KHẢO SÁT MỨC ĐỘ MẪN CẢM VỚI KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN ESCHERICHIA COLI PHÂN LẬP TỪ PHÂN GIA SÚC - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT MỨC ĐỘ MẪN CẢM VỚI KHÁNG SINH
CỦA VI KHUẨN ESCHERICHIA COLI
PHÂN LẬP TỪ PHÂN GIA SÚC

Họ và tên sinh viên: Đào Thị Phương Lan
Ngành: Dược Thú Y
Niên khóa: 2004 – 2009

Tháng 09/2009


HẢO SÁT MỨC ĐỘ MẪN CẢM VỚI KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN
Escherichia coli PHÂN LẬP TỪ PHÂN GIA SÚC

Tác giả

ĐÀO THỊ PHƯƠNG LAN

Khoá luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng
Bác sỹ Thú Y chuyên ngành Dược

Giáo viên hướng dẫn:
TS. VÕ THỊ TRÀ AN
BSTY. LÊ HỮU NGỌC

i

ii


TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài ”Khảo sát mức độ mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn Escherichia coli
phân lập từ phân gia súc” được tiến hành tại phòng thực hành Kiểm Nghiệm Thú Sản
và Môi Trường Sức Khỏe Vật Nuôi, khoa Chăn Nuôi – Thú Y, Trường Đại học Nông
Lâm Tp. HCM trong thời gian từ tháng 05/2009 đến tháng 08/2009. Đề tài được thực
hiện với mục đích góp phần cho việc chọn lựa liệu pháp điều trị bằng kháng sinh trên
một số loài gia súc (heo, bò) và xây dựng cơ sở dữ liệu về đề kháng kháng sinh trên
các loài gia súc này tại Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.
100 gốc vi khuẩn phân lập từ phân gia súc (heo, bò) được xác định độ mẫn cảm
với 11 loại kháng sinh thử nghiệm bằng phương pháp khuếch tán trên thạch. Các gốc
đề kháng với ceftazidime được xác định emzyme β-lactamase phổ rộng bằng phản ứng
Double disc test và AmpC disc test. Kết quả thu được như sau:
- Kháng sinh vẫn còn khả năng chống E. coli (in vitro) là ceftazidime, kế đến
là amoxicillin/clavulanic acid, norfloxacin với tỉ lệ các gốc E.coli mẫn cảm lần lượt là
93%, 73% và 66%.
- Các kháng sinh đã bị E. coli đề kháng là tetracycline, ampicillin,
trimethoprim/sulfamethoxazole, chloramphenicol với tỉ lệ đề kháng lần lượt là 77%,
70%, 69%, 60%.
- Các kháng sinh có tỉ lệ các gốc E. coli nhạy cảm trung gian cao bao gồm
colistin (với 55% nhạy cảm trung gian và 38% đề kháng), cephalexin (với 45% nhạy
cảm trung gian và 30% đề kháng); kanamycin (với 20% nhạy cảm trung gian và 47%
đề kháng), gentamicin (15% nhạy cảm trung gian và 45% đề kháng).
- Trong 5 gốc vi khuẩn E. coli đề kháng với ceftazidime, chúng tôi phát hiện
1 gốc (kí hiệu H5.2) có chứa enzyme β-lactamase phổ rộng. Không tìm thấy gốc nào
có chứa enzyme β-lactamase phổ rộng nhóm AmpC.

iii

2.9.1.2 Chọn lựa đĩa kháng sinh ............................................................................... 16
2.9.2.3 Qui trình kiểm tra chất lượng ....................................................................... 17
iv


2.9.2 Phương pháp định lượng ................................................................................. 19
2.10 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ...................................................... 19
2.10.1 Trong nước .................................................................................................... 19
2.10.2 Ngoài nước .................................................................................................... 20
CHƯƠNG 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH ......................... 22
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện......................................................................... 22
3.1.1 Thời gian.......................................................................................................... 22
3.1.2 Địa điểm .......................................................................................................... 22
3.2 Nội dung nghiên cứu .......................................................................................... 22
3.3 Vật liệu ............................................................................................................... 22
3.3.1 Đối tượng khảo sát........................................................................................... 22
3.3.2 Thiết bị và dụng cụ .......................................................................................... 24
3.3.3 Môi trường, hóa chất ....................................................................................... 24
3.4 Phương pháp tiến hành ....................................................................................... 25
3.4.1 Cách thực hiện ................................................................................................. 25
3.4.2 Tăng sinh gốc vi khuẩn chuẩn bị làm kháng sinh đồ ...................................... 26
3.4.3 Phương pháp kháng sinh đồ ............................................................................ 29
3.4.4 Phản ứng xác định sự hiện diện β–lactamse phổ rộng (Double Disc Test) .... 30
3.4.5 Phản ứng xác định sự hiện diện β-lactamse phổ rộng nhóm AmpC .............. 31
3.5 Chỉ tiêu theo dõi ................................................................................................. 31
3.6 Xử lý số liệu ....................................................................................................... 31
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN......................................................... 32
4.1 Xác định độ mẫn cảm của các gốc E. coli với 11 loại kháng sinh thử nghiệm bằng
phương pháp kháng sinh đồ...................................................................................... 32
4.2 Xác định emzyme β-lactamase phổ rộng trên các gốc E. coli bằng phản ứng double

MHA

Mueller – Hinton Agar

MR

Methyl Red

VP

Voges-Proskauer

NCCLS

National Committee for Clinical Laboratory Standards

PABA

para-aminobenzoic acid

PGA

pteroylglutamic acid

PBP

penicillin binding protein

vi


Biểu đồ
Biểu đồ 4.1: Tỉ lệ nhạy cảm của E. coli với từng loại kháng sinh .............................35
Biểu đồ 4.2: Tỉ lệ đề kháng của E. coli với từng loại kháng sinh ..............................36
Biểu đồ 4.3: Tỉ lệ nhạy cảm trung gian của E. coli với từng loại kháng sinh ............38

viii


Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Escherichia coli là vi khuẩn cộng sinh chiếm ưu thế, tồn tại tự nhiên trong hệ vi
sinh vật đường ruột của người và động vật. Tuy nhiên, khi có điều kiện thích hợp, một
số nhóm E. coli gây độc tăng sinh mạnh, trở thành nguyên nhân gây tiêu chảy nghiêm
trọng trên người và gia súc, đặc biệt là gia súc non. Ngoài ra, E. coli thải qua phân ra
môi trường bên ngoài dễ dàng trở thành nguyên nhân gây ô nhiễm nước và thực phẩm.
Khi có bệnh nhiễm trùng xảy ra thì kháng sinh luôn được nhắc đến như là một
phương pháp trị liệu đặc hiệu. Để sử dụng kháng sinh có hiệu quả trong phòng trị bệnh
cho gia súc, gia cầm, người sử dụng kháng sinh cần phải biết loại kháng sinh đó có
mẫn cảm với các chủng vi khuẩn gây bệnh hay không. Muốn vậy, các dữ liệu về nhạy
cảm kháng sinh phải được khảo sát và áp dụng trên các vi khuẩn gây bệnh cho từng ca
bệnh hoặc từng khu vực địa lí.
Trong các kháng sinh sử dụng cho gia súc và gia cầm, kháng sinh nhóm βlactam, đặc biệt là các cephalosporin thế hệ III bắt đầu được sử dụng rộng rãi. Kháng
sinh nhóm cephalosporin thế hệ III có phổ kháng khuẩn rộng trên các vi khuẩn G+ và
G-, chúng lại có đặc tính dược động học tốt, dễ hấp thu và phân bố đều khắp các mô
trong cơ thể. Việc đề kháng với các kháng sinh nhóm này của các chủng vi khuẩn sẽ
gây khó khăn trong công tác điều trị. Đặc biệt, nếu vi khuẩn có khả năng sản sinh các
β-lactamase phổ rộng (extended-spectrum beta-lactamase, ESBL) thì chúng sẽ có thể
đề kháng với rất nhiều kháng sinh trong họ β-lactam. Do đó, tầm soát sự hiện diện các
enzyme này trong các chủng vi khuẩn sẽ góp phần trong việc chọn lựa các kháng sinh

ánh kim. Có thể xác định vi khuẩn này nhờ các đặc tính sinh hóa: lên men sinh hơi
lactose, glucose, galactose, mannite, lên men không đều saccarose, không lên men
dextrin, glycogen. Các phản ứng IMVIC (indol, methyl red, Vosges-Proskauer,
citrate): +/- + - -. Không tạo H2S và hoàn nguyên NO3 thành NO2 (Nitrate dương tính).
E. coli có 4 loại cấu trúc kháng nguyên gồm: O, H, K, F. Kháng nguyên O là
kháng nguyên chịu nhiệt, phân bố trên thành tế bào, được chia thành 4 nhóm lớn O I,
O II, O III, O IV với 150 loại kháng nguyên đơn giá. Kháng nguyên K là loại kháng
nguyên chịu nhiệt kém (dễ phá hủy 1000C trong vòng 1 giờ). Kháng nguyên gồm 4
loại A, B, L, và M. Các kháng nguyên này có tính chất ngưng kết chéo với kháng
nguyên thân O, vì vậy khi tiến hành thử ngưng kết cần phải đun sôi để loại bỏ kháng
nguyên. E. coli có khoảng 20 loại kháng nguyên H, ít có ý nghĩa trong chẩn đoán.
Kháng nguyên lông bám (pili: F) giúp cho vi khuẩn bám chặt lên niêm mạc ruột và tiết
độc tố gây bệnh.
Bình thường E. coli có sẵn trong ruột nhưng chỉ gây bệnh khi sức đề kháng của
con vật bị sút kém, khi quản lí kém, mất vệ sinh, con vật bị cảm lạnh. Bệnh do nhiễm
E. coli còn được gọi là bệnh colibacillosis thường xảy ra ở gia súc non. Ở heo thường
có 3 loại E. coli có liên quan: (i) Loại sinh độc tố đường ruột ETEC (Enterotoxigenic
E. coli) gây tiêu chảy ở heo sơ sinh và cai sữa. ETEC gây bệnh bằng cách tiết 2 độc tố
ST và LT. (ii) Loại gây bệnh đường ruột EPEC (Enteropathogenic E. coli) gây bệnh
3


tiêu chảy thường gặp trên heo lớn. (iii) Loại gây phù thủng VTEC (verocytotoxinproducing E. coli): ngoại độc tố EDP (Edema Disease Principle) hay SLT (Shiga Like
Toxin) vì gần giống độc tố của Shigella hay verotoxin do gây độc với tế bào Vero.
Độc tố này tạo bệnh tích ở biểu mô của mạch máu và tạo bệnh tích thủy thủng. Các
serotype gây bệnh thủy thủng phổ biến là O138K81, O139K82, O141K85
Biểu hiện của bệnh do E. coli gồm đi tháo dạ, phân xanh, mùi hôi thối. Heo con
bỏ bú, gầy rạc. Tỉ lệ chết cao ở heo sơ sinh, heo chết do phù thủng có biểu hiện xuất
huyết toàn thân. Ngoài ra, E. coli còn gây bệnh trên các loài khác như: tiêu chảy phân
trắng trên bê dưới 1 tuần tuổi; viêm nhiễm đường niệu trên chó; viêm rốn ở gà con,

dụng. Trong khi đó, vancomycin ức chế ở một giai đoạn khác với việc ngăn cản sự di
chuyển đường pentapeptide thành chuỗi đa phân tử bên ngoài màng tế bào.
Nhóm

tetracycline:

tetracycline,

oxytetracycline,

chlotetracycline,

doxycycline... Kháng sinh nhóm tetracycline gắn vào tiểu đơn vị 30S và phong bế sự
kết hợp của tRNA với mRNA, làm ngừng quá trình tổng hợp protein.
Nhóm phenicol: chloramphenicol, thiamphenicol, florphenicol... Kháng sinh
nhóm chloramphenicol gắn với tiểu đơn vị 50S, ức chế enzyme peptidyl transferase
không cho acid amin gắn vào chuỗi polypeptide. Chloramphenicol có ái lực với cả
ribosome của động vật hữu nhũ.
Nhóm macrolide: erythromycin, spiramycin, tulathromycin, josamycin,
tylosin… Nhóm kháng sinh gần gũi với macrolide: lincomycin, virginiamycin. Kháng
sinh nhóm macrolide tranh giành vị trí gắn ở ribosome và ngăn cản vị trí dịch chuyển
các acid amin. Các kháng sinh này ức chế tổng hợp protein của vi khuẩn.
Nhóm

sulfonamide:

sulfaguanidin,

sulfacetamid,


phát từ nhiều nguồn như việc sử dụng kháng sinh trong phòng, trị bệnh cho động vật,
kháng sinh dùng với mục đích kích thích tăng trọng trong thức ăn gia súc.
Hiện tượng đề kháng kháng sinh ngày càng gia tăng trong nhiều loài vi khuẩn
gây bệnh cho người và gia súc đang là mối quan tâm lo lắng cho toàn xã hội. Vi khuẩn
đề kháng kháng sinh làm giới hạn khả năng điều trị bệnh nhiễm trùng, một số trường
hợp dẫn đến tử vong do vi khuẩn gây bệnh đề kháng với hầu hết kháng sinh dùng
trong lâm sàng. Hơn thế nữa, các chủng vi khuẩn không gây bệnh nhưng đề kháng với
kháng sinh hay đa đề kháng còn là nơi tồn trữ tính kháng thuốc để truyền lại cho
những vi khuẩn gây bệnh khác.
Đề kháng với kháng sinh được phân loại gồm đề kháng tự nhiên (insitrinsic
resistance) và đề kháng thu nhận (acquired resistance). Vi khuẩn đề kháng tự nhiên với
kháng sinh do chúng không có cơ chế tế bào cần thiết cho kháng sinh tác động. Ví dụ,
Enterobacteriaceae kháng vancomycin, vi khuẩn G+ kháng polymyxin B. Đề kháng
thu nhận có thể xảy ra do đột biến nhiễm sắc thể của tế bào vi khuẩn hoặc do vi khuẩn
nhận các vật liệu di truyền (gene) liên quan đến kháng thuốc từ vi khuẩn khác. Do vi
khuẩn có chu kỳ phát triển từ vài giây đến vài phút nên chúng rất linh hoạt trong biến
đổi để phù hợp với những thay đổi của môi trường sống. Đề kháng do đột biến nhiễm
sắc thể nhìn chung xảy ra từ từ và là một tiến trình tích lũy. Một đột biến điểm có thể
6


không dẫn đến sự đề kháng kiểu hình nhưng một đột biến điểm tiếp theo có thể làm
thay đổi mức độ nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn (đề kháng với quinolone). Tần
số xuất hiện đề kháng do đột biến trong phòng thí nghiệm (in vitro) là khoảng 1/108 tế
bào đối với streptomycin, nalidixic acid và rifampin; ở tần suất thấp hơn với
erythromycin và dường như không xảy ra với vancomycin và polymycin. Tuy nhiên
trên thực tế lâm sàng (in vivo), các kiểu đột biến này không đáng kể do hệ thống
phòng vệ của cơ thể tiêu diệt đa số các chủng vi khuẩn đề kháng dạng này.
Trong khi đó, đề kháng thu nhận các gene có khả năng di chuyển thường đạt
mức đề kháng cao và thuộc dạng “tất cả hoặc không có gì” (all or none). Gene kháng

kháng sinh một khi chúng xuất hiện. Ngoài sự linh hoạt do đặc tính sinh học, vi khuẩn
còn có khả năng bảo tồn sự đề kháng một khi gene kháng thuốc nằm trên nhiễm sắc
thể của nó. Ngược lại, khi yếu tố di truyền liên quan đến đề kháng nằm trên plasmid,
nhất là plasmid tiếp hợp, vi khuẩn sẽ có khả năng truyền sự đề kháng này cho vi khuẩn
khác của cùng hay khác loài. Từ đó sự kháng kháng sinh gia tăng dần lên trong quần
thể vi khuẩn (Võ Thị Trà An, 2007).
2.4 Biện pháp hạn chế sự đề kháng thuốc: (1) không sử dụng kháng sinh khi không
có nhiễm trùng; sử dụng với mục đích phòng nhiễm trùng chỉ khi chứng minh được
hiệu quả của nó; (2) không sử dụng kháng sinh có phổ rộng, kháng sinh thế hệ mới
trong khi kháng sinh có phổ hẹp, kháng sinh cũ vẫn có hiệu quả; (3) thường xuyên
nắm bắt thông tin về tình hình dịch tễ và khả năng nhạy cảm kháng sinh của hệ vi
khuẩn; (4) sử dụng đúng liều lượng, đường cấp và liệu trình; (5) không tự ý kết hợp
kháng sinh khi không cần thiết. Nếu kết hợp kháng sinh với mục đích ngăn đề kháng,
các kháng sinh thành phần phải sử dụng nguyên liều lượng (Võ Thị Trà An, 2007).
2.5 Biện pháp kiểm soát đề kháng kháng sinh: (1) giảm sử dụng kháng sinh bằng
cách cấm dần việc sử dụng kháng sinh như chất kích thích tăng trọng, thay vào đó là
các chế phẩm sinh học hoặc các chất kích thích có nguồn gốc thực vật; thay thế việc
phòng bệnh bằng kháng sinh bằng việc phòng bệnh bằng vaccine; tăng cường biện
pháp vệ sinh môi trường để hạn chế mầm bệnh. (2) Có qui định về việc sử dụng kháng
sinh trong bệnh viện, nhà thuốc như phân loại các kháng sinh được kê toa tự do, nhóm
dùng cho các mục đích đặc biệt, nhóm dự phòng. (3) Cách li bệnh nhân với các nhiễm
trùng có tính lây lan hoặc có thể mang vi khuẩn đề kháng. (4) Thông tin về lượng
kháng sinh sử dụng, số liệu về nhạy cảm kháng sinh, tần suất về đề kháng của vi khuẩn
phải được công bố và cập nhật trên các phương tiện thông tin chuyên ngành. (5) Giáo
dục nhân viên y tế, thú y, người sản xuất và phân phối thuốc, người chăn nuôi, và
người tiêu dùng về việc sử dụng kháng sinh có hiệu quả (Võ Thị Trà An, 2007).
8


Ở Việt Nam, các kháng sinh sau đây đã bị cấm sử dụng theo thông tư số

NH H
7

S

5
4

6

3

N
O

1

2

R2

COOH

Cephalosporin
Hình 2.1: công thức cấu tạo của
cephalosporin (nguồn: Huỳnh
Thị Ngọc Phương, 2008)


Các cephalosporin thường ở dạng bột tinh thể trắng có màu nhẹ, không mùi


khả năng xâm nhập vào tế bào (pH môi trường hơi acid gia tăng khả năng này) và khả
năng kháng được các enzyme β-lactamase. Cephalosporin không chỉ ức chế những kết
nối cuối cùng của peptidoglycan trong tiến trình tổng hợp thành tế bào vi khuẩn mà
còn gây tiết lipoteichoic acid tạo phản ứng tự ly giải hay tự sát của vi khuẩn do sự hư
hỏng peptidoglycan. Cephalosporin có tác động sát khuẩn phụ thuộc thời gian, nghĩa là
phải đảm bảo rằng trong thời gian trị liệu nồng độ kháng sinh trong huyết tương hoặc
mô bào đạt trên MIC. Tuy nhiên, do cephalosporin chỉ tác động lên vi khuẩn trong giai
đoạn tăng trưởng (giai đoạn tổng hợp thành), ở nồng độ quá cao trên mức nồng độ sát
khuẩn tốt nhất sẽ gây hiệu ứng Eagle (hiệu ứng ngược), nghĩa là giảm khả năng sát
khuẩn. Đây là một khái niệm quan trọng để tránh sử dụng quá liều kháng sinh nhóm
này (Võ Thị Trà An, 2007).
Do có cấu trúc vòng β-lactam, một số cephalosporin cũng có thể bị vô hoạt bởi
nhóm enzyme β-lactamase. Ngoài ra kháng sinh nhóm này còn có thể vô hoạt bởi các
cephalosporinase, enzyme không tác động đến các penicillin. Tất cả các cephalosporin
đều không có khả năng tác động đến Enterococci, Listeria monocytogenes,
Staphylococcus aureus kháng methicillin và Acinetobacter. Hiệp lực chống
Pseudomonas aeruginosa có thể đạt được khi phối hợp cefoperazone với clavulanic
acid hoặc aminoglycoside (gentamicin, amikacin) nhưng không nên trộn chung khi cấp
(Võ Thị Trà An, 2007).
Các cephalosporin thế hệ I tác dụng trên hầu hết các cầu khuẩn gram (+) trừ tụ
cầu kháng methicillin, trên vi khuẩn gram (-) cephalosporin thế hệ I thể hiện hoạt tính
không đồng đều. Nhóm cephalosporin thế hệ II phổ kháng khuẩn trên cầu khuẩn gram
(+) không có lợi bằng cephalosporin thế hệ I, tuy nhiên, trên cầu khuẩn gram (-)
cephalosporin II hoạt tính mạnh hơn cephalosporin I. Nhóm cephalosporin thế hệ III
phổ kháng khuẩn trên cầu khuẩn gram âm kém hơn cephalosporin thế hệ I. Tuy nhiên,
nó có hoạt tính cao đối với Streptococcus. Trên vi khuẩn gram âm có hoạt tính giống
như cephalosporin thế hệ I và mở rộng phổ tác động đến hầu hết Enterbacteria
(Citrobacter, Seratia, Providencia), Neisseria, Pseudomonas và Haemophilus, kể cả
dòng tạo β-lactamase (Trần Thị Thu Hằng, 2003).

biến đơn giản có thể làm thay đổi sự phân loại này. Ví dụ β-lactamase TEM-1 là một
penicillinase đơn giản và hoạt động của chúng có thể bị ức chế bởi clavulanic acid và
tazobactam. TEM-1 phân bố rộng rãi trong các chủng vi khuẩn của
Enterobacteriaceae. Tuy nhiên, do đột biến điểm, các enzyme thuộc nhóm TEM (ví
12


dụ, TEM-52) có phổ hoạt động rộng hơn dẫn đến sự đề kháng với cephalosporin thế hệ
III. Sự bất hoạt của aztreonam, ceftazidime, cefotaxime hoặc ceftriaxone được xem là
chỉ thị cho sự hiện diện các enzyme β-lactamase có phổ rộng (extended-spectrum
beta-lactamase, ESBL). Nhóm enzyme thứ 2 là carbapenemase, có khả năng vô hoạt
carbapenem, imipenem và meropenem. Nhưng rất may sự đề kháng này còn rất hiếm.
Các enzyme thay thế PBP liên quan đến sự đề kháng với methicillin ở
Staphylococci, Streptococcus pneumoniae. Cả methicillin-resistant Staphylococcus
aureus (MRSA) và methicillin-resistant Staphylococcus epidermidis (MRSE) đều là
những tác nhân gây nhiễm trùng bệnh viện. Điều trị các nhiễm trùng này rất khó vì cả
MRSA và MRSE thường đa đề kháng và chỉ nhạy cảm với một số ít kháng sinh (Võ
Thị Trà An, 2007).
2.8 Enzyme β-lactamase và các chất ức chế β-lactamase
2.8.1 Enzyme β-lactamase
Nhiều loài vi khuẩn có khả năng tiết ra các enzyme phân hủy các kháng sinh họ
β-lactam. Đó là một trong những cơ chế chính tạo nên sự đề kháng của vi khuẩn đối
với kháng sinh β-lactam. Các enzyme này được gọi là những enzyme β-lactamase.
Sự sản sinh các enzyme này của vi khuẩn được qui định bởi 1 gen hoặc nằm
trong bộ nhiễm sắc thể của vi khuẩn hoặc nằm trong plasmid. Sự sản sinh này có thể là
tự nhiên hoặc là tiếp nhận được (do đột biến nhiễm sắc thể, do nhận gen từ plasmid
hoặc do sự kích hoạt bởi các chất có tính kích hoạt như clavulanic acid.
Người ta chia các enzyme β-lactamase thành các enzyme cephalosporinase và
các enzyme penicillinase. Sự sản sinh các enzyme cephalosporinase ở các loài vi
khuẩn được quy định bởi gen nằm trong bộ nhiễm sắc thể, sự tiết enzyme này có thể

với enzyme penicillinase các thuốc này sẽ bị phân hủy, vì vậy người ta còn gọi các
thuốc này là những “thuốc ức chế tự sát” (inhibiteurs suicides). (Nguyễn Thị Thanh và
Hồ Huỳnh Quang Trí, 2000)
Các chất ức chế β-lactamase đang được sử dụng trong lâm sàng gồm có:
clavulanic acid (Lấy từ Streptomyces clauvuligerus. Clavulanic acid ức chế βlactamase của nhiều vi khuẩn gram dương và gram âm), sulbactam, tazobactam (Trần
Thị Thu Hằng, 2003).

14


2.9 Các phương pháp khảo sát sự nhạy cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh.
2.9.1 Phương pháp định tính
Có một vài phương pháp phòng thí nghiệm đo lường sự mẫn cảm của vi khuẩn
đối với thuốc kháng sinh, tuy nhiên phương pháp khuếch tán trên thạch được sử dụng
nhiều nhất. Phương pháp được đề nghị bởi National Committee for Clinical
Laboratory Standards (NCCLS, 1990, MA-A4) là phương pháp khuếch tán trên thạch
Kirby-Bauer (Quinn và các cộng sự, 1998).
2.9.1.1 Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả phản ứng
Phương pháp khuếch tán trên thạch yêu cầu dàn đều vi khuẩn kiểm tra trên bề
mặt đĩa thạch và đặt những đĩa giấy kháng sinh với nồng độ qui định, lên bề mặt thạch
trước khi ủ bệnh. Nếu vi khuẩn nhạy cảm với kháng sinh thì một vòng vô khuẩn sẽ
xuất hiện xung quanh đĩa giấy sau khi ủ ấm. Một trong những lý do cho việc tiêu
chuẩn hóa chặt chẽ các bước tiến hành phản ứng là do có rất nhiều yếu tố có thể ảnh
hưởng đến độ lớn của vòng vô khuẩn và chúng bao gồm:
(1) Độ đục của huyễn dịch vi khuẩn: đây là yếu tố rất quan trọng và độ đục của
huyễn dịch vi khuẩn cần kiểm tra phải tương đương với độ đục Mac Farland 0,5. Mục
đích là để có được những vệt dày đặc vi khuẩn phát triển liên quan đến những những
khuẩn lạc riêng lẻ tương ứng. Bên cạnh đó, mức độ mẫn cảm của một vi khuẩn đối với
một kháng sinh có sự khác nhau trong từng loài và từng chủng phân lập từ nguồn
bệnh.

thú y. Tuy nhiên, một gợi ý cho việc chọn lựa kháng sinh trong những phản ứng xác
định độ mẫn cảm thông thường như sau:
Đĩa kháng sinh tetracycline được sử dụng để dự đoán kết quả cho tất cả kháng
sinh khác thuộc họ tetracycline.
Sulfisoxazole là một đại diện tiêu biểu cho tất cả kháng sinh họ sulfonamide.
Erythromycin được sử dụng để dự đoán kết quả cho tất cả kháng sinh khác
thuộc họ macrolide.
Đĩa kháng sinh lindamycin được sử dụng để dự đoán kết quả cho tất cả kháng
sinh khác thuộc họ lincomycin.
Aminoglycoside và quinolone nên kiểm tra riêng biệt. Việc tách ra hay phối
hợp thì không đủ chứng tỏ đến việc đề kháng chéo.
Chloramphenicol, vancomycin, trimethoprim/sulfamethoxazole, nitrofurantoin
bắt buộc kiểm tra riêng lẻ.

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status