Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học đọc hiểu chùm ca dao hài hước ở trường THPT (2018) - Pdf 50

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************

TRẦN THỊ THU

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
ĐỌC HIỂU CHÙM CA DAO HÀI HƯỚC
Ở TRƢỜNG THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI, 2018


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************

TRẦN THỊ THU

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
ĐỌC HIỂU CHÙM CA DAO HÀI HƯỚC
Ở TRƢỜNG THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. Nguyễn Thị Mai Hƣơng


Trần Thị Thu


MỘT SỐ THUẬT NGỮ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

HS

: Học sinh

GV

: Giáo viên

PGS

: Phó giáo sư

TNST

: Trải nghiệm sáng tạo

THPT

: Trung học phổ thông

SGK

: Sách giáo khoa


1.3.2.3. Ngôn ngữ trong văn bản trữ tình ........................................................ 14
1.4. Tiềm năng tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học đọc hiểu chùm ca
dao hài hước .................................................................................................... 15
1.5. Bài học nhận thức từ Ca dao hài hước ..................................................... 16
Chƣơng 2. BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU CHÙM CA DAO HÀI HƢỚC............. 21
2.1. Hoạt động trải nghiệm trong giờ học ....................................................... 21
2.1.1. Đọc sắm vai ........................................................................................... 21
2.1.2. Đóng vai chuyên gia về ca dao hài hước. ............................................. 24
2.1.3. Cuộc thi sưu tầm ca dao ........................................................................ 28
2.2. Hoạt động trải nghiệm ngoài giờ học....................................................... 30
2.2.1. Trại sáng tác .......................................................................................... 30
2.2.2. Tổ chức chuyển thể và sân khấu hóa kịch bản ca dao .......................... 32
Chƣơng 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM..................................................... 35
3.1. Mục đích thực nghiệm ............................................................................. 35
3.2. Đối tượng thực nghiệm ............................................................................ 35
3.3. Địa bàn thực nghiệm ................................................................................ 35
3.4. Nội dung thực nghiệm.............................................................................. 35
3.5. Kết quả thực nghiệm ................................................................................ 57
KẾT LUẬN .................................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đang trở thành nhu cầu cấp thiết
và có ý nghĩa chiến lược trong quá trình dạy học. Đặc biệt là trong bộ môn
văn học, một môn học có vị trí cơ bản trong nhà trường. Trong việc đổi mới
phương pháp dạy học văn nói chung và trong dạy học văn ở trường THPT nói
riêng, người giáo viên cần áp dụng nhiều phương pháp mới trong giảng dạy

khăn trong việc lựa chọn, xây dựng kế hoạch hoặc cơ sở vật chất, trang thiết
bị phục vụ cho hoạt động.
Thực tế còn cho thấy, hiện nay học sinh đang dần quay lưng với việc học
văn, đặc biệt là không dành nhiều sự quan tâm đến những văn bản ca dao.
Vấn đề dạy và học ca dao bằng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo là cách
đưa ca dao đến gần với học sinh.
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi nhận thấy, người giáo viên cần
áp dụng tích cực các phương pháp dạy học. Trong đó việc tổ chức các hoạt
động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học đọc hiểu chùm ca dao hài hước là
việc làm cần thiết, giúp học sinh được trải nghiệm và sáng tạo trong học tập.
Vì vậy chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học
sinh trong dạy học đọc hiểu chùm Ca dao hài hước ở trường THPT”.
Trong khuôn khổ một bài khóa luận, chúng tôi mong muốn góp một phần vào
việc đổi mới phương pháp dạy học, giúp cho tác phẩm văn học thêm gần gũi
thiết thực và khơi gợi ý thức học tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh.
2. Lịch sử vấn đề
Việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học đã và
đang được ứng dụng mạnh mẽ trong nhà trường. Bàn về hoạt động TNST đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này cả ở nước ngoài và Việt
Nam
Trong cuốn sách Kinh nghiệm và giáo dục (Experience and education)
John Deway - nhà giáo dục người Mĩ đã chỉ ra những hạn chế và đưa ra quan

2


điểm của mình về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục. Ông cho rằng
những kinh nghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao hiệu quả của giáo dục
bằng cách kết nối giữa người học, kiến thức và thực tiễn.
Cũng nghiên cứu về vấn đề này, trong cuốn “Học từ trải nghiệm”, David

HĐTNST trong dạy học. Dựa vào những nghiên cứu trên chúng tôi tiến hành:
“Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học đọc hiểu chùm
ca dao hài hước ở THPT” để nhấn mạnh vai trò của việc tổ chức các
HĐTNST trong dạy học nói chung và dạy học văn bản chùm Ca dao hài hƣớc
nói riêng.
3. Mục đích nghiên cứu
- Xác định các biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm cho HS trong
dạy học đọc hiểu chùm Ca dao hài hước.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài “Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh
trong dạy học đọc hiểu chùm ca dao hài hước ở THPT” chúng tôi xác định
những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tổng hợp hệ thống khái niệm về trải nghiệm sáng tạo, xác định tiềm
năng tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học chùm ca dao hài hước, trình
bày những đặc trưng cơ bản của văn bản trữ tình.
- Đề xuất cách thức thiết kế bài học “Chùm ca dao hài hƣớc” theo
hướng trải nghiệm sáng tạo ở trường THPT
5. Đối tƣơng nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi tập trung nghiên cứu:
- Các biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm cho HS trong dạy học đọc
hiểu chùm Ca dao hài hước.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu các đặc trưng của văn bản trữ tình. Đặc biệt đi sâu
vào các nguyên tắc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo qua chùm Ca dao
hài hƣớc.

4


- Gắn với nội dung đề tài nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn chùm “Ca dao

1.1. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
1.1.1. Khái niệm hoạt động
Hoạt động là một trong những phương thức tồn tại của con người. Hiểu
một cách đơn giản, hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người
và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm về cả phía thế giới và phía con
người (chủ thể). Có hai chiều tác động được diễn ra đồng thời, thống nhất và
bổ sung lẫn nhau trong quá trình tác động:
Đó là chiều tác động của chủ thể là con người vào thế giới. Ở chiều tác
động này, con người đã chuyển những đặc điểm tâm lí của mình vào sản phẩm
và tạo ra những sản phẩm chứa đựng đặc điểm tâm lí của người làm ra nó.
Chiều thứ hai là chiều tác động ngược lại, đây là quá trình con người
chuyển hóa những cái chứa đựng trong thế giới vào mình. Là quá trình con
người hình thành được kinh nghiệm về thế giới và những quy luật của thế giới
tạo thành vốn hiểu biết của bản thân. Chính điều này đã trở thành tiền đề để
chiều tác động thứ nhất trở nên hiệu quả hơn, tức là con người có thêm kinh
nghiệm để tác động vào thế giới một cách hiệu quả. Đây được gọi là quá trình
hình thành tâm lí ở chủ thể.
Như vậy, có thể khẳng định rằng tâm lí con người được bộc lộ thông qua
hoạt động và hình thành trong hoạt động
Giáo dục thực chất là cách tổ chức quá trình hoạt động liên tục cho trẻ.
Hoạt động của trẻ là hoạt động có tổ chức bắt đầu từ những hoạt động bên
ngoài sau đó sẽ hình thành trong trẻ tâm lí, ý thức và nhân cách. Như vậy, quá
trình học chính là quá trình làm việc để tạo ra sản phẩm xác định, còn quá

6


trình dạy là quá trình tổ chức làm việc, cung cấp vật liệu, mẫu sản phẩm, quy
trình công nghệ làm ra sản phẩm.
“Trong giáo dục, hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) là những hoạt

- Trải nghiệm là hệ thống kỹ năng và kiến thức có được qua thực tế, giao
tiếp và những hiểu biết ngoài giáo dục.
Tóm lại, quan điểm cơ bản của trải nghiệm là biết biến những trải
nghiệm của bản thân thành kinh nghiệm để áp dụng vào thực tế.
1.1.3. Khái niệm hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động TNST là hoạt động được thực hiện phối hợp một cách hợp lý
cả hai khâu trải nghiệm và sáng tạo.
Hoạt động TNST tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm trong thực tiễn để
tích lũy và chiêm nghiệm các kinh nghiệm, từ đó có thể khái quát thành hiểu
biết theo cách của riêng mình, đó được gọi là sáng tạo của bản thân học sinh.
Hoạt động TNST có khả năng huy động sự tham gia tích cực của học sinh ở
tất cả các khâu của quá trình hoạt động: Từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị,
thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả
năng của bản thân; tạo cơ hội cho các em được trải nghiệm, được bày tỏ quan
điểm, ý tưởng sáng tạo; được đánh giá và lựa chọn ý tưởng hoạt động, được
thể hiện, tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá và đánh giá kết quả hoạt
động của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè…
Như vậy: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục trong đó
từng học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong
xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình
cảm, đạo đức, các kỹ năng và tích luỹ kinh nghiệm riêng của cá nhân.
Trải nghiệm sáng tạo là hoạt động được coi trọng trong từng môn học;
đồng thời trong kế hoạch giáo dục cũng bố trí các hoạt động trải nghiệm sáng
tạo riêng, mỗi hoạt động này mang tính tổng hợp của nhiều lĩnh vực giáo dục,
kiến thức, kỹ năng khác nhau.

8


Hoạt động TNST là hoạt động dành cho tất cả đối tượng HS từ tiểu học


Bản chất tâm lí của sự hiểu là biến cái của người khác thành cái vừa của
mình - vừa của người khác. Hiểu bao giờ cũng là tự hiểu, nghĩa là biến cái
được hiểu thành kiến thức, quan điểm, niềm tin của mình. Ở đây biên độ hiểu
được hiểu từ mức độ đơn giản nhất là nhận biết cho tới mức độ cao nhất là
đánh giá, vận dụng.
GS. Nguyễn Thanh Hùng khi bàn về vấn đề đọc hiểu cho rằng: “Hiểu là
phát hiện và nắm vững mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, đối tượng nào
đó và có ý nghĩa của các mối quan hệ đó. Hiểu là bao quát hết nội dung và có
thể vận dụng vào đời sống. Hiểu là phải trả lời được câu hỏi: Cái gì? Vì sao?
Làm như thế nào? Hiểu là quá trình nhận thức văn bản một cách toàn vẹn.”
[5, tr.18]
* Đọc - hiểu
Theo bài báo của PGS.TS. Nguyễn Thái Hòa, người sớm quan tâm đến
vấn đề đọc - hiểu cho rằng đọc hiểu là một kĩ năng tích hợp không chỉ riêng
trong học Tiếng Việt, văn mà còn quan trọng trong cả học tập và nhận thức
nói chung.
“Một cách khái quát, đọc - hiểu dù đơn giản hay phức tạp đều là hành vi
ngôn ngữ, sử dụng một loại thủ pháp và thao tác cơ bản bằng thị giác, thính
giác để tiếp nhận, phân tích, giải mã và ghi nhớ nội dung thông tin, cấu trúc
văn bản.” [5, tr.18]
Đọc - hiểu còn được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, trong đó:
Theo nghĩa rộng: Đọc hiểu chỉ chung phương thức và đích của việc lĩnh
hội tri thức, nắm bắt thông tin.
Theo nghĩa hẹp: Đọc hiểu là hoạt động thưởng thức nghệ thuật ngôn từ,
hưởng thụ thẩm mĩ của con người.
Như vậy đọc văn là quá trình tìm hiểu ý nghĩa tiềm ẩn bên trong văn bản,
càng hiểu được nhiều ý nghĩa văn bản thì vốn hiểu biết càng giàu và phong

10

11


1.3. Đặc điểm văn bản trữ tình
1.3.1. Khái niệm văn bản trữ tình
Khái niệm trữ tình có thể được hiểu theo hai nghĩa:
Hiểu theo nghĩa thứ nhất, khái niệm trữ tình dùng để chỉ phương thức
miêu tả của văn học, đó là phương thức thiên về diễn tả và bộc lộ cảm xúc.
Ngay trong nghĩa Hán Việt, “trữ tình” cũng có ý nghĩa như vậy: “trữ” là thổ
lộ, bộc lộ; “tình” là cảm xúc, tình cảm. Đây là phương thức được dùng chủ
yếu trong các văn bản trữ tình như thơ trữ tình, kí trữ tình...
Hiểu theo nghĩa thứ hai, khái niệm trữ tình dùng để chỉ một loại tác
phẩm văn học mà chủ yếu dùng phương thức trữ tình để miêu tả. Các loại tác
phẩm này được gọi là tác phẩm trữ tình.
Các tác phẩm trữ tình rất đa dạng, bao gồm cả tùy bút, thơ, ca trù...
nhưng tiêu biểu nhất là thơ trữ tình. Đối với các tác phẩm trữ tình, đặc điểm
cơ bản đó là bộc lộ cảm xúc, thổ lộ ý nghĩ, đặc biệt là tình cảm, tình cảm được
coi như mạch phát triển then chốt của các tác phẩm. Như vậy, biểu hiện tập
trung nhất của tác phẩm trữ tình chính là thơ trữ tình. Hiểu một cách đơn giản
thì văn bản trữ tình là những văn bản thơ trữ tình có nội dung phản ánh hiện
thực bằng việc thể hiện những cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ của người nghệ sĩ
đối với cuộc sống.
1.3.2. Đặc trưng văn bản trữ tình
1.3.2.1. Văn bản trữ tình lấy bộc lộ cảm xúc làm mục đích, nội dung
biểu đạt
Một trong những đặc trưng nổi bật nhất của các tác phẩm trữ tình đó là
tác phẩm trữ tình bộc lộ cảm xúc một cách trực tiếp. Khác với các tác phẩm tự
sự, các tác giả thường chú ý đến miêu tả các sự kiện. Các tác phẩm kịch thì
chú ý hướng đến hành động kịch, còn các tác phẩm trữ tình các tác giả lại chú
ý đến việc bộc lộ cảm xúc, tình cảm. Đó có thể là những cung bậc cảm xúc

thuật, về một chừng mực nào đó cũng có suy nghĩ, hành động như các nhân

13


vật khác. Như nhân vật trữ tình trong bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện
Thanh Quan cũng “bước tới”, cũng “nhớ nước”, “thương nhà”, “dừng chân”.
Khi tiếp xúc với văn bản trữ tình, việc đầu tiên là phải xác định được đối
tượng trữ tình để có thể hình dung tư thế, vị trí, nỗi niềm, tâm trạng của nhân
vật ấy một cách phù hợp. Nhân vật trữ tình đôi khi là biểu hiện trực tiếp cái
tôi của tác giả, nhưng cũng có khi là cái tôi nhập vai trữ tình. Nhân vật trữ
tình thường là hiện thân của tác giả. Qua tác phẩm trữ tình, có thể biết được
những thông tin về cuộc đời, quê hương, tuổi thơ, kỉ niệm, tài năng, khát vọng
của tác giả. Người đọc còn thấy được nỗi buồn, niềm vui, lí tưởng mà tác giả
ẩn chứa nơi cảm xúc hay cái nhìn của nhân vật trữ tình. Tuy nhiên không thể
đồng nhất tác giả tiểu sử với nhân vật trữ tình. Tác giả là con người ngoài đời
thực còn nhân vật trữ tình là hình tượng nghệ thuật do tác giả tạo dựng lên.
Ngoài ra cũng có trường hợp nhân vật trữ tình không là hiện thân của tác giả.
Đây là những nhân vật được tác giả nhập vai, tác giả tưởng tượng, hóa thân
vào nhân vật để xây dựng nhân vật trữ tình theo quy luật điển hình hóa trong
sáng tạo nghệ thuật.
1.3.2.3. Ngôn ngữ trong văn bản trữ tình
Ngôn ngữ trong văn bản trữ tình là ngôn ngữ giàu tình biểu cảm, cảm
xúc. Lời văn trong văn bản trữ tình mang tính nhạc điệu, giàu hình ảnh, nhất
là đối với thơ trữ tình. Các tác phẩm trữ tình thường được viết bằng thơ vì đây
là hình thức để tạo nhịp điệu. Sự lựa chọn từ ngữ, phương thức tu từ trong tác
phẩm trữ tình (chủ yếu trong thơ) luôn luôn nhằm làm cho nội dung cảm xúc,
thái độ đánh giá, sự đồng cảm hay sự phê phán của chủ thể làm cho nổi bật.
Ngoài ra, đối với các tác phẩm trữ tình văn xuôi, lời văn trong các tác
phẩm này đều sử dụng thứ văn xuôi giàu chất thơ. Lời văn trong các tác phẩm

Chùm Ca dao hài hước thuộc thể loại trữ tình dân gian trong chương
trình Ngữ văn 10 THPT. Đây là những câu hát hài hước của người nông dân
lao động trong cuộc sống hằng ngày. Trong chương trình Ngữ văn THPT, HS
chỉ được tiếp xúc với sáu bài ca dao được trích trong sách giáo khoa. Mặt

15


khác, các em chưa thấy hết được giá trị nhân sinh mà chùm Ca dao hài hước
đem lại để vun đắp những phẩm chất đạo đức cũng như ứng dụng giải quyết
các tình huống trong cuộc sống hàng ngày, những điều làm nên giá trị trường
tồn của tác phẩm. Ca dao nói chung và ca dao hài hước nói riêng đều đem lại
những bài học triết lí, nhân sinh sâu sắc. GV có thể thông qua các hoạt động
trải nghiệm làm bật lên những giá trị đạo đức một cách tự nhiên.
Về nội dung, chùm ca dao hài hước có nội dung gần gũi với đời sống
hàng ngày của con người, dễ dàng tổ chức các hoạt động trải nghiệm giúp học
sinh được tự khám phá và sáng tạo. Hơn nữa tính hài hước của văn bản sẽ
kích thích, gây hứng thú cao cho học sinh trong việc học và trải nghiệm.
Hệ thống nhân vật trong ca dao không quá nhiều, thích hợp tổ chức cho
học sinh các hoạt động trải nghiệm theo hướng phân vai nhân vật. Các nhân
vật trong ca dao đều quen thuộc với HS, đó có thể là những người nông dân,
những chàng trai, cô gái đang yêu... HS dễ dàng hóa thân thành các nhân vật
trong các hoạt động trải nghiệm giúp giờ học thêm phần thiết thực và gần gũi.
Mặt khác, Ca dao thuộc thể loại thơ trữ tình dân gian nên dễ tổ chức thiết
kế các hoạt động trải nghiệm như: Diễn xướng, đối đáp, phổ nhạc rap...Tùy
thuộc vào khả năng sáng tạo nghệ thuật của HS.
Như vậy, việc chọn văn bản Chùm ca dao hài hước để tổ chức hoạt động
trải nghiệm là việc làm hợp lí, có tiềm năng cao với mục đích giúp học sinh
tiếp nhận văn bản trữ tình và nhận thức được những giá trị thực tiễn, giá trị
nhân đạo sâu sắc chứa đựng trong đó. Với khóa luận này, chúng tôi muốn góp

phần hình thành những giá trị đạo đức tốt đẹp cho người học.
Như vậy, dạy học chùm ca dao hài hước bên cạnh việc đảm bảo mục tiêu
giáo dục là cung cấp cho học sinh những kiến thức về thể loại trữ tình dân
gian thì dạy học tác phẩm này còn giúp học sinh thêm yêu những giá trị đạo
đức tốt đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc. Dạy ca dao nói chung và dạy
chùm Ca dao hài hước nói riêng không chỉ đơn thuần là dạy văn bản ngôn từ

17


để học sinh hiểu nội dung, nghệ thuật của các bài ca dao hài hước trong sách
giáo khoa mà phải viết gắn liền việc dạy học với việc giáo dục phẩm chất,
nhân cách, lòng yêu thương con người, yêu lao động. Có như vậy mới phát
huy hiệu quả vai trò của việc học Ngữ văn đối với HS THPT.
Dạy văn bản chùm ca dao hài hước, GV để cho HS tự trải nghiệm và
thấy rằng ca dao hài hước là một phần của cuộc sống. Cuộc sống không phải
lúc nào cũng đẹp, cũng trải đầy hoa hồng, nhưng khi con người biết nhìn cuộc
sống ở một lăng kính khác, hài hước, lạc quan thì cuộc sống sẽ đẹp và dễ
dàng hơn. Hài hước như là một nhu cầu của đời sống con người. Con người
dùng ca dao hài hước để giãi bày, để tự trào chính bản thân mình hay để châm
biếm, phê phán những cái xấu trong xã hội. Nó có thể được biểu hiện một
cách nhẹ nhàng, dí dỏm mà lại vô cùng sâu sắc.
Bài ca dao số 1
Cuộc sống luôn chứa đựng những khó khăn, chông gai mà mỗi con
người muốn thành công đều phải vượt qua nó. Tuy nhiên, xã hội ngày càng
phát triển, cạm bẫy, khó khăn thì nhiều mà con người lại thụ động, quen với
lối sống hưởng thụ, gặp khó khăn đã vội chùn bước, không dám đối mặt với
thực tại. Đặc biệt là lứa tuổi HS, những con người trẻ. Khi gặp khó khăn, bế
tắc nhiều em chọn cho mình những cách xử lí tiêu cực. Các em chọn cách
than vãn trên mạng xã hội khi cuộc sống không như mong muốn. Áp lực của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status