽ được đề tài quan tâm, chỉ ra hướng khắc phục.
Theo tác giả M.Nizamuddin trong Report prepared for the Asian
Population Conference - Pacific Fifth [56], Bangkok - Thái Lan (1114/12/2002), báo cáo đã đề cập tới vấn đề già hóa dân số và đề xuất những
giải pháp cho tình hình già hóa dân số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương,
tác giả đã nhấn mạnh đến vấn đề quá độ nhân khẩu học đưa đến già hóa dân
số, một hậu quả không thể tránh khỏi của giảm sinh nhanh và duy trì cải thiện
mức tử vong là già hoá dân số; những tác động về mặt kinh tế - xã hội của già
hóa dân số; các chính sách và chương trình, các mô hình chăm sóc, trợ giúp
NCT đã có và sự tham gia của cộng đồng trong việc ứng phó với vấn đề già
hóa. Báo cáo cũng nhấn mạnh vấn đề hỗ trợ của gia đình và vai trò cùng
chung sống, bởi tại hầu hết các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình
Dương gia đình vẫn là nền tảng của cơ cấu xã hội, trong đó việc chăm sóc
NCT là trách nhiệm đặc biệt của gia đình, gia đình giữ vai trò nền tảng này,
nghiên cứu còn nhấn mạnh chức năng cả gia đình tròn chăm sóc NCT. Tuy
nhiên, do ảnh hưởng của toàn cầu hoá, đô thị hoá, di cư và xu hướng ngày
càng tăng của các gia đình hạt nhân, việc thu xếp cùng chung sống với NCT

dịch vụ tạo điều kiện chăm sóc tại nhà tương đối phát triển. Sự khác biệt trong
cách chọn nhà của NCT ở nước EU là do chuẩn mực về văn hóa, lý do về
kinh tế, chính sách xã hội của từng quốc gia là khác nhau; từ kết quả nghiên
cứu của INED cho thấy ngày càng có nhiều người trên 75 tuổi sống trong các
cơ sở xã hội.
Trong nghiên cứu của United Nations World Population Prospects
(2007): The 2006 Revision Highlights [58] Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã
đưa ra những phân tích cảnh báo cho biết, trong giai đoạn từ năm 2000 đến
2050 trên quy mô toàn cầu, số người già sẽ nhiều hơn số trẻ em dưới 14 tuổi.

5


Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, già hoá dân số sẽ trở thành một vấn đề lớn ở các
nước đang phát triển, nơi mà dân số sẽ bị già hoá nhanh chóng trong nửa đầu
của thế kỷ XXI. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh, các nước đang phát triển sẽ là
nơi có tỉ lệ NCT tăng cao nhất và nhanh nhất, theo dự báo số NCT ở khu vực
này sẽ tăng gấp 4 lần trong vòng 50 năm tới. Tỷ lệ NCT theo dự báo sẽ tăng
từ 8% lên 19% vào năm 2025, trong khi đó tỷ lệ trẻ em sẽ giảm từ 33% xuống
22%. Hơn một nửa dân số tuổi 80+ sống ở những nước đang phát triển, dự
báo sẽ tăng lên 71% vào năm 2050.
Trong nghiên cứu“Evaluating a community - based participatory
research project for elderly mental health care in rural America” [54] (Đánh
giá một dự án nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng về chăm sóc sức
khỏe tâm thần NCT ở nông thôn Mỹ) của Dean Blevins, Bridget Morton và
Rene McGovern. Nghiên cứu này nhằm khám phá bản chất hợp tác của các
đối tác trong chương trình CSSK tâm thần cho NCT ở nông thôn. Kết quả
nghiên cứu được công bố vào năm 2008. Đây cũng chính là mô hình CSSK
cho NCT mà đề tài quan tâm.
Nghiên cứu “Developing Model of Health Care management for the

cản trong việc tiếp cận các dịch vụ, các mô hình chăm sóc cũng như việc xây
dựng những Chương trình trợ giúp cho NCT phù hợp với điều kiện của mỗi
quốc gia. Điều này thể hiện được sự quan tâm của hầu hết các quốc gia đối
với NCT.
Nghiên cứu của Quỹ dân số Liên hợp quốc - UNFPA and HelpAge
(2012), Ageing in the Twenty-First Century: A Celebration and A Challenge
[59], đưa ra nhận định, dự báo và phân tích, đó là năm 1950 toàn thế giới có
205 triệu người từ 60 tuổi trở lên. Báo cáo phân tích thực trạng của NCT và rà
soát tiến độ thực hiện các chính sách hành động của chính phủ và các cơ quan
liên quan kể từ khi Hội nghị thế giới lần thứ hai về NCT diễn ra, nhằm thực
hiện Chương trình Hành động Quốc tế Madrid về NCT, đáp ứng những cơ hội
và thách thức của một thế giới đang già hóa. Báo cáo đưa ra nhiều ví dụ minh
họa sinh động về các chương trình đổi mới đã đáp ứng thành công vấn đề già

7


hóa và các mối quan tâm của NCT. Báo cáo cũng đưa ra những khuyến nghị
về định hướng tương lai nhằm đảm bảo mọi người ở mọi lứa tuổi trong xã hội
bao gồm cả NCT và giới trẻ có cơ hội góp phần xây dựng xã hội, cũng như
cùng được hưởng các phúc lợi xã hội đó.
Trong phiên họp toàn thể ngày 18/12/2014, Liên Hợp Quốc đã thông qua
Nghị quyết GA/RES/69/146 về công tác người cao tuổi [22], trong đó Nghị
quyết đã đưa ra 52 điều cần thực hiện. Nghị quyết đã đánh giá cao hiệu quả
của nhóm công tác mở của Liên Hợp Quốc về NCT (OEWG) được thành lập
từ 2010, trong đó có dự thảo Công ước về Quyền của NCT để đệ trình tại
phiên họp lần thứ 70 của Đại hội đồng Liên hợp quốc; nội dung Nghị quyết
cũng kêu gọi các quốc gia thành viên đóng góp ý kiến, đề xuất biện pháp cụ
thể trong việc đề xuất chiến lược chăm sóc, trợ giúp NCT; vấn đề đáng chú ý
là Nghị quyết đã đồng ý tổ chức các phiên họp định kỳ để lấy ý kiến của các

bài viết: “Nghiên cứu phúc lợi xã hội: Nhìn lại một chặng đường” [6], bài
viết đề cập đến nghiên cứu phúc lợi xã hội đối với NCT năm 1991, tổng kết
những nghiên cứu trước đây. Từ kết quả nghiên cứu này, tác giả Bùi Thế
Cường đã đề xuất, khuyến nghị nhằm nâng cao hơn nữa việc chăm sóc NCT
tại Việt Nam.
Bài viết “Mấy vấn đề ruộng đất và an sinh xã hội đối với người già ở
nông thôn hiện nay” [29] của tác giả Dương Chí Thiện (1996), đã tìm hiểu về
tác động chủ yếu của chính sách ruộng đất trong quá trình hình thành hệ
thống an sinh xã hội đối với NCT ở nông thôn. Chính sách này bước đầu đã
đem lại hiệu quả tích cực cho sự nghiệp phát triển nông thôn nói chung và
NCT ở nông thôn nói riêng, giúp NCT cải thiện đời sống vật chất, tinh thần.
Năm 1996 - 1997 có hai cuộc điều tra được thự hiện tại hai khu vực với
930 người từ 60 tuổi trở lên ở Hà Nội và 4 tỉnh lân cận vào năm 1996 (Bùi
Thế Cường, 1996) và ở miền Nam với 840 NCT tại thành phố Hồ Chí Minh
cùng 6 tỉnh thành lân cận năm 1997. Cuộc điều tra thu thập các thông tin về
tuổi, giới tính, nghề nghiệp, cách sắp xếp cuộc sống hộ gia đình... (Trương Sĩ

9


Ánh và cộng sự 1997).
Năm 1997, Vụ Các vấn đề xã hội của Quốc hội, đã tiến hành khảo sát
thực tế ở 9 tỉnh, thành phố: Tuyên Quang, Hà Nội, Thái Bình, Thanh Hóa, Đà
Nẵng, Phú Yên, Kon Tum, Bình Dương và Tiền Giang với 9.900 phiếu điều
tra về NCT. Mục đích của cuộc khảo sát nhằm tìm những căn cứ để xây dựng
một số chính sách đối với NCT Việt Nam.
Nghiên cứu về “Người cao tuổi và những vấn đề đặt ra đối với chính
sách xã hội” [2], 1999 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Kết quả
của đề tài đã đưa ra kiến nghị với Đảng và Nhà nước sớm ban hành chính
sách đồng bộ cho NCT để chăm sóc NCT tốt hơn; “Chăm sóc và phát huy vai

quan tâm cũng như kinh nghiệm về nghèo khổ và bị phân biệt của họ. Nghiên
cứu sử dụng phương pháp có sự tham gia để khuyến khích người dân nông
thôn nghèo, học vấn thấp có thể trao đổi cởi mở bằng ngôn ngữ và nhận thức
của chính họ.
Nghiên cứu: “Thực trạng người cao tuổi tại Hà Tây” [41], của Ủy ban
Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh Hà Tây, năm 2003. Nghiên cứu này được
triển khai tại 3 xã, phường, đó là: xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai, đại diện
cho khu vực nông nghiệp; xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, đại diện cho khu
vực làng nghề; phường Nguyễn Trãi, thị xã Hà Đông đại diện cho khu vực
thành thị. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra vai trò của NCT trong các hoạt động
sống hàng ngày, nhu cầu của họ cả vật chất lẫn tinh thần, tình trạng sức
khỏe…. Từ đó, đưa ra những giải pháp, nhằm nâng cao đời sống, nâng cao
chất lượng cuộc sống cho NCT tại địa phương.
Năm 2004, TW Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiến hành điều tra
“Thực trạng đời sống và tham gia Hội Phụ nữ của phụ nữ cao tuổi Việt
Nam” [15] ở 7 tỉnh thành trên các vùng miền của cả nước với 557 phụ nữ từ
50 tuổi trở lên được phỏng vấn về các thông tin liên quan đến nhu cầu của
phụ nữ cao tuổi và nhận thức của các cấp Hội phụ nữ về các vấn đề liên quan
đến NCT trong cộng đồng.
Nghiên cứu về thực trạng bạo lực gia đình tiến hành tại 3 tỉnh Quảng Trị,

11


Phú Yên và Đắk Lắk của Viện nghiên cứu Người cao tuổi Việt Nam được
xuất bản thành sách “Người cao tuổi và Bạo lực gia đình” [18] do tác giả
Nguyễn Thế Huệ chủ biên, nghiên cứu đã đề xuất những cơ chế pháp lý trong
việc xử phạt hành vi bạo hành đối với NCT, đề xuất những biện pháp trợ giúp
đời sống NCT bị bạo hành.
Trong “Nghiên cứu, điều tra thực trạng thu nhập và mức sống của NCT

chất, đời sống tinh thần, hoạt động việc làm, phát huy vai trò NCT tại địa
phương được thu thập và phân tích khá cụ thể; số liệu điều tra cũng phản ánh
khá sâu sắc về đời sống mọi mặt của NCT Việt Nam.
Theo tác giả Bùi Thế Cường trong cuốn sách “Trong miền an sinh xã hội những nghiên cứu về người cao tuổi Việt Nam” [5] xuất bản năm 2005, nghiên
cứu NCT trong nghiên cứu xã hội ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1970, đã
chỉ rõ rằng các nhà y khoa là những người đầu tiên khai phá lĩnh vực nghiên cứu
y học về NCT. Năm 1970, thành lập Chương trình nghiên cứu y học tuổi già và
mười năm sau trở thành đơn vị nghiên cứu y học tuổi già của Bộ Y tế.
Trong “Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi và đánh giá mô
hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đang áp dụng” [34] của Trung tâm
Nghiên cứu, Thông tin và Dữ liệu (Tổng cục DS-KHHGĐ) thực hiện năm
2005. Nghiên cứu đã chỉ ra được thực trạng chăm sóc sức khỏe của NCT tại
các nước đang phát triển, CSSK NCT tại khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt,
nghiên cứu đã đưa ra những đánh giá liên quan đến chăm sóc sức khỏe NCT
trong nước và một số địa bàn điều tra như: Yên Bái, Hải Dương, Thái Bình,
Quảng Bình, Đắc Lăk, TP. HCM, Sóc Trăng… qua các cuộc điều tra trước
đó. Đồng thời, đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
công tác chăm sóc sức khỏe NCT. Nghiên cứu đã chỉ ra sự thiếu quan tâm của
các cấp, các ngành trong việc chăm sóc NCT, cũng như tạo điều kiện cho các
tổ chức cá nhân xây dựng các trung tâm chăm sóc NCT, thu hút NCT vào
trung tâm, giảm gánh nặng cho Nhà nước.
Nghiên cứu về “Thực trạng và các giải pháp nâng cao chất lượng cuộc
sống của phụ nữ cao tuổi” [15], do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực hiện

13


năm 2005. Kết quả nghiên cứu đã phản ánh khái quát về thực trạng sống của
phụ nữ cao tuổi; nghiên cứu cũng chỉ ra chất lượng sống của phụ nữ cao tuổi
còn chưa được nâng cao, phần lớn phụ nữ cao tuổi chịu nhiều khó khăn và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status