VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ LAN ANH
GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2018
-i-
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ LAN ANH
GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
Chuyên ngành: ĐẠO ĐỨC HỌC
Mã số: 92 29 006
SGK:
Sách giáo khoa
- iii -
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI ................................................................................................................ 7
1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến nhân cách,
nhân cách học sinh trung học phổ thông ở nước ta nói chung, ở
thành phố Hà Nội nói riêng ............................................................................ 7
1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng giảng
dạy môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông nước ta
nói chung, thành phố Hà Nội nói riêng ........................................................... 13
1.3. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp nâng cao
hiệu quả giảng dạy môn Giáo dục công dân đối với sự phát triển
nhân cách học sinh trung học phổ thông hiện nay ở nước ta nói
chung, ở Hà Nội nói riêng ............................................................................... 19
1.4. Kết luận và một số vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết ...................... 25
Chương 2: GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ........................................ 28
2.1. Nhân cách và các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển nhân
cách nói chung, nhân cách học sinh trung học phổ thông ở nước ta
nói riêng .......................................................................................................... 28
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 140
PHỤ LỤC ............................................................................................................................... 151
-v-
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mục tiêu của giáo dục phổ thông ở nước ta hiện nay được quy định tại Điều
27 Luật Giáo dục 2005 là “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng
động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa,
xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học
lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
[97, tr.21].
Sau hơn 30 năm đổi mới đất nước, chúng ta đã và đang đạt được “những
thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển,
bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình”[58, tr.91]. Cùng
với sự phát triển kinh tế - xã hội, nền giáo dục nước nhà đã có nhiều thay đổi,
khởi sắc. Hệ thống giáo dục được xây dựng tương đối hoàn chỉnh ở tất cả các
bậc học từ mầm non đến đại học. Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo đã
từng bước được hiện đại hóa. Đến nay, ở hầu hết các tỉnh, thành, vùng miền khó
khăn đều có đủ trường học. Nhiều trường đã được xây dựng theo tiêu chuẩn kiên
cố hóa. Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên, chất lượng giáo dục đỉnh
cao có bước phát triển mới. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát
triển cả về số lượng và chất lượng, với cơ cấu ngày càng hợp lý. Tỷ lệ chi ngân
sách cho giáo dục hàng năm của nước ta ở mức xấp xỉ 20%, tương đương 5%
GDP. Nhờ đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, hệ thống giáo dục và đào tạo ngoài
công lập đã góp phần đáng kể vào phát triển giáo dục và đào tạo chung của
hiện nay bộ môn GDCD trong nhà trường THPT chưa nhận được sự quan tâm,
đầu tư đúng mức như nó cần phải có. Nội dung chương trình môn GDCD đang
quá nặng về “dạy chữ” mà chưa chú trọng nhiều đến việc “dạy người”. Đội ngũ
-2-
giáo viên của các trường chất lượng chưa đồng đều, còn một số giáo viên dạy
không đúng chuyên môn đào tạo, phương pháp dạy học còn đơn điệu… Do đó,
hiệu quả việc giảng dạy bộ môn GDCD với việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở
một số trường phổ thông trung học nước ta nói chung, ở thành phố Hà Nội nói
riêng còn nhiều bất cập, hạn chế.
Vậy làm thế nào để chúng ta có được những nhân cách học sinh phát triển
toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản; thiết tha
gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có ý chí kiên cường xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là một trong những vấn đề lớn đặt ra cho ngành
giáo dục nói riêng, cho xã hội Việt Nam nói chung. Để góp một phần nhỏ bé của
mình vào việc giải quyết vấn đề lớn trên đây, tác giả xin chọn vấn đề “Giảng dạy
môn Giáo dục công dân với sự phát triển nhân cách học sinh trung học phổ
thông thành phố Hà Nội hiện nay” để nghiên cứu và làm luận án tiến sĩ Triết
học, chuyên ngành Đạo đức học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu : Trên cơ sở góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý
luận về nhân cách, vai trò của giảng dạy môn GDCD đối với sự phát triển nhân
cách học sinh THPT, luận án phân tích thực trạng vấn đề giảng dạy môn GDCD
với sự phát triển nhân cách cho học sinh THPT thành phố Hà Nội thời gian qua,
từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giảng
dạy môn học này trong các trường THPT ở thành phố Hà Nội hiện nay.
Nhiệm vụ của luận án
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp với các
phương pháp phân tích – tổng hợp; hệ thống – cấu trúc; lôgic – lịch sử; xử lý văn
bản.
-4-
Trong chừng mực có liên quan, luận án có sử dụng các tài liệu thống kê,
các báo cáo kinh tế – xã hội của các tổ chức thuộc hệ thống hành chính, giáo
dục, khoa học, pháp luật, văn hóa, xã hội… của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Phương pháp thu thập số liệu từ các báo cáo của Đoàn thanh niên các trường
THPT tại thành phố Hà Nội.
Luận án có tham khảo và sử dụng một số nghiên cứu khảo sát thực địa,
điền dã tại một số trường THPT tại thành phố Hà Nội; sẽ sử dụng những số liệu
của những phỏng vấn đã thực hiện bằng bảng hỏi. Thống kê, phân tích, tổng hợp,
nghiên cứu, phát hiện và giải quyết vấn đề trên cơ sở xử lý thông tin thu được từ
bảng hỏi của một số nghiên cứu khác đã có và những thông tin của các công bố
khác trên các báo chí chuyên ngành.
5. Đóng góp mới của luận án
– Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận liên quan đến vai trò của
việc giảng dạy môn GDCD đối với sự phát triển nhân cách học sinh THPT thành
phố Hà Nội hiện nay.
– Phân tích thực trạng và nguyên nhân của thực trạng giảng dạy môn
GDCD trong các trường THPT ở thành phố Hà Nội hiện nay, trên cơ sở đó đề
xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy môn GDCD
đối với sự phát triển nhân cách của học sinh THPT ở thành phố Hà Nội hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận: Luận án góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận liên
sách gồm 16 chương, được in trong hai tập. Tập I gồm phần mở đầu và 7
chương, tập II gồm 9 chương. Cuốn sách được dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt
năm 1983, do Nhà xuất bản Sách giáo khoa Mác – Lênin ấn hành. Đây là công
trình khoa học của các học giả thuộc nhiều nước trong cộng đồng xã hội chủ
nghĩa (trước đây) biên soạn và do L.M. Ác–khan–ghen–xki Chủ biên. Cuốn sách
đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề như: nhân cách; những đặc trưng cơ bản
của nhân cách xã hội chủ nghĩa; tính tích cực xã hội của nhân cách; sự phát triển
nhân cách về mặt đạo đức; những con đường giáo dục nhân cách xã hội chủ
nghĩa; phê phán các thuyết đầu cơ tư sản về vị trí của nhân cách trong xã hội xã
hội chủ nghĩa [92].
Những luận giải của các tác giả trong mục “Khái niệm nhân cách” và
“Tính quyết định xã hội và tính tích cực của nhân cách” cũng như những mục
liên quan đến con đường giáo dục nhân cách xã hội chủ nghĩa là những tài liệu
tham khảo có giá trị khi bàn về nhân cách học sinh THPT và vai trò của giáo dục
nói chung, giảng dạy môn GDCD nói riêng đối với sự hình thành và phát triển
nhân cách của đối tượng này.
-7-
Nghiên cứu nhân cách tương đối có hệ thống ở Việt Nam trước hết phải
kể đến Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX–07 (giai đoạn
1991–1995) – “Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển
kinh tế – xã hội”. Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn
nhằm phát hiện ra những đặc trưng, xu hướng lựa chọn giá trị nhân cách của con
người Việt Nam trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, trên cơ sở đó
đề ra các giải pháp nhằm định hướng sự lựa chọn các giá trị nhân cách đúng vì
sự phát triển bền vững của đất nước.
Đặc biệt đề tài KX–07– 04 “Giá trị – Định hướng giá trị nhân cách và
giáo dục giá trị” do tác giả Nguyễn Quang Uẩn làm chủ nhiệm đã đi sâu nghiên