Các nhân tố tác động đến hành vi gian lận báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (Luận án tiến sĩ) - Pdf 50

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
Trờng đại học kinh tế quốc dân

Vũ Thị Thục Oanh

CáC NHÂN Tố TáC Động đến hành vi
gian lận báo cáo tài chính của
các công ty niêm yết
Chuyên ngành: TàI CHíNH - NGÂN HàNG
Mã số: 62340201

Ngời hớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Cao Thị ý Nhi
2. TS. Nguyễn Thị Thanh Hơng

Hà Nội - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật. Tôi
cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi
phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2018

Tác giả

Vũ Thị Thục Oanh

2.1.5. Một số vấn đề chung về TTCK và CTNY trên TTCK tác động tới BCTC . 23
2.1.6. Thực trạng gian lận BCTC của các các CTNY trên TTCK Việt Nam ........ 27
2.2. Các lý thuyết vận dụng để nghiên cứu hành vi gian lận BCTC của CTNY 29
2.2.1. Lý thuyết thông tin bất cân xứng ............................................................... 29
2.2.2. Lý thuyết đại diện...................................................................................... 32
2.2.3. Lý thuyết bàn cân gian lận dựa trên các dấu hiệu báo động đỏ................... 34
2.2.4. Lý thuyết về tam giác gian lận ................................................................... 36


2.3. Các nhân tố tác động tới hành vi gian lận BCTC của các CTNY. .............. 39
2.3.1. Nhóm nhân tố thuộc động cơ/ áp lực ......................................................... 39
2.3.2. Nhóm nhân tố thuộc về cơ hội ................................................................... 42
2.3.3. Nhóm nhân tố về thái độ ........................................................................... 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2......................................................................................... 51
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................... 52
3.1. Phương pháp nghiên cứu định tính .............................................................. 52
3.1.1. Thiết kế nghiên cứu định tính .................................................................... 52
3.1.2. Kết quả nghiên cứu định tính..................................................................... 53
3.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng ........................................................... 59
3.2.1. Giả thuyết nghiên cứu ............................................................................... 59
3.2.2. Thiết kế câu hỏi khảo sát ........................................................................... 63
3.2.3. Thông tin về đối tượng khảo sát và phương pháp thu thập số liệu.............. 64
3.2.4. Phương pháp xử lý dữ liệu ........................................................................ 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3......................................................................................... 68
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................... 69
4.1. Kết quả thông tin nhân khẩu học của đối tượng khảo sát ........................... 69
4.2. Kết quả nghiên cứu về hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK
Việt Nam ............................................................................................................... 69
4.2.1. Kết quả thống kê mô tả.............................................................................. 69
4.2.2. Đánh giá độ tin cậy của các thang đo......................................................... 74



DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT

KÝ HIỆU

NỘI DUNG

1

BCTC

BCTC

2

BCĐKT

Bảng cân đối kế toán

3

BCKQHĐKD

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

4

BCLCTT


Công ty kiểm toán

10

DTBH

Doanh thu bán hàng

11

GVHB

Giá vốn hàng bán

12

HĐQT

Hội đồng quản trị

13

HTK

Hàng tồn kho

14

KSNB


Lớn nhất

20

NNHĐ

Ngành nghề hoạt động

21

NN

Nhỏ nhất

22

TB

Trung bình

23

TTCK

TTCK

24

TSCĐ

Bảng 4.1. Kết quả thống kê mô tả các hình thức thực hiện hành vi gian lận BCTC
của các CTNY trên TTCK Việt Nam ..................................................... 69
Bảng 4.2. Kết quả thống kê mô tả về các khoản mục thường sử dụng để thực hiện
hành vi gian lận trong BCĐKT ............................................................... 70
Bảng 4.3. Kết quả thống kê mô tả hình thức gian lận đối với khoản mục trong
bảng cân đối kế toán ................................................................................ 71
Bảng 4.4. Kết quả thống kê mô tả các khoản mục thường sử dụng để thực hiện
hành vi gian lận trong BCKQHĐKD ...................................................... 71
Bảng 4.5. Kết quả thống kê mô tả về hình thức gian lận đối với khoản mục trong
BCKQHĐKD ........................................................................................... 73
Bảng 4.6. Kết quả thống kê mô tả các cách thức gian lận trong BCLCTT ............ 73
Bảng 4.7. Kết quả thống kê mô tả về các cách thức gian lận trong TMBCTC ...... 74
Bảng 4.8. Kết quả thống kê mô tả tiêu chí mức độ gian lận BCTC của các CTNY 74
Bảng 4.9: Lượng hóa các tiêu chuẩn của các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến hành vi gian
lận BCTC của các CTNY.......................................................................... 75
Bảng 4.10: Kết quả kiểm định sự tin cậy thang đo nhân tố sự ổn định tài chính ......... 77
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định sự tin cậy thang đo nhân tố áp lực từ bên thứ ba ......... 78
Bảng 4.12: Kết quả kiểm định sự tin cậy thang đo nhân tố mục tiêu tài chính ............ 78
Bảng 4.13: Kết quả kiểm định sự tin cậy thang đo nhân tố đặc điểm BCTC và ngành
nghề hoạt động của CTNY ........................................................................ 79
Bảng 4.14: Kết quả kiểm định sự tin cậy thang đo nhân tố chất lượng hệ thống KSNB ... 79
Bảng 4.15: Kết quả kiểm định sự tin cậy thang đo nhân tố quy mô CTNY................. 80
Bảng 4.16: Kết quả kiểm định sự tin cậy thang đo nhân tố đặc tính của HĐQT .......... 80


Bảng 4.17: Kết quả kiểm định sự tin cậy thang đo nhân tố môi trường pháp lý .......... 81
Bảng 4.18: Kết quả kiểm định sự tin cậy thang đo nhân tố môi trường KTVM .......... 82
Bảng 4.19: Kết quả kiểm định sự tin cậy thang đo nhân tố kiểm toán độc lập ............ 82
Bảng 4.20: Kết quả kiểm định sự tin cậy thang đo nhân tố kiểm soát của Nhà nước đối
với hành vi gian lận BCTC ....................................................................... 82

ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI GIAN LẬN BCTC CTNY TRÊN TTCK VIỆT NAM ....... 134
PHỤ LỤC 3.3. KẾT QUẢ PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA VỀ TIÊU CHÍ ĐO LƯỜNG
CÁC NHÂN TỐ ...................................................................................................... 139
PHỤ LỤC 3.4. PHIẾU KHẢO SÁT VỀ MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN
TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC
CTNY TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ............................... 141
PHỤ LỤC 3.5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
HÀNH VI GIAN LẬN BCTC TẠI MỘT SỐ CÁC CÔNG TY ĐIỂN HÌNH .... 147
PHỤ LỤC 4.1: THÔNG TIN VỀ NHÂN KHẨU HỌC ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT 153
PHỤ LỤC 4.2. ĐÁNH GIÁ ĐỘ TIN CẬY CỦA THANG ĐO ........................... 154
PHỤ LỤC 4.3: KẾT QUẢ KIỂM TRA ĐA CỘNG TUYẾN ................................... 155


1

CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
BCTC (BCTC) sẽ cho biết kết quả hoạt động của CTNY (CTNY) qua
những tổng hợp về tình hình tài chính. Độ tin cậy và chất lượng thông tin tài chính trên
BCTC là nhân tố tác động trực tiếp đến quyết sách của nhà đầu tư. Do vậy, nếu hành
vi gian lận BCTC xảy ra vì lợi ích cá nhân của chủ sở hữu doanh nghiệp, thì sẽ dẫn
đến sai lầm trong việc ra quyết định khiến cho các nhà đầu tư phải chịu những tổn thất
nặng nề kinh tế.
Thời gian gần đây, tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới làm cho các
công ty rơi vào tình trạng tài chính cạn kiệt, kéo theo sự gia tăng không ngừng số
lượng doanh nghiệp bị phá sản và trở thành động cơ cho các hành vi gian lận BCTC
ngày càng tăng. Trong số đó phải kể đến các công ty: Enron, Lucent, Worldcom,
Xerox, Waste Management, Rite Aid, Global Crossing, Adelphia, Qwest, Deutsche
Bank, Toshiba... được cho rằng đã có hành vi gian lận BCTC. Theo kết quả cuộc điều

được những thiệt hại do hành vi gian lận trên BCTC gây ra trực tiếp về mặt kinh tế
mà không thể đo lường được hết những thiệt hại vô hình không được biểu hiện
bằng con số cụ thể như niềm tin và việc tác động xấu đến TTCK, bởi không phải tất
cả những gian lận trên BCTC đều bị phát hiện. Theo ACFE (2014), chỉ có khoảng
3% trong tổng số các cuộc gian lận tài chính bị phát hiện tại các tập đoàn kinh tế
trên thế giới 2014. Mặt khác, các kết quả kiểm toán chỉ có thể cho biết có xảy ra
hiện tượng gian lận BCTC hay không nhưng lại không chỉ ra được nguyên nhân
dẫn đến hành vi gian lận BCTC. Vì thế, việc nghiên cứu các nhân tố tác động
đến hành vi gian lận BCTC sẽ làm cơ sở giúp cho các nhà quản lý trong việc
nâng cao hiệu quả quản trị công ty, đồng thời giúp các nhà hoạch định chính
sách ban hành các chính sách kiểm soát hành vi gian lận BCTC phù hợp nhằm
ngăn chặn hành vi gian lận BCTC của CTNY một cách hiệu quả nhất, góp phần
nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước. Tại Việt Nam, theo tìm hiểu của tác giả
thì tính đến thời điểm này những nghiên cứu thực chứng liên quan tới việc tìm
kiếm, xác định các nhân tố tác động tới hành vi gian lận BCTC của các CTNY còn
hạn chế mặc dù vấn đề này đang nhận được rất nhiều sự quan tâm từ các nhà quản
lý doanh nghiệp, người sử dụng BCTC, các nhà đầu tư và các cơ quan quản lý.
Trong đó, chủ yếu chỉ có những nghiên cứu tìm hiểu sự ảnh hưởng riêng lẻ của một
vài nhân tố nên kết quả nghiên cứu chưa có tính thuyết phục cao (Trần Thị Giang
Tân, 2014 và Lê Nguyễn Thế Cường, 2013). Thêm vào đó, TTCK Việt Nam đang
trong quá trình phát triển, có nhiều biến động và chưa phải là một thị trường hoàn
chỉnh, những hạn chế của bản thân hệ thống kế toán Việt Nam và các đặc điểm
riêng về BCTC, về ngành nghề hoạt động của CTNY cũng gây nên lo ngại về sự
xuất hiện của hành vi gian lận BCTC. Vì vậy, việc luận án lựa chọn bối cảnh đặc
thù của TTCK tại Việt Nam để nghiên cứu về các nhân tố có thể tác động tới hành
vi gian lận BCTC là cần thiết.
Với những lý do đã nêu trên, dựa trên các khía cạnh chính: nhận thức về thực
trạng đáng lo ngại cũng như tác hại của hành vi gian lận BCTC đối với nền kinh tế và



BCTC. Các tỷ số sinh lời còn lại được đề nghị là tỷ số lợi nhuận thuần trên tài sản
và lợi nhuận trên tài sản (Kneutzfeldt và cộng sự, 1986 và Person, 1995). Số vòng
quay hàng tồn kho (giá vốn hàng bán trên hàng tồn kho) và số vòng quay nợ phải
thu (doanh thu trên nợ phải thu) là tỷ số được đánh giá cao trong các nghiên cứu
của Kinney (1987), Blocher và cộng sự (1988), Coglitore và cộng sự (1988),
Beneish (1999). Person (1995) thử nghiệm và tìm thấy số vòng quay tổng tài sản
(doanh thu trên tài sản) là một tỷ số hữu ích trong nhận dạng các BCTC có gian lận.


4
Vốn lưu chuyển thuần trên tài sản (vốn lưu chuyển thuần là hiệu số giữa tài sản
ngắn hạn và nợ ngắn hạn) được đề xuất bởi Person (1995), Kneutzfeldt và cộng sự
(1986), Beneish (1999), Kaminski (2004). Tỷ số nợ (Nợ phải trả trên tài sản) là tỷ
số về đòn cân nợ được Person (1995), Beneish (1999), Christies (1990), Kaminski
(2004) xem là có khả năng phát hiện sai lệch. Một số nghiên cứu quan tâm đến cơ
cấu tài sản (nợ phải thu, hàng tồn kho, tài sản cố định, tài sản ngắn hạn … trên tổng
tài sản) như Person (1995), Feroz và cộng sự (1991), St Pierre và cộng sự (1984)…
Tỷ số tăng trưởng của doanh thu (doanh thu năm nay trên doanh thu năm trước) và
tổng các khoản dồn tích trên tài sản được Beneish (1999) đề xuất. Nhìn chung, khá
nhiều các tỷ số được xem là có khả năng phát hiện sai lệch trên BCTC. Trong đó,
các tỷ số nổi bật là tỷ lệ lãi gộp, số vòng quay hàng tồn kho và số vòng quay nợ
phải thu. Đây là các tỷ số chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các sai phạm có tính trọng
yếu về các chỉ tiêu quan trọng như doanh thu, giá vốn hàng bán, hàng tồn kho và nợ
phải thu nên khi có sự biến động bất thường của chúng có thể dự báo được hành vi
gian lận BCTC. Một số chỉ tiêu mang tính chất tổng hợp sẽ phản ảnh tình hình của
doanh nghiệp, chủ yếu là những kết quả tài chính tiêu cực. Dấu hiệu này thường
được nhìn nhận như những nhân tố thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện hành vi
gian lận BCTC.
Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hành vi gian lận BCTC được nghiên
cứu dựa chủ yếu trên lý thuyết bàn cân gian lận với các dấu hiệu báo động đỏ (Red

gồm: nhóm nhân tố về động cơ/áp lực; nhóm nhân tố về cơ hội và nhóm nhân tố về
thái độ là các nhân tố cốt lõi tác động đến hành vi gian lận BCTC và các dấu hiệu
báo động đỏ trong 3 nhóm nhân tố nội tại.
Nhìn chung, kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy nhóm nhân tố về thái
độ của nhà quản lý có tác động nhiều nhất tới hành vi gian lận BCTC bao gồm: tính
chính trực của BGĐ, BGĐ đã có hành vi vi phạm pháp luật trước đây về chứng
khoán hoặc pháp luật có liên quan; thái độ tính chuyên nghiệp của BGĐ: cố tình
hạn chế phạm vi kiểm toán, BGĐ độc quyền và khống chế KSNB của công ty, hạn
chế khả năng tiếp cận nhân viên và thông tin, như các công trình của: Albrecht and
Romney (1986), Heiman và cộng sự (1996), Bell and Carcello (2000), Apostolou
và cộng sự (2001), Gramling & Myres (2003), Graham & Bedard (2003), Moyes và
cộng sự (2005), Mock & Turner (2005) và Albullatif (2013).
Tiếp theo, nhóm thứ hai tác động tới hành vi gian lận BCTC là nhóm nhân tố
về động cơ/ áp lực: bao gồm sự ổn định tài chính, áp lực từ bên thứ 3, áp lực đạt
được mục tiêu tài chính (doanh số, mục tiêu lợi nhuận,…) do phần lớn các khoản
thu nhập của BGĐ hoặc BQT phụ thuộc vào giá cổ phiếu, kết quả kinh doanh, là
kết quả từ các nghiên cứu của Albrecht & Romney (1986), Bell & Carcello
(2000),Gramling & Myres (2003), Moyes và cộng sự (2005), Mock & Turner
(2005), Smith và cộng sự (2005), Skousen and Wright (2006).
Cuối cùng là nhóm nhân tố nhóm nhân tố về cơ hội là nhóm nhân tố có mức
độ ít tác động nhất tới hành vi gian lận BCTC bao gồm chất lượng yếu kém của
KSNB, đặc điểm BCTC và ngành nghề hoạt động, đặc tính của HĐQT, kiểm toán
độc lập trong các nghiên cứu Bell & Carcello (2000), Gramling & Myres (2003),


6
Graham & Bedard (2003), Moyes và cộng sự (2005), Mock & Turner (2005),
Skousen and Wright (2006).
Tại Việt Nam, những nghiên cứu liên quan đến đề tài này cũng đã được bàn
luận đến nhưng chủ yếu là dưới góc độ kiểm toán BCTC, hành vi điều chỉnh lợi

thấy các nhân tố: Đòn bẩy tài chính; Lợi nhuận; Kiểm toán; Sự kiêm nhiệm giữa


7
Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc được xem là tác động ở mức có ý nghĩa thống
kê đến sự minh bạch của thông tin trên BCTC của các CTNY. Hay, nghiên cứu của
Nguyễn Trọng Nguyên (2016) tập trung vào tìm hiểu sự tác động của các đặc tính
Quản trị công ty với chất lượng thông tin BCTC của CTNY tại Việt Nam. Bằng
nghiên cứu định lượng, tác giả đã khảo sát các tài liệu liên quan như báo cáo
thường niên và BCTC quý 4 của 195 CTNY trên TTCK Việt Nam để đo lường chất
lượng BCTC và các nhân tố tác động đến nó. Mô hình nghiên cứu bao gồm biến
độc lập với 7 nhân tố liên quan đến đặc tính của HĐQT và 1 biến phụ thuộc là chất
lượng thông tin BCTC. Kết quả phân tích mô hình hồi quy cho thấy cả 7 nhân tố
thuộc đặc tính của HĐQT (số lượng thành viên độc lập, sự kiêm nhiệm chức danh,
tần suất cuộc họp, sự hiện diện KTVNB, thành viên HĐQT có chuyên môn về kế
toán tài chính) đều có tác động đến chất lượng thông tin BCTC của các CTNY.
Mặc dù minh bạch thông tin tài chính, chất lượng thông tin BCTC và hành vi gian
lận BCTC là các khái niệm khác biệt, nhưng những nghiên cứu này là một kênh
tham khảo có giá trị về phương pháp cũng như cách thức đo lường, kiểm định mối
quan hệ giữa các nhân tố trong mô hình hồi quy, là cơ sở, định hướng cho các
nghiên cứu sâu trong tương lai.
Về mô hình nghiên cứu, để phát hiện hành vi gian lận BCTC, các nghiên cứu
của Healy (1985), DeAngelo (1986), Jones (1991) và Friedlan (1994) sử dụng mô
hình dồn tích có điều chỉnh (Discretionary accruals models). Từ thế kỷ 20, nhóm
các nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật thống kê (Statistical techniques) để nhận diện
hành vi gian lận BCTC xuất hiện và phổ biến rộng rãi, đem lại kết quả có độ chính
xác cao. Nghiên cứu tiêu biểu ở nhóm này là Beneish (1999). Ngoài ra có thể kể
đến mô hình F-score của Dechow và cộng sự (2011). Mô hình này cũng được phát
triển dựa trên M-score của Beneish, bổ sung các biến số phi tài chínhvà dữ liệu thị
trường ngoài các biến số từ BCTC. Mô hình dự báo được trình bày với ba mức độ

dù gần đây, các nghiên cứu về hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt
Nam có xuất hiện nhưng hầu như chỉ dừng lại trên góc độ lý thuyết, giới thiệu về hành
vi sai phạm BCTC và giới thiệu cách sử dụng một số mô hình dự báo hành vi điều
chỉnh lợi nhuận hoặc chỉ là những nghiên cứu có nhân tố thực nghiệm với nhiều hạn
chế về cỡ mẫu, về phương pháp...Việc khắc phục những nhược điểm của các nghiên
cứu tại Việt Nam và làm giàu thêm cơ sở lý luận bằng một nghiên cứu định lượng chi
tiết và chặt chẽ hơn về các nhân tố tác động đến hành vi gian lận BCTC tại Việt Nam
là thực sự cần thiết.
Quá trình tổng quan các nhân tố tác động đến hành vi gian lận BCTC cho
thấy sự đa dạng của các nhân tố theo cả chiều rộng và chiều sâu, có nghiên cứu chỉ tập
trung và đi sâu vào một nhân tố cụ thể, cũng có những nghiên cứu đánh giá một tổ hợp
nhiều nhân tố khác nhau. Trên thực tế, các nghiên cứu về hành vi gian lận BCTC tại
Việt Nam thường thực hiện với nhiều hạn chế về quy mô các biến sử dụng, phương
pháp nghiên cứu. Vì thế, một nghiên cứu mang tính tổng hợp hơn với tổ hợp 3 nhóm
nhân tố tại TTCK Việt Nam là cần thiết.


9
Các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam sử dụng nhiều mô hình khác
nhau để phát hiện gian lận BCTC. Tuy nhiên, hạn chế của các nghiên cứu này là chỉ
dừng lại ở mức độ ứng dụng mô hình có sẵn, chưa có những thay đổi phù hợp với
TTCK Việt Nam. Vì thế, việc lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp để đánh giá mức
độ tác động của các nhân tố đến hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt
Nam sẽ là đóng góp lớn trong việc phát triển các nghiên cứu liên quan đến chủ đề này.
Như vậy, khoảng trống nghiên cứu của luận án cho thấy đây là một công trình
được thực hiện tại TTCK Việt Nam là cần thiết, trong bối cảnh đặc thù của một TTCK
mới nổi và các nghiên cứu về hành vi gian lận BCTC chưa nhiều. Luận án thực hiện
nhằm khắc phục những hạn chế về cơ sở lý thuyết, về lựa chọn quy mô biến và về
phương pháp của những nghiên cứu trước đây đặc biệt là những nghiên cứu tại Việt
Nam về chủ đề này.

lực, cơ hội và thái độ đến hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam
hiện nay như thế nào?
Câu 4: Các khuyến nghị nhằm kiểm soát tối đa hành vi gian lận BCTC của các
CTNY trên TTCK Việt Nam?

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là các nhân tố tác động tới hành vi gian
lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam dưới góc nhìn của KTV độc lập được
chấp thuận kiểm toán CTNY.

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến
hành vi gian lận BCTC dựa trên mô hình tam giác gian lận với cơ sở hướng dẫn của
chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA 240) và các dấu hiệu báo động đỏ trong
mô hình bàn cân gian lận về khía cạnh quản lý thực tiễn.
CTNY được nghiên cứu trong luận án là loại hình công ty cổ phần có chứng
khoán được niêm yết trên TTCK Việt Nam (không bao gồm công ty tài chính như tổ
chức tín dụng, ngân hàng, quỹ đầu tư) với lý do đây là các tổ chức đặc thù về cấu trúc
tài chính và chịu sự điều chỉnh chặt chẽ bởi các quy định riêng của chính phủ.

1.5. Các đóng góp mới của luận án
Đề tài này được thực hiện mang tính thời sự, có giá trị về mặt lý luận và thực
tiễn, được sự quan tâm của nhiều đối tượng khác nhau. Theo đó, các đóng góp gồm:
1. Xác định được các cơ sở lý thuyết nghiên cứu phù hợp với bối cảnh TTCK Việt
Nam về các nhân tố tác động đến hành vi gian lận BCTC của các CTNY.
2. Kế thừa và phát triển mới các thang đo cho các nhân tố tác động đến hành
vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Thông qua việc phỏng vấn các
chuyên gia trong các lĩnh vực TTCK, tài chính, kiểm toán, tác giả đã phát triển mới 10



1.6. Khung nghiên cứu của luận án
Dựa trên mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, quy trình nghiên cứu của
Luận án được thực hiện theo sơ đồ sau:


12

Mục tiêu nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

1. Xây dựng mô hình nghiên cứu.

- Tổng quan
- NC ñịnh tính

2. Xác định các nhân tố tác động đến hành
vi gian lận BCTC của các CTNY.

(Phỏng vấn sâu)

3. ðánh giá mức ñộ tác ñộng các nhân tố
đến hành vi gian lận BCTC của các CTNY
trên TTCK Việt Nam.

NC ñịnh lượng

Kết
quả

giúp việc theo dõi nội dung chi tiết của luận án được rõ ràng.
Như vậy, chương 1 đã làm nổi bật được sự cần thiết của chủ đề nghiên cứu và
đồng thời mô tả được thiết kế các bước tiến hành của luận án, hướng tiếp cận để đạt
được các mục tiêu cụ thể đã đặt ra.


14

CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI GIAN LẬN BCTC CỦA CTNY VÀ CÁC
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
2.1. Khái quát về hành vi gian lận BCTC của CTNY
2.1.1. Khái niệm gian lận và hành vi gian lận BCTC
2.1.1.1. Khái niệm gian lận
Trên thế giới, nhà nghiên cứu về tội phạm người Mỹ - Sutherland (1994) là
người đã khai sinh ra thuật ngữ “white - collar crime”, để ám chỉ tới hành vi gian lận
do những nhà quản trị cao cấp của công ty gây ra nhằm lường gạt công chúng. Các
nghiên cứu sau này đều sử dụng thuật ngữ này để thay thế cho thuật ngữ gian lận
thông thường.
Theo KPMG Forensic Malaysia (2005), Gian lận là hành vi lập kế hoạch cố ý
lừa dối và thực hiện trực tiếp hay gián tiếp với ý định tước đoạt tài sản của người khác
để thu lợi cho mình.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (2012, 3) , “Gian lận là hành vi cố
ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên
thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp”.
Trong phạm vi nghiên cứu, Luận án tập trung nghiên cứu đến hành vi gian lận dựa
trên cơ sở hướng dẫn của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA 240, 2012).

2.1.1.2. Khái niệm hành vi gian lận BCTC
Dựa trên thuật ngữ “white - collar crime” của Sutherland (1940) thì hành vi

Về mặt
bản chất

Về mặt
hình thức
biểu hiện

Gian lận BCTC

Sai sót BCTC

Là hành vi cố ý, có tính toán, nhằm Là hành vi không có chủ ý, đôi khi chỉ là
mục đích tư lợi
vô tình bỏ sót hoặc do năng lực hạn chế thiếu
thận trọng trong công việc gây ra sai phạm.
Biểu hiện của gian lận là:

Biểu hiện của sai sót:

+ Xuyên tạc, sửa đổi làm giả chứng từ,
tài liệu, cố ý tính sai về số học

+ Bỏ sót hoặc ghi sai các nghiệp vụ kế
toán. Áp dụng các chuẩn mực, phương
pháp, nguyên tắc và chế độ kế toán sai
nhưng không cố ý

+ Biển thủ tài sản
+ Cố ý che dấu thông tin, ghi chép không
đúng sự thật về các nghiệp vụ kinh tế

giảm lợi nhuận doanh nghiệp, từ đó làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
Ngược lại, người lập BCTC cũng có thể bỏ qua hoặc ghi giảm chi phí nhằm mục đích
điều chỉnh lợi nhuận, khi đó lợi nhuận sẽ tăng đúng bằng chi phí hay nợ bị che giấu.
- Ghi tăng hoặc giảm doanh thu: Ghi tăng hoặc ghi các khoản doanh thu không
có thật để làm tăng lợi nhuận, ví dụ như lập hóa đơn bán hàng khống nhưng không
giao hàng, mục đích của hành động này là làm “đẹp” BCTC. Ngược lại, người lập báo
cáo ghi giảm doanh thu để trốn thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Định giá sai giá trị các tài sản: Thông thường phương pháp định giá sai này áp
dụng nhiều với các khoản mục: (thường là hàng tồn kho, phải thu và tài sản dài hạn),
tăng vốn hoá chi phí, hoặc giảm chi phí (như chi phí dự phòng, khấu hao,...), doanh
nghiệp có thể báo cáo lợi nhuận và vốn chủ sở hữu cao hơn thực tế. Một công ty có thổi
phồng tài sản nhằm gia tăng lợi nhuận trong một kỳ; chẳng hạn ghi tăng tài sản và tăng
vốn chủ sở hữu hoặc tăng doanh thu (thu nhập) tạo ra một khoản lợi nhuận phù phép.
- Cung cấp thông tin không đầy đủ và không trung thực: Một trong những
nguyên tắc của gian lận là luôn luôn che dấu gian lận. Các doanh nghiệp có gian lận
luôn tìm cách che dấu vi phạm trong sổ kế toán. Một hình thức che dấu khác là che
dấu thông tin công bố trong BCTC. Bỏ sót công bố thông tin về nợ, các sự kiện quan
trọng, giao dịch các bên có liên quan, giao dịch nội bộ,... có thể là cách thức che dấu
gian lận. Công bố thông tin không thích hợp, không đầy đủ có thể là cách để che dấu
bằng chứng gian lận. Cũng trong những công trình nghiên cứu của mình, ACFE chỉ ra
rằng các các phương thức 1, 2, 3 được dùng nhiều để gian lận, chiếm đến 55% tổng số
vụ gian lận.
- Ghi nhận sai thời gian: Kế toán viên ghi nhận các khoản doanh thu hay chi phí
không đúng với kỳ phát sinh để thao túng thu nhập theo mong muốn.
Kết quả nghiên cứu của COSO (2010), Ngô Thị Thu Hà (2007), ACFE (2012),
Nguyễn Thị Hương Giang (2013), Lê Nguyễn Thế Cường (2013) đều cho thấy khai



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status