SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG XƯƠNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ KINH NGHIỆM TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC VỀ
TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BIỂN ĐẢO CHO TRẺ MẪU
GIÁO 5 - 6 TUỔI
Người thực hiện: Trịnh Thị Lan
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Quảng Ngọc
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn
THANH HÓA, NĂM 2018
MỤC LỤC
Nội dung
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Thuận lợi.
2.2.2. Khó khăn.
4
4
5
5
7
10
12
17
18
19
19
20
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài:
Nước Việt Nam của chúng ta có các vùng biển và thềm lục địa với diện tích
khoảng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền; có bờ biển dài, có hàng
nghìn các đảo lớn, nhỏ và đặc biệt có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm
trên biển Đông. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, biển, đảo có vai trò
và vị trí quan trọng, quyết định sự tăng trưởng kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng
an ninh. Bảo vệ biển đảo và chủ quyền biển đảo là nhiệm vụ thiêng liêng của mỗi
người dân Việt Nam [1].
"Nước ta ở về xứ nóng, khí hậu tốt. Rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu" [6].
(Trích Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.543). Xuất phát từ mong muốn giáo
dục lòng quê hương đất nước, niềm tự hào về dân tộc mình“Rừng vàng Biển
bạc” nhằm khẳng định những thuận lợi mà nước ta có được trong công cuộc xây
dựng xã hội chủ nghĩa. Câu nói chỉ sự giàu có, trù phú của nước ta về tài nguyên
thiên nhiên, đặc biệt khi nói đến đây, Bác luôn nhấn mạnh việc bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên quý giá cho thế hệ sau; cần có kế hoạch khai thác, sử dụng
nào để giáo viên tích hợp nội dung giáo dục tài nguyên và môi trường biển, đảo
một cách hiệu quả nhất cho trẻ mầm non 5-6 tuổi?
Nội dung giáo dục này đưa vào chương trình giáo dục cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi
cần phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, khả năng nhận thức của trẻ, đảm bảo
trẻ "học mà chơi, chơi mà học", không quá nặng nề với trẻ để trẻ tiếp thu kiến
thức từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp [4]. Để làm được điều này giáo viên
cần có kiến thức về tài nguyên môi trường biển hải đảo Việt Nam. Từ đó xây dựng
nội dung tích hợp phù hợp với trẻ, giúp trẻ hiểu nội dung một cách nhẹ nhàng,
không quá gượng ép. Trên thực tế khi thực hiện các chuyên đề tích hợp giáo viên
mầm non thường mắc vào các hạn chế như: Nội dung tích hợp gượng ép, quá hời
hợt không chú tâm đến nội dung lồng ghép. Hay nội dung tích hợp đưa vào lượng
kiến thức quá nhiều, quá xa lạ với trẻ vượt quá cả nội dung chính.[8]. Đây lại là
một chuyên đề rất khó cả về kiến thức lẫn kỹ năng, đôi khi giáo viên thường bỏ qua
không thực hiện tích hợp các nội dung giáo dục tài nguyên môi trường biển, đảo
vào hoạt động hàng ngày của trẻ. Vấn đề đặt ra làm thế nào để trẻ dễ dàng nhận
biết và tiếp thu hiệu quả những bài học về tài nguyên môi trường biển
đảo? Chúng ta cần phải phối hợp nhiều phương pháp, biện pháp trong việc giáo
dục tài nguyên môi trường biển, hải đảo cho trẻ để trẻ từ chỗ làm quen, nhận
biết đến hình thành ý thức, hành vi, thói quen bảo vệ tài nguyên biển, đảo.
Từ những lý do đó tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình trong năm
học này là: "Một số kinh nghiệm tích hợp nội dung giáo dục về tài nguyên và
môi trường biển đảo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi"
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu lý luận, thực tiễn để tìm ra các biện pháp tích hợp nội dung
giáo dục tài nguyên môi trường biển đảo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường
mầm non đạt hiệu quả.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp tích hợp nội dung giáo dục tài nguyên môi trường biển đảo
cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non đạt hiệu quả.
Phạm vi nghiên cứu: 33 trẻ Lớp Hoa Huệ (5-6 tuổi) năm học 2017-2018.
mầm non đến đại học. Việc làm này không chỉ đơn thuần là trang bị cho các em
những kiến thức cơ bản về biển, hải đảo và tài nguyên môi trường mà thông qua
đó còn giáo dục các em về ý thức bảo vệ môi trường, thái độ sống, và tinh thần
trách nhiệm với cộng đồng [9].
Đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại vấn đề này một cách toàn diện và khoa
học để định hướng thúc đẩy công tác giáo dục môi trường, đặc biệt là giáo dục ý
thức bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, đảo cho trẻ mầm non một cách hệ
thống, cơ bản và thiết thực, nhằm đáp ứng những đòi hỏi bức thiết hiện tại cũng
như sự phát triển bền vững của đất nước. Bởi nếu được trang bị đầy đủ hành
trang, kiến thức, những kỹ năng bảo vệ tài nguyên môi trường, hải đảo thì những
chủ nhân tương lai của đất nước sẽ là một lực lượng hùng hậu trong mọi hoạt
động tuyên truyền bảo vệ tài nguyên, môi trường, biển, đảo. Ngoài ra, thông qua
việc giáo dục ý thức bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, đảo sẽ hình thành cho
con trẻ khái niệm ban đầu về biển, hải đảo Việt Nam, từ đó hình thành những
thói quen, hành vi bảo vệ tài nguyên môi trường biển, hải đảo [2].
Chúng ta biết rằng: "Biển là loại hình thủy vực nước mặn của đại dương
thế giới, nằm sát các đại lục và ngăn cách với đại dương ở ngoài bởi hệ thống
đảo và bán đảo, phía trong bởi bờ địa lục còn gọi là bờ biển.
Đảo là một vùng đất tự nhiên, có nước bao bọc khi thủy triều lên vùng đất
này vẫn ở trên mặt nước.
Quần đảo là một tổng thể các đảo kể cả các bộ phận của đảo, các vùng
nước tiếp liền và thành phần tự nhiên khác.
Nước ta có hai quần đảo lớn nhất Việt Nam đó là đảo Hoàng Sa ở Đà Nẵng,
là một nhóm có khoảng 30 đảo, bãi san hô và các mỏm đá ngầm. Quần đảo
Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa gồm 100 đảo lớn nhỏ và bãi ngầm, các nguồn
lợi tự nhiên như: Cá, dầu mỏ, khí đốt và các khoáng sản khác…
Biển, hải đảo Việt Nam rất giàu tài nguyên, khoáng, giàu mỏ, khí tự nhiên:
Năng lượng gió, năng lượng mặt trời. Biển, hải đảo có rất nhiều nguồn lợi tự
nhiên từ sinh vật biển như: 11 nghìn loại sinh vật biển, 13 nghìn sinh vật trên
5
đề giáo dục tài nguyên môi trường biển đảo như sau:
BẢNG KẾT QUẢ KHẢO SÁT ĐẦU NĂM
KẾT QUẢ
T
NỘI DUNG
ĐẠT
T
(Tổng số trẻ được KS: 33 trẻ)
1
2
Tốt
Tỷ lệ
%
Khá
Biết tên 1 số bãi biển, vùng biển, hải
đảo nổi tiếng của nước ta.
1
3%
4
Biết lợi ích của biển, đảo
1
69,
7%
69,
7%
23
23
3
Biết một số nguyên nhân gây ô
12,
15,
nhiễm, làm ảnh hưởng đến môi
0 0% 4
5
24
1%
2%
trường biển, hải đảo.
4
Biết tham gia bảo vệ tài nguyên và
12,
15,
0 0% 4
5
24
môi trường biển, hải đảo.
1%
7%
chuyên đề để nắm bắt và thực hiện một cách đầy đủ, chính xác và phù hợp với
điều kiện địa phương, trường, lớp, giáo viên và trẻ.
Bản thân giáo viên là người trực tiếp thực hiện mọi hoạt động chăm sóc,
giáo dục trẻ trong trường mầm non. Hơn ai hết giáo viên phải là người nắm
vững những kiến thức, kỹ năng cơ bản về nội dung giáo dục tài nguyên môi
trường biển, hải đảo cho trẻ 5-6 tuổi, để truyền thụ kiến thức đến cho trẻ.
* Nguyên tắc xây dựng nội dung giáo dục về tài nguyên và môi trường
biển, hải đảo cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi:
- Đảm bảo tính mục tiêu: Nội dung giáo dục về tài nguyên và môi trường,
biển hải đảo phải đảm bảo góp phần giáo dục ở trẻ tình yêu, lòng tự hào và ý
thức bảo vệ, giữ gìn biển, đảo quê hương Việt Nam, hướng đến thực hiện mục
tiêu giáo dục MN, phát triển nhân cách toàn diện, hài hòa ở trẻ.
- Đảm bảo tính khoa học: Nội dung giáo dục trẻ mẫu giáo về tài nguyên và
môi trường, biển hải đảo được xây dựng phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, nhu cầu
và kinh nghiệm của trẻ.Nội dung giáo dục trẻ mẫu giáo về tài nguyên và môi
trường biển, hải đảo được xây dựng theo hướng tích hợp nhẹ nhàng, hợp lý
trong các chủ đề, các hoạt động, không gây quá tải trong thực hiện chương trình
GDMN.
- Đảm bảo tính hệ thống: Nội dung giáo dục đảm bảo tính phát triển, mở
rộng dần theo hướng đồng tâm, phát triển: từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức
tạp, gắn với thực tế của địa phương nơi trẻ sống.
Nội dung giáo dục về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo được tích hợp
phù hợp trong tất cả các lĩnh vực giáo dục: Giáo dục phát triển Thể chất; Giáo
dục phát triển Nhận thức; Giáo dục phát triển Ngôn ngữ; Giáo dục phát triển
Thẩm mỹ; Giáo dục phát triển Tình cảm, kỹ năng xã hội [1].
* Nội dung giáo dục về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo cho trẻ
mẫu giáo 5 tuổi:
đổ thẳng ra biển.
+ Do tràn dầu: tàu bè đi lại trên biển làm tràn dầu, hoặc những vụ chìm tàu,
đắm tàu do bão, lốc...
+ Do chặt phá cây: con người chặt phá cây trồng ven biển
+ Do con người khai thác cạn kiệt tài nguyên biển: đánh bắt cá tùy tiện,
khai thác các loài tảo, rong biển quá mức ... làm cạn kiệt tài nguyên biển, một số
loài động thực vật biển có nguy cơ bị tuyệt chủng
- Tham gia bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, hải đảo:
+ Nhận xét và tỏ thái độ hành vi "Đúng", "Sai", "Tốt", "Xấu".
+ Không vứt rác thải xuống biển, đảo trong khi đi du lịch cũng như
trong sinh hoạt hằng ngày. Không bẻ cành, phá cây trồng ven biển. Tham
gia thu gom rác thải.
2.3.2. Xây dựng kế hoạch tích hợp các nội dung giáo dục về tài nguyên
môi trường biển đảo theo các chủ đề.
Trong chương trình giáo dục mầm non, nội dung giáo dục của các lĩnh vực
được thực hiện qua các chủ đề, tôi đã tích hợp nội dung giáo dục về tài nguyên
môi trường biển, hải đảo vào một số chủ đề phù hợp. Căn cứ vào nội dung từng
chủ đề và các hoạt động trong ngày, tôi đã lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp
để lồng ghép tích hợp vào các hoạt động dạy trẻ và đã được chuyên môn nhà
trường duyệt, góp ý để đưa vào thực hiện.
KẾ HOẠCH GIÁO DỤC TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG BIỂN ĐẢO
CHO TRẺ LỚP HOA HUỆ (5-6 TUỔI)
NĂM HỌC 2017 - 2018
Chủ đề
Nội dung tích hợp
Hoạt động
Gia
* Nhận biết về người thân trong - Khám phá xã hội: Trò chuyện về
đình
lý đổ thẳng ra biển.
* Quan tâm đến bảo vệ môi
trường
Nhận xét và tỏ thái độ với hành vi
“đúng”, “sai”, “tốt” “xấu”.
* Một số hiện tượng tự nhiên:
Nước và
Cát, nước biển, sóng biến, bão
hiện
biển.
tượng
* Ý thức, hành vi giữ gìn bãi biển,
tự nhiên
nước biển sạch, trong lành.
Giao
thông
* Một số phương tiện giao thông
trên biển : tàu, thuyền, ca nô.
* Lợi ích về giao thông biển.
Đường giao thông trên biển giúp
mọi người đi lại giữa các vùng,
các nước và vận chuyển hàng
hóa...
* Ý thức của trẻ khi tham gia giao
thông trên biển.
hát "Thân thương trường sa",
Làm bộ sưu tập (cắt, dán) phương
tiện giao thông trên biển.
Trò chơi: chọn hành vi đúng/sai
khi tham gia giao thông trên sông,
10
biển
* Một số độngvật, thực vật sống ở
biển (các loài, tôm, cua, rong
biển...)
* Ích lợi của động vật, thực vật ở
Thế giới
biển:
động
- Cung cấp thức ăn giàu chất dinh
vật,
dưỡng : cá thu, tôm, cua.
thực vật
- Cung cấp nguyên liệu để làm
thuốc chữa bệnh : rong, tảo.
* Ý thức giữ gìn, bảo vệ môi
trường biển, đảo.
Quê
hương,
đất
nước
* Nhận biết về biển, hải đảo VN
biển”.
Làm đồ chơi từ vỏ ốc, sò
biển.Ghép hình con vật ở biển bé
thích bằng lá cây. Tạo thảm cỏ,
vườn hoa trên bờ biển.
Làm đồ chơi từ vỏ ốc, sò
biển.Ghép hình con vật ở biển bé
thích bằng lá cây. Tạo thảm cỏ,
vườn hoa trên bờ biển.
Khám phá khoa học: Nhận biết
biển, đảo Việt Nam
Khám phá khoa học: Du lịch biển
Việt Nam;
Khám phá khoa học: Trò chuyện
về môi trường biển bị ô nhiễm
Khám phá khoa học: Xem phim
tài liệu (tranh, ảnh, mô hình) về
biển, đảo Việt Nam.
Hoạt động Âm nhạc : Nghe, hát,
múa, vận động theo nhạc các bài
hát về biển, đảo quê hương.
Tô màu, làm sách tranh du lịch
biển quê em
11
2.3.3. Tích hợp các nội dung giáo dục tài nguyên môi trường biển đảo
trong hoạt động hàng ngày của trẻ.
Ngoài ra, để giúp trẻ nhận ra những việc làm tốt, những việc làm không tốt,
việc nào nên và không nên làm, kích thích trẻ suy nghĩ, bộc lộ tình cảm, tôi đã
kể những câu chuyện như: Mùa hè thú vị, Những công dân nhỏ tuổi, Chú bộ đội
Trường Sa Cây bàng tròn, San hô chết, …Mục đích là để thông qua những câu
chuyện đó, trẻ hiểu thêm các đặc điểm của các con vật, cây cối trên đảo và công
12
việc của những chú bộ đội canh giữ biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Và khi
kể, tôi giải thích chậm rãi cho trẻ rõ ràng, chính xác; kiên nhẫn lắng nghe trẻ nói,
không tỏ ra khó chịu khi trẻ nói không đúng hoặc hỏi nhiều. Không nhắc lại
những câu, từ trẻ nói sai và gợi ý để trẻ nói lên suy nghĩ của mình trước những
điều trẻ đã nghe hoặc là nhìn thấy.
Đồ dùng "Mô hình" giúp trẻ tìm hiểu, khám phá về biển đảo Việt Nam
Ví dụ:
Thời điểm
HOẠT ĐỘNG TÍCH HỢP
- Trò chuyện với trẻ và cho trẻ xem phim tài liệu (tranh, ảnh, mô
hình) về biển, đảo Việt Nam.
Thời gian đón,
- Cho trẻ xem tranh, ảnh về biển, đảo, hải đảo của Việt Nam.
trả trẻ
- Tổ chức cho trẻ đọc lại các bài thơ về chú Hải quân, về biển.
- HĐ âm nhạc : Nghe, hát, múa, vận động theo nhạc các bài hát về
biển, đảo quê hương.
- Khám phá khoa học :
+ Nghề làm muối; Nghề nuôi tôm, cua, cá; Chế biến hải sản thành
nước mắm và tôm, cá đông lạnh.
+ Du lịch biển Việt Nam.
- Phát triển ngôn ngữ
chiều
- Làm sách tranh (cắt, dán trảnh ảnh) về biển, đảo VN
- Hát, múa, vận động theo nhạc các bài hát về biển, đảo quê hương.
2.3.4. Sưu tầm, sáng tác các bài thơ, bài vè, bài hát, câu chuyện, trò chơi
có nội dung giáo dục về tài nguyên môi trường biển đảo cho trẻ.
Khi trẻ được học tập những kiến thức, kỹ năng thông qua các bài hát, bài
thơ, câu chuyện, trò chơi, hình ảnh thì trẻ rất thích và hứng thú. Thông qua đó
trẻ sẽ dễ dàng tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng và nhớ rất lâu.
Tôi đã sưu tầm, sáng tác được rất nhiều các bài thơ, bài hát có nội dung
giáo dục về tài nguyên môi trường biển đảo cho trẻ. Ví dụ: Thơ "Trường Sa
thân yêu"; "Quê em vùng biển"; "Chú hải quân"… (Sưu tầm).
Bài thơ: Cô dạy
Mẹ! mẹ ơi cô dạy
Mỗi khi đi tắm biển
Áo phao phải liền bên
Không ồn ào, luyên thuyên
Xả rác ra bừa bãi
Vỏ bim bim bánh kẹo
Vỏ bánh gói, ni lông
Các bé nhớ nghe không
Phải bỏ vào thùng rác
Để bảo vệ môi trường
Giữ nước biển xanh hơn
Thêm trong lành không khí
Cho mực, tôm, cá, ghẹ…
Phát triển và sinh sôi
Cung cấp cho con người
(Tự sáng tác)
Vè biển
Ve vẻ vè ve
Nghe vè tôi kể
Biển quê tôi nhé
Cảnh đẹp nước xanh
Sầm Sơn quê mình
Bạn ơi hãy đến
Đi vào tỉnh tiếp
Đố bạn biển gì?
Bạn hãy đoán đi
Cửa Lò bạn nhỉ
Bây giờ ta kể
Đến các Vịnh nào
Hạ Long thương yêu
Nha Trang biển đẹp
Nước xanh cát trắng
Sóng vỗ rì rào
Đêm ngày biết bao
Người dân đi biển
Tôm, cua, cá, mực
Hải sản tươi ngon
Ăn bổ, khỏe hơn
Lớn nhanh, học giỏi
Thông minhvượt trội
Nhờ biển quê mình
Các bạn mau nhanh
Cùng tôi kể biển. (Tự sáng tác)
vào vị trí tỉnh có đảo / quần đảo. Mỗi trẻ chỉ được dán một mảnh giấy. Dán
xong, trẻ về vị trí để các bạn khác trong đội tiếp tục lên chơi.
17
+ Hết bản nhạc cả hai đội chơi dừng lại.
Bước 3 : Cô và trẻ cùng kiểm tra kết quả
+ Cô chỉ vào tỉnh/thành phố, trẻ nói được tên biển hoặc tên đảo/quần đảo của
tỉnh đó. Ví dụ : Cô chỉ vào thành phố Đà Nẵng, trẻ đọc Đà Nẵng có bãi biển Đà
Nẵng, quần đảo Hoàng Sa.
+ Đội nào dán đúng và nhiều sẽ thắng.
2.3.5. Phối kết hợp với phụ huynh:
Việc giáo dục tài nguyên biển, đảo cho trẻ là một nhiệm vụ rất quan trọng
không chỉ được giáo dục cho trẻ ở trường mầm non mà phải giáo dục cho trẻ ở
mọi nơi, mọi lúc, ở trường cũng như ở nhà.
Trên thực tế nhìn chung phụ huynh biết rất ít về kiến thức giáo dục tài
nguyên môi trường biển, hải đảo cho trẻ. Có một số phụ huynh còn cho rằng trẻ
còn nhỏ chưa cần phải giáo dục trẻ, nội dung giáo dục tài nguyên môi trường
biển, hải đảo còn xa vời với trẻ và không phù hợp. Vì vậy để phụ huynh hiểu
được tầm quan trọng của việc giáo dục tài nguyên môi trường biển, hải đảo cho
trẻ và phối hợp có hiệu quả giáo viên cần phải thực hiện tốt công tác tuyên
truyền dưới nhiều hình thức.
Ngay từ đầu năm học tôi đã xây dựng nội dung và các hình thức tuyên
truyền về nội dung giáo dục tài nguyên môi trường biển, hải đảo cho trẻ trong
năm học như:
- Thông qua các nhiệm vụ trọng tâm trong năm học, đi sâu phân tích tuyên
truyền hoạt động tích hợp giáo dục trẻ nội dung tài nguyên môi trường biển, hải
đảo vào chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo 5 tuổi.
- Vận động phụ huynh đóng góp tự nguyện ngoài các khoản quy định, để
mua sắm trang thiết bị hiện đại để tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông
* Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục.
Qua một thời gian áp dụng các biện pháp tích hợp các nội dung giáo dục
tài nguyên môi trường biển đảo trẻ lớp tôi đã có được những kiến thức, kỹ năng,
ý thức, hành vi, thói quen tốt về tài nguyên biển đảo Việt Nam. Cụ thể:
BẢNG KẾT QUẢ KHẢO SÁT CUỐI NĂM
KẾT QUẢ
T
NỘI DUNG
ĐẠT
T
(Tổng số trẻ được KS: 33 trẻ)
Tốt
1
2
Biết tên 1 số bãi biển, vùng biển, hải
đảo nổi tiếng của nước ta.
10
Biết lợi ích của biển, đảo
10
Tỷ lệ
%
30,
3%
Tỷ lệ
%
0
0%
0
0%
3
Biết một số nguyên nhân gây ô
30,
30,
39,
nhiễm, làm ảnh hưởng đến môi
10
10
13
0
3%
3%
4%
trường biển, hải đảo.
4
Biết tham gia bảo vệ tài nguyên và
24,
* Hiệu quả của SKKN đối với bản thân: Bản thân đã có những kiến thức
cơ bản về các nội dung giáo dục tài nguyên môi trường biển đảo cho trẻ, nắm
vững các nguyên tắc lựa chọn nội dung tích hợp để thực hiện đạt hiệu quả.
Tôi đã lập được kế hoạch cụ thể, chi tiết làm phong phú thêm phương tiện
truyền tải kiến thức đến với trẻ lớp mình phụ trách. Sưu tầm được nhiều tài liệu
19
0%
6,1
%
6,1
%
có liên quan đến chuyên đề, nhiều bài thơ, bài hát, câu chuyện, trò chơi... có tính
giáo dục cao cho trẻ.
Bản thân tạo được môi trường để giáo dục trẻ theo chủ đề phong phú và
hấp dẫn trẻ hơn. Lớp tôi đã đạt giải nhất hội thi "Làm đồ dùng đồ chơi và xây
dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm" cấp trường, được các bạn bè
đồng nghiệp trong trường và các trường lân cận đến tham quan và học tập kinh
nghiệm.
Bản thân tôi đã lựa chọn, áp dụng các biện pháp tích hợp giáo dục tài
nguyên môi trường biển đảo cho trẻ một cách hợp lý và đạt hiệu quả cao. Tôi đã
xây dựng được nhiều giáo án, bài giảng điện tử ở các chủ đề có lồng ghép nội
dung giáo dục tài nguyên môi trường biển, hải đảo có chất lượng tốt được
chuyên môn nhà trường đánh giá cao.
* Hiệu quả của SKKN đối với đồng nghiệp.
Những kinh nghiệm của tôi rất đơn giản đồng nghiệp có thể dễ dàng thực
hiện. Sau khi tôi áp dụng các biện pháp trên vào giảng dạy thì hiệu quả trên trẻ
rất cao. Vì vậy tôi luôn luôn được chị em đồng nghiệp tin tưởng và tín nhiệm.
phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam.
Trước khi tiến hành giáo viên cần xác định đúng nội dung, yêu cầu đặt ra
đối với việc giáo dục tài nguyên, môi trường, biển hải đảo cho trẻ. Việc lựa chọn
nội dung để giáo dục cho trẻ cần xuất phát từ thực tế của trẻ, phù hợp với khả
năng nhận thức của trẻ, hướng tới việc hình thành ý thức và kỹ năng cho trẻ.
Theo đó, cần đảm bảo những nguyên tắc như: Tính mục tiêu, tính khoa học và
tính phát triển. Nội dung phải góp phần giáo dục ở trẻ tình yêu quê hương, đất
nước, lòng tự hào và ý thức bảo vệ, giữ gìn biển đảo quê hương Việt Nam. Nên
xây dựng bài giảng theo hướng tích hợp nhẹ nhàng, hợp lý trong các chủ đề, các
hoạt động, không gây quá tải, nặng nề trong thực hiện chương trình giáo dục
mầm non. Ngoài ra, nội dung giáo dục nên mở rộng theo hướng đồng tâm, phát
triển từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp, gắn với thực tiễn nơi trẻ sống. Đặc
biệt, đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là lứa tuổi tiền học đường, việc lĩnh hội nội
dung giáo dục này rất có ý nghĩa cho trẻ, vì những gì hình thành ở giai đoạn này
mang tính bền vững hơn.
Trong quá trình thực hiện cần có sự kiên trì bền bỉ, đòi hỏi giáo viên lựa
chọn các hoạt động để lồng ghép, những lời giải thích, chỉ dẫn, những câu hỏi
gợi ý, kích thích trẻ, thường xuyên động viên, khuyến khích trẻ.
Giáo dục trẻ thực hiện những việc tốt và hình thành những thói quen tuy
nhỏ, nhưng từ những việc nhỏ hằng ngày sẽ làm nền tảng hình thành nhân cách
cho trẻ sau này.
3.2. Kiến nghị.
* Đối với PGD:
Mở lớp chuyên đề về tích hợp nội dung giáo dục tài nguyên môi trường
biển đảo cho giáo viên mầm non.
Tổ chức các tiết dạy đối chứng chuyên đề giáo dục tài nguyên môi trường
biển đảo để giáo viên được học hỏi, rút kinh nghiệm.
* Đối với nhà trường:
Nhà trường cần xây dựng kho tài liệu về giáo dục tài nguyên và môi trường biển,
hải đảo cho tất cả các giáo viên trong trường được tham khảo, trao đổi kinh nghiệm.
Giáo dục và đào tạo Hà Nội. Tác giả: Nguyễn Bích Thủy – Nguyễn Thị Anh
Thư.
[5]. Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non mẫu
giáo lớn (5-6 tuổi). - Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam – 2017.
[6]. Tài liệu của Hồ Chủ Tịch
[7]. QĐ số 373/QĐ-TTg ngày 23/3/2010 của Thủ tưởng Chính phủ về
việc phê duyệt “Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý bảo vệ bền
vững Biển và Hải đảo Việt Nam”
[8]. Tạp chí Giáo dục mầm non số 3/2014.
[9]. Nguồn tài liệu khai thác từ internet.
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Trịnh Thị Lan
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên - Tổ trưởng chuyên môn - Trường mầm
non Quảng Ngọc, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
Kết quả
Năm học
Cấp
đánh
giá
xếp
loại
T
đánh giá xếp
Tên đề tài SKKN
đánh giá
“Một số biện pháp nhằm
nâng cao chất lượng giáo
dục âm nhạc cho trẻ 5-6
tuổi”
“Một số biện pháp nâng
cao hiệu quả làm đồ dùng
đồ chơi từ nguyên vật
liệu”
“Một số biện pháp giáo
dục bảo vệ môi trường
cho trẻ 4-5 tuổi ở trường
mầm non”
- PGD&ĐT Quảng
Xương, Thanh Hóa
B
- SGD&ĐT Thanh Hóa
B
- PGD&ĐT Quảng
Xương, Thanh Hóa
C
2008-2009
C
2013-2014
2014-2015
C
- PGD&ĐT Quảng
Xương, Thanh Hóa
B
2015-2016
- PGD&ĐT Quảng
Xương, Thanh Hóa
B
2016-2017
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG XƯƠNG
PHỤ LỤC I