Sáng kiến: “Rèn luyện kỹ năng khai thác kiến thức từ bảng số liệu, kênh hình cho học
sinh khi dạy Địa Lý 9 ở Vùng Bắc Trung Bộ và Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ”.
Tên đề tài:
“ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG KHAI THÁC KIẾN THỨC TỪ BẢNG SỐ
LIỆU, KÊNH HÌNH CHO HỌC SINH KHI DẠY ĐỊA LÝ 9 Ở VÙNG BẮC
TRUNG BỘ VÀ VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ”.
1. Đặt vấn đề:
1.1. Lý do chọn đề tài.
1.1.1. Cơ sở lý luận:
Hiện nay dạy học được coi là quá trình phát triển của bản thân học sinh,
việc học tập không chỉ là quá trình lĩnh hội các kiến thức có sẵn, mà còn là quá
trình học sinh tự khám phá, tự phát hiện, tự tìm đến với kiến thức mới nhờ sự
hướng dẫn, giúp đỡ, tổ chức các hoạt động học tập của giáo viên. Vì vậy, dạy
học không đơn thuần chỉ là việc truyền đạt kiến thức của giáo viên cho học sinh,
mà phải tạo ra những cơ hội để phát triển ở học sinh khả năng tự tìm kiếm, xử lý
và thu thập thông tin, nói cách khác là phải rèn luyện cho học sinh khả năng tự
học để học sinh có thể tự bổ sung kiến thức của mình và có khả năng học tập
suốt đời .
Chúng ta biết rằng xu thế của thế giới hiện nay là xu thế “toàn cầu hóa”, sự
xuất hiện của “nền kinh tế tri thức”, việc sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định
nhất đối với nền kinh tế, tạo ra của cải vật chất, nâng cao chất lượng cuộc sống,
sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ có tác động mạnh mẽ đến mọi
mặt cuộc sống xã hội. Từ đó cho chúng ta thấy rằng chất lượng dạy học ở nước
ta cần phải có nhiều đổi mới, đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng tích cực để theo kịp với xu thế thời đại hiện nay.
Rèn luyện kỹ năng địa lí là một phần không thể thiếu trong dạy học địa lí ở
tất cả các cấp học. Thông qua việc rèn luyện kỹ năng khai thác kiến thức từ kênh
hình, bảng số liệu giúp học sinh tự khám phá, lĩnh hội kiến thức, học sinh học
tập một cách tự giác, tích cực hơn.
hội), khô khan, ít thực dụng, chương trình nặng, mang tính hàn lâm, thiếu thực
tiễn.
Môn địa lí chưa đáp ứng nhu cầu thực tế về việc lựa chọn ngành nghề trong
tương lai hoặc lựa chọn được rất ít ngành nghề.
Bên cạnh đó , tình trạng học sinh không thuộc bài, không làm bài trước khi
đến lớp còn phổ biến ở môn địa lý. Trong giờ học, các em luôn có biểu hiện tiêu
cực như: ít phát biểu; khả năng phân tích xử lí thông tin, chỉ bản đồ( lược đồ)
còn lúng túng, tâm thế học tập của các em thiếu tự giác nên giờ học môn Địa lí ít
đạt hiệu quả cao.
Nguyên nhân chủ quan.
Giáo viên chưa chú trọng đến việc dạy cho học sinh kỹ năng khai thác kiến
thức từ kênh hình, bảng số liệu tranh ảnh trong bộ môn Địa lí.
Nội dung bài dạy còn đơn điệu, ít tranh ảnh để phục vụ bài giảng…
Kỹ năng truyền thụ kiến thức cho học sinh giữa các giáo viên chưa thật
đồng đều…
Hiện nay dạy học được coi là quá trình phát triển của bản thân học sinh ,
việc học tập không chỉ là quá trình lĩnh hội kiến thức có sẵn, mà còn là quá trình
học sinh tự khám phá, tự phát hiện, tự tìm đến với kiến thức mới nhờ sự hướng
dẫn giúp đỡ , tổ chức hoạt động của giáo viên. Vì dạy học ngày nay không đơn
thuần chỉ là truyền đạt kiến thức của giáo viên cho học sinh , mà còn tạo ra
những cơ hội để phát triển ở học sinh tự tìm kiếm , xử lí và thu thập thông tin,
nói cách khác là phải rèn luyện cho học sinh khả năng tự học để học sinh có thể
tự bổ sung kiến thức của mình và có khả năng học tập suốt đời.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Ở Lứa tuổi học sinh THCS ( Đặc biệt là học sinh lớp 9) luôn thích thú
những điều mới lạ. Vì vậy để mỗi giờ học Địa lí hấp dẫn, thu hút học sinh đòi
TrườngTHCS Mỹ Hiệp - Giáo viên: Tưởng Thị Thúy Xuân
Trang 2
về giá trị sản xuất công nghiệp và của cả nước thời kì 1995-2002 (nghìn tỉ
đồng).
Để đạt được mức độ chuẩn kiến thức, kỹ năng, học sinh cần sử dụng vững 3
mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, đặc biệt việc khai thác kiến thức từ
kênh hình cần chú ý đến 3 mức độ nhận thức: nhận biết, thông hiểu và vận dụng
(vận dụng cấp độ thấp, vận dụng cấp độ cao), theo chuẩn kiến thức, kỹ năng.
Ngoài cách khai thác kênh hình, bảng số liệu ở 3 mức độ trên, với kinh nghiệm
giảng dạy nhiều năm tôi nhận thấy rằng với một bài giảng truyền thống giáo
viên không thể nào khai thác kiến thức từ kênh hình một cách sinh động trực
quan được mà giáo viên cần ứng dụng công nghệ thông tin trong bài giảng
powerpoint để khai thác những hình ảnh sưu tầm thêm sinh động hơn, tạo hứng
thú, kích thích học sinh ham muốn tìm hiểu, đào sâu kiến thức hơn. Vậy làm như
thế nào để hướng dẫn học sinh khai thác có hiệu quả bảng số liệu, các loại kênh
hình khi dạy các bài ở vùng kinh tế Bắc Trung Bộ? Với kinh nghiệm giảng dạy
nhiều năm qua các lớp 9 tôi xin mạnh dạn đưa ra sáng kiến kinh nghiệm: “Rèn
luyện kỹ năng khai thác kiến thức từ bảng số liệu, kênh hình khi dạy Địa lý 9
ở vùng Bắc Trung Bộ và vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ”.
TrườngTHCS Mỹ Hiệp - Giáo viên: Tưởng Thị Thúy Xuân
Trang 3
Sáng kiến: “Rèn luyện kỹ năng khai thác kiến thức từ bảng số liệu, kênh hình cho học
sinh khi dạy Địa Lý 9 ở Vùng Bắc Trung Bộ và Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ”.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu sách giáo khoa , sách giáo viên.
- Nghiên cứu kiến thức khai thác kênh hình, bảng số liệu vùng Bắc Trung Bộ
và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan.
b. Cơ sở thực tiển.
Rèn luyện kĩ năng khai thác kiến thức từ kênh hình, bảng số liệu khi dạy
môn Địa lí 9 ở bài dạy vùng Bắc Trung Bộ và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
nên mức độ vận dụng kênh hình, bảng số liệu để khai thác kiến thức phải cao
TrườngTHCS Mỹ Hiệp - Giáo viên: Tưởng Thị Thúy Xuân
Trang 4
Sáng kiến: “Rèn luyện kỹ năng khai thác kiến thức từ bảng số liệu, kênh hình cho học
sinh khi dạy Địa Lý 9 ở Vùng Bắc Trung Bộ và Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ”.
hơn ở các lớp dưới và cũng là cơ sở để các em vận dụng kiến thức ở các lớp học
trên. Do đó trong quá trình giảng dạy tôi đã tăng cường tận dụng khai thác các
loại kênh hình một cách phong phú sinh động và kết hợp công nghệ thông tin
trong bài giảng powerpoint có hiệu quả. Cũng từ đó phát huy các phương
pháp /kĩ thuật dạy học theo hướng tích cực. Tuy nhiên trong thực tiễn giảng dạy
tôi nhận thấy việc dạy Địa lí chưa được hiệu quả cao. Để giải quyết được những
vấn đề này tôi cố gắng tìm ra những nguyên nhân sau:
* Đối với giáo viên:
- Chưa có kinh nghiệm sáng tạo, còn rập khuôn theo kiểu máy móc và không
tích cực vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, không chuẩn bị đồ dùng
dạy học hoặc chuẩn bị qua loa.
- Giáo viên còn ngại ứng dụng công nghệ thông tin bằng bài giảng
powerpoint.
* Đối với học sinh:
Ít chịu suy nghĩ tìm tòi để tự chiếm lĩnh kiến thức. Tuy nhiên một số học
sinh còn rụt rè , chưa mạnh dạn, phân tích số liệu ,chỉ bản đồ, lược đồ còn lúng
túng.
Từ việc phân tích những nguyên nhân trên người giáo viên cần thấy rõ
1.6.1. Phạm vi nghiên cứu:
Học sinh khối 9 trường THCS Mỹ Hiệp trong nhiều năm bản thân tôi thực
dạy.
1.6.2. Thời gian tiến hành:
- Từ tháng 08 năm 2017, tôi đăng ký đề tài.
- Tháng 09 năm 2017, tiến hành viết thô.
- Tháng 11 nộp đề tài nhờ tổ chuyên môn góp ý.
- Cuối tháng 11 năm 2017 tôi đã hoàn thiện sáng kiến: “ Rèn luyện kỹ năng
khai thác kiến thức từ bảng số liệu, kênh hình cho học sinh khi dạy Địa Lý 9 ở
Vùng Bắc Trung Bộ và Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ”
2. Nội dung:
2.1. Cơ sở lý luận:
Trong cuộc sống của chúng ta, mấy ai đạt được thành công mà không trải
qua khó khăn gian khổ. Sự cần cù chịu khó luôn là yếu tố chính dẫn đến thành
công. Nhà văn Lỗ Tấn nói : “ Trên đường thành công không có dấu chân của
người lười biếng ”
Theo tôi môn địa lí cũng rất quan trọng, thông qua môn học này giáo dục
cho các em tình yêu quê hương, đất nước, con người Việt Nam . Từ đó hình
thành cho các em tinh thần đoàn kết, ý thức việc bảo vệ môi trường và bảo vệ
chủ quyền biển đảo. Chính vì thế giáo viên cần có cách dạy sinh động để đưa
các em vào niềm say mê , thích thú. Môn Địa lí 9 được chia làm 4 phần : Địa lí
dân cư, địa lí kinh tế, địa lí các vùng kinh tế , địa lí địa phương. Trong các bài
của các phần đều có kênh hình và bảng số liệu, tranh ảnh (Trừ phần địa lí địa
phương). Việc khai thác kiến thức từ kênh hình, bảng số liệu, tranh ảnh đòi hỏi
phải chính xác cao. Nếu ta chỉ truyền thụ kiến thức theo cách áp đặt để học sinh
lĩnh hội kiến thức sẽ gây cảm giác mệt mỏi nhàm chán trong giờ học. Cho nên
chúng ta cần đổi mới cách dạy trong giờ Địa lí như thế nào và sao cho thật hiệu
quả. Một trong những cách đổi mới hiệu quả nhất là việc khai thác kiến thức từ
kênh hình, bảng số liệu, trong những tiết học ở môn Địa lí 9 sao cho phù hợp
tích cực chủ động và sáng tạo của học sinh, tăng cường hoạt động cá thể phối
hợp với học tập giao lưu. Hình thành và rèn luyện kĩ năng bản đồ, phân tích, xử
lí thông tin và rút ra nhận xét một cách cụ thể . Từ đó hình thành cho các em ý
thức tự giác yêu thích bộ môn Địa lí. Thông qua đó các em sẽ thể hiện tinh thần
đoàn kết, tình yêu quê hương , đất nước. Ý thức việc bảo vệ môi trường, bảo vệ
chủ quyền biển đảo nước ta.
Từ mục tiêu trên, cần tập trung đi vào giải quyết nhiệm vụ sau:
- Những kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng khai thác kiến thức từ kênh hình,
bảng số liệu cho học sinh khi dạy địa lý ở vùng Bắc Trung Bộ và vùng Duyên
hải Nam Trung Bộ.
- Kết quả đánh giá qua việc áp dụng các mức độ rèn luyện kỹ năng khai
thác kênh hình, ứng dụng công nghệ thông tin trong việc khai thác kênh hình .
2.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu:
Thuyết minh tính mới :
Trên thực tế khi dạy môn Địa lí 9 đặc biệt là các vùng kinh tế, tôi nhận thấy
giáo viên ít khai thác triệt để kiến thức từ kênh hình, bảng số liệu, tranh ảnh để
tìm ra kiến thức mới cho học sinh và ngại việc ứng dụng công nghệ thông tin
vào bài giảng. Mà chỉ rập khuôn theo mẫu sẵn có ( kênh chữ trong sách giáo
khoa) học sinh chờ giáo viên ghi bảng rồi ghi theo. Nên học sinh thụ động, ít suy
nghĩ, ít phát biểu, ít phát huy vai trò của cá nhân, nhóm. Đặc biệt là học sinh yếu
kém. Nên làm cho giờ học không sôi nổi, học sinh nhàm chán. Từ thực tế trên
Tôi tự nghĩ muốn làm cho giờ học sôi nổi nhẹ nhàng, học sinh ham học, ít nhàm
chán và yêu thích bộ môn và tiếp thu kiên thưc một cách vững chắc thì người
giáo viên cần nắm vững mục tiêu bài dạy và chuẩn bị đồ dùng một cách thiết
thực phù hợp với bài dạy.
Đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin bằng bài giảng powerpoint. Vì
kênh hình rất nhiều, dễ nhìn, dễ quan sat và đủ màu sắc dễ lôi cuốn học sinh
TrườngTHCS Mỹ Hiệp - Giáo viên: Tưởng Thị Thúy Xuân
Trang 7
TrườngTHCS Mỹ Hiệp - Giáo viên: Tưởng Thị Thúy Xuân
Trang 8
Sáng kiến: “Rèn luyện kỹ năng khai thác kiến thức từ bảng số liệu, kênh hình cho học
sinh khi dạy Địa Lý 9 ở Vùng Bắc Trung Bộ và Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ”.
Lược đồ các vùng kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm, năm 2002
Giáo viên đặt câu hỏi: Dựa vào lược đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ( Sách
giáo khoa) kết hợp lược đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ (treo tường) hãy xác
định:
Lược đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ
- Xác định giới hạn lãnh thổ và nêu ý nghĩa vị trí của vùng.
Giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ 2 lược đồ trên đây đã
nhận biết được:
-> Vùng Bắc Trung Bộ trên lược đồ 7 vùng kinh tế trên lược đồ các vùng kinh
tế nước ta.
-> Nhận biết được trên lược đồ giới hạn lãnh thổ, hình dạng lãnh thổ, vị trí tiếp
giáp của Vùng Bắc Trung Bộ .
-> Nhận biết được trên lược đồ các tỉnh, thành phố của Vùng Bắc Trung Bộ .
Sau khi học sinh xác định trên lược đồ, giáo viên chuẩn xác kiến thức trên
lược đồ ở mức độ nhận biết như sau:
TrườngTHCS Mỹ Hiệp - Giáo viên: Tưởng Thị Thúy Xuân
Trang 9
sinh khi dạy Địa Lý 9 ở Vùng Bắc Trung Bộ và Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ”.
Đường Đèo Hải Vân
Hầm đèo Hải Vân
TrườngTHCS Mỹ Hiệp - Giáo viên: Tưởng Thị Thúy Xuân
Trang 11
Sáng kiến: “Rèn luyện kỹ năng khai thác kiến thức từ bảng số liệu, kênh hình cho học
sinh khi dạy Địa Lý 9 ở Vùng Bắc Trung Bộ và Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ”.
Khu thương mại Lao Bảo
Đường Hồ Chí Minh
TrườngTHCS Mỹ Hiệp - Giáo viên: Tưởng Thị Thúy Xuân
Trang 12
Sáng kiến: “Rèn luyện kỹ năng khai thác kiến thức từ bảng số liệu, kênh hình cho học
sinh khi dạy Địa Lý 9 ở Vùng Bắc Trung Bộ và Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ”.
Hỏi : Các em hãy cho biết về những triển vọng phát triển ở hành lang
kinh tế Đông - Tây đã đem lại những lợi thế lớn gì cho Bắc Trung
Bộ.
Học sinh trả lời, giáo viên chốt kiến thức về ý nghĩa của vị trí địa lí vùng Bắc
Trung Bộ.
Lược đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ
Giáo viên đặt câu hỏi: Dựa vào lược đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ hãy cho
biết những điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế- xã
hội của vùng ?
Giáo viên đặt câu hỏi: Địa hình, đất đai: Từ Tây sang Đông các tỉnh trong
vùng có các dạng địa hình nào, các loại đất gì ?
Học sinh trả lời, giáo viên chốt kiến thức về địa hình và đất đai của vùng:
-> Từ tây sang đông các tỉnh trong vùng đều có núi, gò đồi, đồng bằng, biển và
hải đảo . Phía đông có các loai đất như đất phù sa, đất cát biển, ở phía tây có đất
feralit.
Mức độ vận dụng cấp độ cao:
* Khí hậu:
Giáo viên sử dụng lược đồ các loại gió mùa ảnh hưởng đến vùng Bắc Trung Bộ
Lược đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ
TrườngTHCS Mỹ Hiệp - Giáo viên: Tưởng Thị Thúy Xuân
Trang 14
Sáng kiến: “Rèn luyện kỹ năng khai thác kiến thức từ bảng số liệu, kênh hình cho học
sinh khi dạy Địa Lý 9 ở Vùng Bắc Trung Bộ và Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ”.
Lược đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ
Mô hình hoạt động của gió phơn tây nam ở Bắc Trung Bộ
Học sinh vận dụng những kiến thức đã học ở các lớp dưới kết hợp vốn
hiểu biết của bản thân giải thích : Dãy núi Trường Sơn Bắc có ảnh hưởng như
TrườngTHCS Mỹ Hiệp - Giáo viên: Tưởng Thị Thúy Xuân
Trang 16
Sáng kiến: “Rèn luyện kỹ năng khai thác kiến thức từ bảng số liệu, kênh hình cho học
sinh khi dạy Địa Lý 9 ở Vùng Bắc Trung Bộ và Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ”.
Lược đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ
Giáo viên sử dụng biểu đồ tỉ lệ đất lâm nghiệp có rừng phân theo phía bắc và
phía nam Hoành Sơn(%)
TrườngTHCS Mỹ Hiệp - Giáo viên: Tưởng Thị Thúy Xuân
Trang 17
Sáng kiến: “Rèn luyện kỹ năng khai thác kiến thức từ bảng số liệu, kênh hình cho học
sinh khi dạy Địa Lý 9 ở Vùng Bắc Trung Bộ và Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ”.
Biểu đồ đất lâm nghiệp có rừng phân theo phía bắc và nam
Hoành sơn
Hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức và hoàn thành vào phiếu học tập.
Cho học sinh quan sát các hình ảnh sau:
Vườn quốc gia Phong Nha-Kẽ Bàng( Quảng Bình).
TrườngTHCS Mỹ Hiệp - Giáo viên: Tưởng Thị Thúy Xuân
Trang 18
sắt (Thạch Khê- Hà Cầm.
Chiếm tỉ lệ lớn, Tĩnh),thiếc(Qùy
Vườn quốc gia:
Phía bắc Hoành chiếm 61% / Châu-Nghệ An),
toàn vùng .
Bến En, Pù Mát,
Sơn
Crôm (Cổ Định- Vũ Quang.
Thanh Hóa)...
Chiếm tỉ lệ nhỏ
Ít khoáng sản
Phía nam Hoành 39% / toàn vùng.
Sơn
TrườngTHCS Mỹ Hiệp - Giáo viên: Tưởng Thị Thúy Xuân
Bãi tắm: Nhật Lệ,
Lăng Cô.
Vườn guốc gia:
Phong Nha -Kẽ
Bàng, Bạch Mã,
cố đô Huế...
Trang 20
Sáng kiến: “Rèn luyện kỹ năng khai thác kiến thức từ bảng số liệu, kênh hình cho học
sinh khi dạy Địa Lý 9 ở Vùng Bắc Trung Bộ và Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ”.
Bão lớn gây thiệt hại về người và của
Hạn hán ảnh hưởng sản xuất và đời sống của người dân
TrườngTHCS Mỹ Hiệp - Giáo viên: Tưởng Thị Thúy Xuân
Trang 24
Sáng kiến: “Rèn luyện kỹ năng khai thác kiến thức từ bảng số liệu, kênh hình cho học
sinh khi dạy Địa Lý 9 ở Vùng Bắc Trung Bộ và Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ”.
Cát lấn vào nhà dân , vào ruộng đồng
Từ những hình ảnh trên các em hãy nêu những khó khăn ảnh hưởng đến
phát triển kinh tế- xã hội ở Bắc Trung Bộ?
-> Học sinh trình bày được: Vùng có nhiều thiên tai như bão, lũ lụt, hạn
hán…
Đây là những khó khăn ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội ở Bắc
Trung Bộ .
Qua đó giáo dục cho HS “ khúc ruột ” Miền Trung, mảnh đất thân thương
luôn xảy ra những thiên tai, giáo dục cho HS tinh thần “lá lành đùm lá rách”.
Giáo viên giới thiệu một số hình ảnh:
TrườngTHCS Mỹ Hiệp - Giáo viên: Tưởng Thị Thúy Xuân
Trang 25