Pháp luật về giải quyết khiếu nại trong lĩnh đất đai từ thực tiễn tỉnh ninh bình - Pdf 50

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa của tôi dưới sự hướng dẫn
của TS Trần Quang Huy – Phó hiệu trưởng trường Đại học Luật Hà Nội.
Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn
đúng theo quy định.
Người thực hiện

Hà Huy Tuấn


LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong Viện Đại học Mở Hà Nội –
Khoa sau đại học, Khoa Luật kinh tế đã giúp đỡ em, cung cấp các kiến thức cần thiết,
hướng dẫn em học tập, nghiên cứu trong suốt quá trình tham gia chương trình học tập
tại nhà trường và thực hiện luận văn thạc sỹ này.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Thầy giáo, Tiến sỹTrần
Quang Huy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn thạc sỹ này.

Ngày……tháng ……..năm 2017
Học viên

Hà Huy Tuấn


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..................................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
VỀ ĐẤT ĐAI CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH .............................................. 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai

Chương 2: THỰC TRẠNG KHIẾU NẠI VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI
QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
.................................................................................................................................. 35
2.1. Tình hình khiếu nại về đất đai trên địa bàn tỉnh Ninh Bình thời gian qua.................... 37
2.1.1. Khái quát tình hình khiếu nại về đất đai trên địa bàn tỉnh Ninh Bình................ 37
2.1.2. Nội dung khiếu nại về đất đai chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau .............. 40
2.1.3. Nguyên nhân chủ yếu phát sinh khiếu nại về đất đai. ........................................... 41
2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai của Uỷ ban nhân
dân tỉnh Ninh Bình thời gian qua......................................................................................... 44
2.2.1. Kết quả áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai của Uỷ ban nhân
dân tỉnh Ninh Bình .......................................................................................................... 44
2.2.2. Tồn tại, hạn chế trong áp dụng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai của uỷ
ban nhân dân tỉnh Ninh Bình hiện nay ........................................................................... 47
2.2.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong áp dụng pháp luật giải quyết khiếu
nại về đất đai của Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình....................................................... 52
2.2.3.1. Nguyên nhân khách quan................................................................................... 52
2.2.3.2. Nguyên nhân chủ quan....................................................................................... 56
Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH NINH
BÌNH HIỆN NAY ..................................................................................................... 59
3.1. Những yêu cầu khách quan đảm bảo áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về
đất đai .................................................................................................................................. 59


3.1.1. Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất,
bảo đảm ổn định và an sinh xã hội ................................................................................. 59
3.1.2. Xuất phát từ yêu cầu tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực đất
đai.................................................................................................................................... 61
3.1.3. Xuất phát từ yêu cầu khắc phục những khiếm khuyết của áp dụng pháp luật
trong giải quyết khiếu nại về đất đai của Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình ........... 65

mang lại hiệu quả, lợi ích to lớn, thiết thực phục vụ cho mỗi con người và cả cộng đồng.
Đất đai có vai trò quan trọng như vậy nên Đảng và Nhà nước ta giành sự quan
tâm đặc biệt đến vấn đề đất đai. Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nước về đất đai được điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển kinh tế- xã hội
của đất nước, trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước thì chính sách,
pháp luật đất đai trở thành cơ sở pháp lý hết sức quan trọng để huy động nguồn lực về
đất đai để phát triển nền kinh tế.
Vì vậy quản lý nhà nước bằng pháp luật về đất đai ngày càng được hoàn thiện,
đã đạt được những bước tiến rõ rệt, hệ thống quản lý nhà nước về đất đai được tăng
cường. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tình hình quản lý và sử dụng đất đai
hiện nay còn có những yếu kém nhất định và nổi cộm ở một số địa phương. Vấn đề
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa có tính chiến lược lâu dài và thiếu tính khả thi;
cơ chế quản lý về đất đai còn thiếu hiệu quả; cơ quan quản lý đất đai các cấp còn nhiều
yếu kém, đặc biệt là cơ quan cấp xã, phường, thị trấn. Chính vì thế tình trạng tranh
chấp, khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai có xu hướng tăng và diễn biến có phần
phức tạp. Việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo còn đùn đẩy, chưa kịp thời và
thiếu hiệu quả. Những yếu kém trong công tác quản lý và sử dụng đất nói chung cũng
như những yếu kém trong giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai nói riêng
còn có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rất quan trọng từ sự hạn chế, bất

1


cập của chính sách, pháp luật đất đai và việc áp dụng, thực thi pháp luật trong giải
quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến
pháp: “Mọi người có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” (Điều 30
Hiến pháp sửa đổi năm 2013) Như vậy khiếu nại là quyền cơ bản của công dân, là biện
pháp pháp lý để công dân sử dụng bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bị xâm phạm.

Vấn đề cơ bản hiện nay là phải hoàn thiện các quy định pháp luật về khiếu nại
và giải quyết khiếu nại về đất đai; khắc phục những điểm bất hợp lý, những bất cập về
cơ chế, thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại khiến cho việc áp dụng, thực
hiện các quy định pháp luật vào thực tế gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Thực tiễn
cho thấy không ít trường hợp làm cho vụ việc trở nên phức tạp, kéo dài là do việc áp
dụng, thực hiện pháp luật chưa đúng, chưa phù hợp.Điều này không những chưa bảo
đảm tính đúng đắn, nghiêm minh của pháp luật mà còn chưa bảo vệ được quyền và lợi
ích chính đáng của nhân dân. Áp dụng, thực hiện pháp luật trong giải quyết khiếu nại
về đất đai không chỉ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân mà còn giữ vững
lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Ninh Bình là tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng. Những năm gần đây thực hiện
chủ trương của Đảng về mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút các nhà đầu tư trong
và ngoài nước. Vì thế đã kéo theo một phần không nhỏ diện tích đất nông nghiệp được
chuyển mục đích sử dụng thành đất công nghiệp, dịch vụ, du lịch và xây dựng cơ sở hạ
tầng giao thông, cùng với đó là tình hình bùng nổ dân số dẫn đến việc thiếu đất sản
xuất. Quá trình đó phát sinh những tranh chấp, lấn chiếm đất đai. Do vấn đề quản lý
nhà nước về đất đai ở địa phương có lúc, có nơi còn chưa chặt chẽ dẫn tới khiếu nại, tố
cáo của nhân dân trong tỉnh có chiều hướng gia tăng, thậm chí có những vụ việc Tỉnh
uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh phải trực tiếp chỉ đạo giải quyết để làm dịu tình hình. Nhận
thức được những vướng mắc cần phải chấn chỉnh, tháo gỡ cũng như tầm quan trọng
của việc áp dụng, thực thi pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai nói chung và
của Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình nói riêng. Đồng thời đó cũng là những trăn trở
được đúc kết từ thực tiễn và quá trình học tập, vì thế tôi chọn đề tài “Pháp luật về giải
quyết khiếu nại trong lĩnh đất đai từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình” làm luận văn thạc sỹ
luật học.

3


2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài



4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Các quan hệ pháp luật về đất đai phát sinh giữa Uỷ ban nhân dân tỉnh với các
chủ thể khiếu nại về đất đai, trong đó nghiên cứu chủ yếu về việc áp dụng pháp luật về
giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai và thực tiễn áp dụng, thực thi tại tỉnh Ninh
Bình, tập trung vào khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại
về đất đai. Đồng thời luận chứng giải pháp nâng cao chất lượng hiệu quả áp dụng pháp
luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai, thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Bình hiện nay
.

- Phạm vi nghiên cứu:
+ Pháp luật về giải quyết khiếu nại trong phạm vi giải quyết khiếu nại về đất

đai tại tỉnh Ninh Bình.
+ Về không gian: đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu
nại về đất đai trên địa bàn tỉnh Ninh Bình chủ yếu là việc áp dụng pháp luật của Uỷ
ban nhân dân tỉnh Ninh Bình, tuy nhiên có khái quát tình hình áp dụng pháp luật trong
giải quyết khiếu nại của cấp xã và cấp huyện thuộc tỉnh Ninh Bình.
+ Về thời gian: Khi đánh giá thực trạng chỉ khảo sát ở Ninh Bình với tư cách là
điển hình để làm cơ sở luận giải cho những vấn đề chung trong khoảng thời gian từ
2014 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa
MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Các quan điểm, đường lối
của Đảng cộng sản Việt Nam về pháp chế và xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân, nhất là quan điểm chỉ đạo của Đảng về chính sách
quản lý nhà nước về đất đai và giải quyết khiếu nại về đất đai. Đồng thời luận văn còn
dựa trên những vấn đề lý luận chung về áp dụng pháp luật xã hội chủ nghĩa.


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU
NẠI VỀ ĐẤT ĐAI CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật trong giải quyết khiếu nại về
đất đai của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về
đất đai
1.1.1.1. Khái niệm khiếu nại về đất đai
Ở Việt Nam, khiếu nại là một khái niệm được đề cập nhiều, sử dụng rộng rãi
trong đời sống xã hội, không giới hạn trong một lĩnh vực nào mà bao trùm tất cả các
phạm vi chủ yếu của đời sống xã hội và trong hoạt động quản lý nhà nước. Tuỳ thuộc
mục đích và góc độ nghiên cứu mà khiếu nại được hiểu theo những nghĩa khác nhau.
- Khiếu nại là gì? Khiếu nại theo gốc tiếng Latinh: Complant, nghĩa là “sự phàn
nàn, phản ứng, bất bình của người nào đó về vấn đề có liên quan” [55, tr.205]. Theo
Đại từ điển tiếng Việt, khiếu nại được hiểu là “thắc mắc, đề nghị xem xét lại những kết
luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm, đã chuẩn y” [63, tr.904]. Về phương
diện xã hội, khiếu nại là việc công dân ca thán, phàn nàn, phản đối, không chấp nhận
một việc làm (hành vi) hoặc một quyết định của một tổ chức làm ảnh hưởng tới quyền,
lợi ích của họ. Đây là sự phản ứng tự nhiên của mỗi công dân trong cộng đồng, xã hội.
Dưới góc độ lý luận dùng quyền để bảo vệ quyền, người ta quan niệm khiếu nại là một
trong những phương thức bảo vệ quyền chủ thể: “Khiếu nại được sử dụng khi quyền
chủ thể của bản thân công dân khiếu nại hoặc của người do mình bảo hộ bị vi phạm do
quyết định hoặc hành vi trái pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của các cơ
quan quản lý nhà nước hoặc nhân viên nhà nước” [12, tr.477]. Về phương diện chính
trị- pháp lý, khiếu nại là quyền cơ bản của công dân trong mỗi nhà nước, được pháp
luật của nhà nước đó quy định và bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước.Khiếu
nại có thể được hiểu là ý kiến phản hồi của công dân đối với những hoạt động của bộ
máy nhà nước trong quá trình quản lý xã hội mà họ cho rằng hoạt động đó đã tác động,
xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ.Theo cuốn thuật ngữ pháp lý phổ
thông thì khiếu nại là “việc yêu cầu cơ quan nhà nước, trước tiên là tổ chức xã hội

Do vậy có thể hiểu khiếu nại hành chính là hình thức bảo vệ quyền công dân trước các
quyết định hoặc hành vi vi phạm của cơ quan nhà nước. Khi có một khiếu nại hành
chính cũng đồng nghĩa với việc một cơ quan, tổ chức hoặc công dân cho rằng quyền,

8


lợi ích mà pháp luật quy định cho họ đã bị xâm hại hoặc có thể bị xâm hại. Nội dung
khiếu nại hành chính không phụ thuộc vào các cơ quan nhà nước mà chúng gửi đến mà
phụ thuộc vào chính quyết định hoặc hành vi hành chính bị khiếu nại.
Điều 30 Hiến pháp 2013 qui định: "Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ
chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết
khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và
phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật…Luật Khiếu nại năm 2011 qui định:
Khiếu nại là: Việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do
luật này qui định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết
định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công
chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm đến
đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình [điều 2, tr.1]. Như vậy, khiếu nại là một trong
những quyền cơ bản của công dân. Vì vậy mọi công dân Việt Nam đều có quyền khiếu
nại, ngay cả khi người đó phạm tội hình sự và có thể bị hạn chế một số quyền khác
theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, việc thực hiện quyền khiếu nại quyết định, hành vi hành chính cũng
có những điều kiện nhất định. Chẳng hạn như điều kiện về mối quan hệ nhân quả giữa
quyết định, hành vi hành chính với hậu quả xảy ra trên thực tế- tức quyền, lợi ích của
người khiếu nại phải liên quan trực tiếp đến quyết định hành chính, hành vi hành chính
bị khiếu nại hoặc việc khiếu nại phải thực hiện theo trình tự, thủ tục được pháp luật
quy định. Theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 thì công dân, cơ quan, tổ chức

quan hành chính nhà nước, công chức của cơ quan hành chính nhà nước đã làm không
đúng hoặc làm trái quy định của pháp luật, cũng có thể là việc không thực hiện trách
nhiệm công vụ mà theo quy định của pháp luật thì họ phải thực hiện. Chẳng hạn, pháp
luật quy định trong một thời hạn nhất định đối với hộ gia đình cá nhân nếu có đủ giấy tờ
hợp lệ, sử dụng đất ổn định trước 15/10/1993, không có tranh chấp, không vi phạm quy
hoạch và có đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không được cấp thì họ
có quyền khiếu nại về việc chậm chễ đó. Khiếu nại về đất đai là một dạng của khiếu nại
hành chính, do vậy từ khái niệm khiếu nại hành chính ta đi đến khái niệm khiếu nại về
đất đai. Khiếu nại về đất đai là việc công dân, cơ quan, tổ chức theo trình tự, thủ tục

10


khiếu nại và giải quyết khiếu nại do Luật Đất đai và Luật Khiếu nại quy định đề nghị cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó
là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Trong quan niệm khiếu
nại về đất đai có thể nhận thấy chủ thể, khách thể và đối tượng phát sinh trong quan hệ
khiếu nại:
- Chủ thể của khiếu nại về đất đai là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích
hợp pháp bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực
quản lý và sử dụng đất đai trái pháp luật.
- Khách thể của khiếu nại về đất đai là sự bảo đảm của Nhà nước đối với quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
- Đối tượng của khiếu nại về đất đai là các quyết định hành chính của cơ quan
quản lý đất đai hoặc hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong quản lý đất đai
khi thi hành công vụ, gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức.
1.1.1.2. Khái niệm Pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai
Theo lý luận chung đã được giới khoa học pháp lý thừa nhận, thực hiện pháp
luật bao gồm các hình thức sau: Tuân thủ pháp luật; Chấp hành pháp luật; Sử dụng

các bên tham gia vào quan hệ đó, hoặc nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại
của một số sự việc, sự kiện thực tế nào đó.
Theo điều 4 Luật đất đai 2013, “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại
diện chủ sở hữu”. Do đó, với tư cách đại diện chủ sở hữu, Nhà nước giao quyền sử
dụng đất cho người sử dụng đất và quy định cụ thể những quyền cũng như nghĩa vụ
pháp lý đối với người sử dụng đất. Khoản 7 Điều 166 Luật đất đai 2013 quy định
quyền chung của người sử dụng đất: “Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi
phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật
về đất đai”; khoản 1 điều 204 Luật đất đai 2013: “Người sử dụng đất, người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định
hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai”.
Theo pháp luật hiện hành, ở nước ta có các hai hệ thống cơ quan có chức năng giải
quyết các vụ việc khiếu nại về đất đai. Cụ thể tại Điều 204 Luật đất đai 2013 quy định:

12


1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất
có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản
lý đất đai.
2. Trình tựu, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành
chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục
giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện
theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.
Khoản 1 và khoản 3 Điều 7 Luật khiếu nại quy định trình tự khiếu nại như sau:
1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái
pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu
nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có
hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật
tố tụng hành chính.

khiếu nại về đất đai không bao gồm trường hợp khiếu nại về quyết định hành chính
giải quyết tranh chấp đất đai. Quy định như trên sẽ làm rõ thẩm quyền giải quyết khiếu
nại về đất đai, khắc phục được tình trạng đang từ giải quyết tranh chấp đất đai lại
chuyển sang khiếu nại về quyết định hành chính như hiện nay, tách bạch giữa giải
quyết khiếu nại về đất đai với giải quyết tranh chấp về đất đai.
Tuy nhiên, từ trước đến nay chúng ta duy trì cách giải quyết là “người khiếu nại
lần đầu phải khiếu nại với người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có cán bộ,
công chức có hành vi hành chính mà người khiếu nại có căn cứ cho rằng quyết định,
hành vi đó là trái pháp luật….”; có nghĩa người bị khiếu nại chính lại là người giải
quyết khiếu nại và “cơ quan hành chính cấp trên xem xét khiếu nại đối với quyết định
giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới” (giải quyết khiếu nại
lần hai) sẽ dẫn đến thiếu dân chủ và khó tránh khỏi yếu tố không khách quan. Trong
xu thế hội nhập mở cửa chúng ta cần hoàn thiện pháp luật theo hướng mọi quyết định
hành chính (trong đó có quyết định giải quyết khiếu nại) có thể bị kiện ra toà bất cứ
lúc nào theo yêu cầu của người khiếu nại để bảo đảm dân chủ, khách quan và người
dân có nhiều cơ hội lựa chọn cách giải quyết, cơ quan giải quyết.
Giải quyết khiếu nại về đất đai là một dạng hoạt động của quản lý nhà nước, do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tiến hành theo phạm vi, chức
năng, thẩm quyền. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của người khiếu nại mà vụ

14


việc sẽ được giải quyết theo thủ tục tố tụng của hệ thống cơ quan Toà án hoặc theo thủ
tục hành chính, kết quả giải quyết có thể là một bản án, quyết định của Toà án hoặc
bằng một quyết định hành chính của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền.
Đồng thời giải quyết khiếu nại về đất đai còn là một dạng của hoạt động áp dụng pháp
luật. Thông qua các hồ sơ, tài liệu lưu trữ mà các cơ quan cung cấp, chứng cứ, dấu
hiệu, hành vi, tình tiết thực tế của từng vụ việc, cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc
nhà chức trách có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật để xác định được

khiếu nại có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân hoặc khiếu nại tiếp đến Bộ trưởng
quản lý ngành, lĩnh vực. Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai
của Bộ trưởng thì người khiếu nại có thể khởi kiện ra tòa hành chính. Tóm lại, áp dụng
pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là hoạt
động mang tính tổ chức và tính quyền lực nhà nước. Đó là việc nhà chức trách có thẩm
quyền căn cứ vào quy định của pháp luật để ra một quyết định hành chính (quyết định
cá biệt) mà hậu quả pháp lý và giá trị hiệu lực của quyết định đó sẽ làm phát sinh, thay
đổi hoặc chấm dứt một quan hệ pháp luật về đất đai. Hay nói cụ thể hơn áp dụng pháp
luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là việc người
có chức trách thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bằng quyền hạn của mình, căn
cứ vào quy định của pháp luật ban hành một quyết định hành chính giải quyết các
khiếu nại về đất đai nhằm để xác định tính chất đúng, sai của nội dung khiếu nại, yêu
cầu giữ nguyên, sửa đổi hoặc huỷ bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính,
chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại; buộc bồi thường thiệt hại (nếu có); khẳng
định người khiếu nại có quyền khiếu nại tiếp, quyền khởi kiện vụ án hành chính tại
Toà án hay không; khôi phục uy tín, danh dự đã bị xâm hại, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người khiếu nại.
1.1.1.3. Đặc điểm áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai
Trên cơ sở khái niệm áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai
của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, ngoài những đặc điểm chung của áp dụng pháp luật, áp
dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh còn
có những đặc thù riêng.
Thứ nhất, Áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai của Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, thể hiện: Hoạt động áp
dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, chủ

16


thể giải quyết phải do người đứng đầu của cơ quan quản lý hành chính nhà nước tiến



trên hiện thực đời sống xã hội, nên có thể nói áp dụng pháp luật còn mang ý nghĩa chính
trị, phục vụ cho những mục đích chính trị nhất định. Vì vậy, việc áp dụng pháp luật
không những phải phù hợp với pháp luật thực định mà còn phải phù hợp với chủ trương,
chính sách của nhà nước trong từng giai đoạn cách mạng khác nhau với những điều kiện
lịch sử, kinh tế, xã hội khác nhau.
Thứ hai, Áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai của Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh là hoạt động phải tuân theo những hình thức và thủ tục chặt chẽ do
pháp luật quy định. Luật khiếu nại quy định: Điều 28: Thời hạn giải quyết khiếu nại
lần đầu “Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý;
đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45
ngày, kể từ ngày thụ lý đơn. Ở vùng sâu, vùng xã đi lại khó khăn thì thời hạn giải
quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời
hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý”. Điều
37: Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai “Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không
quá 45 ngày kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể
kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn. Ở vùng sâu, vùng xã đi
lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý;
đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 70
ngày, kể từ ngày thụ lý”
Áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai của Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh là hoạt động mang tính chất đặc thù do người đứng đầu cơ quan quản lý hành
chính Nhà nước thực hiện và phải tuân theo những hình thức, thủ tục chặt chẽ theo quy
định của pháp luật. Bởi vì, xuất phát từ tầm quan trọng của đất đai cũng như công tác
giải quyết khiếu nại về đất đai, chủ thể bị áp dụng pháp luật có thể được hưởng những
lợi ích rất lớn hoặc chịu những hậu quả nghiêm trọng do hành vi áp dụng pháp luật gây
ra. Mặt khác việc quy định một cách chặt chẽ hình thức, trình tự, thủ tục và thẩm
quyền sẽ tạo ra cơ sở pháp lý, công cụ quan trọng để Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực
hiện chức năng quản lý của mình. Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền hiện

pháp luật phải biết vận dụng một cách sáng tạo linh hoạt, không dập khuôn máy móc
bằng cách áp dụng tương tự pháp luật. Để đạt tới điều đó đòi hỏi người áp dụng pháp
luật phải có ý thức pháp luật cao, có tri thức tổng hợp, có kinh nghiệm phong phú, có
đạo đức trong sáng và có trình độ chuyên môn cao. Song, việc vận dụng pháp luật phải

19


tuân thủ nguyên tắc là việc vận dụng pháp luật đó phải đảm bảo được lợi ích của Nhà
nước, của xã hội; bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân nhưng
không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Thực tiễn cho thấy, quản lý hành chính nhà
nước về đất đai vốn đã phức tạp nhưng càng khó khăn phức tạp hơn khi tham gia giải
quyết khiếu nại về đất đai. Do đó đòi hỏi cơ quan có chức năng, thẩm quyền; người có
chức năng, thẩm quyền trong quá trình áp dụng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất
đai phải am hiểu sâu, rộng không chỉ pháp luật hiện hành mà còn phải nắm vững các
chủ trương, quan điểm, những chính sách, quy định của pháp luật về đất đai qua các
giai đoạn, thời kỳ của Đảng và Nhà nước ta. Trong quá trình giải quyết phải có óc
phán đoán, khả năng tư duy để phân tích, đánh giá, tìm đúng bản chất và hiện tượng vụ
việc nhằm giúp cho chủ thể áp dụng pháp luật lựa chọn đường lối xử lý phù hợp cũng
như lựa chọn quy phạm pháp luật làm căn cứ ban hành để giải quyết vụ việc.
1.1.2. Vai trò Áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai.
1.1.2.1. Áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai có vai trò
quan trọng trong việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất
Trong quá trình quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước về
đất đai nói riêng, các cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan
đó không tránh khỏi việc ban hành các quyết định hay có hành vi xâm phạm quyền và
lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân. Để tránh hậu quả đó, pháp luật quy
định cơ quan, tổ chức và công dân có quyền đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
xem xét lại quyết định, hành vi hành chính nhằm bảo vệ lợi ích của mình. Giải quyết
khiếu nại là thực hiện sự bảo đảm của nhà nước đối với quyền khiếu nại của công dân,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status