PHƯƠNG PHÁP GÂY HỨNG THÚ TRONG DẠY HỌC
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 9
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
I. Lý do chọn đề tài.
Môn Giáo dục công dân (GDCD) trong nhà trường nói chung và ở trường THCS
nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Để
phát triển toàn diện nhân cách học sinh, các môn học, các hoạt động giáo dục trong nhà
trường đều có ý nghĩa, vai trò nhất định trong đó môn Giáo dục Công dân có vị trí đặc
biệt quan trọng trong giáo dục tư tưởng, tình cảm, sự phát triển đúng đắn của thế hệ trẻ.
Nhờ được cung cấp hệ thống những tri thức, tình cảm, kĩ năng hành vi phù hợp với
những yêu cầu, tiêu chuẩn của cuộc sống xã hội mà học sinh của chúng ta có thể sống
hòa nhập trong xã hội với tư cách là một công dân thực thụ, đầy năng động và sáng tạo,
có đủ bản lĩnh để sống hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay với những năng lực
cơ bản của con người thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như: năng lực tự
hoàn thiện, tự khẳng định mình; năng lực giao tiếp ứng xử; năng lực tổ chức quản lí;
năng lực họat động xã hội; năng lực hợp tác...
Môn Giáo dục công dân là môn học có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một hệ
thống các chuẩn mực giá trị đạo đức và pháp luật cơ bản, cần thiết đối với người công
dân ở mức độ phù hợp với lứa tuổi. Qua đó, học sinh(HS) được trang bị những phương
thức ứng xử cần thiết có đạo đức, có văn hóa phù hợp với những quy định của pháp luật,
giúp HS biết sống hòa nhập trong đời sống xã hội hiện đại với tư cách là một chủ thể
tích cực, năng động và làm một công dân có ích trong tương lai.
Thế nhưng hiện nay, chất lượng và hiệu quả dạy học môn GDCD vẫn chưa cao, vẫn
còn tình trạng học sinh chán học môn GDCD, nhất là học sinh lớp 9. Vậy, vấn đề đặt ra
là giáo viên dạy môn GDCD như thế nào để học sinh học, thích học, không chán học
môn này. Theo tôi, vấn đề cốt lõi là ở chỗ phương pháp dạy học (PPDH) của giáo viên.
PPDH môn GDCD rất đa dạng, phong phú bao gồm các PPDH truyền thống và hiện đại
như: Đàm thoại, vấn đáp, thảo luận nhóm, đóng vai, trò chơi, động não, giải quyết tình
huống…Tùy từng nội dung bài học, từng phần, từng điều kiện dạy học của nhà trường
mà giáo viên lựa chọn và sử dụng các PPDH một cách hợp lý và có hiệu quả cao nhất.
Trong đó, theo tôi nghĩ sử dụng phương pháp trò chơi sẽ tạo được sự hứng thú cho học
tượng cuối cấp, phải chịu áp lực về thi tuyển sinh vào lớp 10.
- Thông qua phương pháp trò chơi học tập, học sinh được trực tiếp trải nghiệm nên
sẽ giáo dục cho các em những kĩ năng sống cơ bản, cần thiết.
B. NỘI DUNG:
I. Thực trạng
Như chúng ta đã biết, mục đích của việc đổi mới PPDH ở trường Phổ thông là thay
đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “ PPDH tích cực” nhằm giúp HS
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự
học, tinh thần hợp tác; khả năng vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau; tạo
niềm tin, niềm vui và hứng thú trong học tập.
Hiện nay môn GDCD bị HS thậm chí là nhà trường xem là “môn phụ” không phải
là chuyện lạ. Đặc biệt là HS lớp 9- đối tượng cuối cấp, chuẩn bị cho thi tuyển sinh vào
lớp 10. Nguyên nhân có nhiều: ngoài hiện tượng học lệch, chán học môn GDCD thì kiến
thức ở sách giáo khoa lại đơn giản. Nhưng đáng quan tâm hơn đó là giáo viên dạy môn
GDCD ở bậc THCS thường là giáo viên không có chuyên ngành về GDCD- chủ yếu là
giáo viên dạy môn khác kiêm thêm. Vì thế mà phương pháp họ sử dụng chủ yếu là
thuyết trình, đàm thoại, ít có sự đầu tư nghiên cứu, dạy qua loa xong chuyện nên có
nhiều hạn chế, nhất là làm cho HS nhận thức một cách thụ động, sao chép, áp đặt, máy
móc. Đây là vấn đề cần được tập trung giải quyết để loại bỏ quan niệm môn GDCD là
“môn phụ”.
Việc áp dụng các PPDH hiện đại như: Thảo luận nhóm, sắm vai, giải quyết vấn đề,
dự án…và đặc biệt là phương pháp trò chơi vào dạy học môn GDCD còn nhiều hạn chế,
mang tính đối phó và nếu có áp dụng thì vẫn chưa đem lại hiệu quả trong dạy học môn
GDCD; chưa phát huy hết ưu điểm của phương pháp này.
2
Qua thăm lớp dự giờ các đồng nghiệp tôi nhận thấy: khi sử dụng các PPDH tích cực,
trong đó có phương pháp trò chơi vào giảng dạy môn GDCD- khi mà có sự tích hợp
nhiều vấn đề, nhất là giáo dục kĩ năng sống thì nhiều giáo viên còn lúng túng, chưa biết
Bước 4: Thực hiện trò chơi
Bước 5: Đánh giá sau trò chơi. Bước này bao gồm những việc làm sau:
- GV nhận xét thái độ tham gia trò chơi của từng đội,của cá nhân, những việc làm
chưa tốt để rút kinh nghiệm.
- Công bố kết quả của từng đội, cá nhân và tuyên dương, ghi điểm, trao phần
thưởng(nếu có).
Bước 6: Thảo luận về ý nghĩa giáo dục của trò chơi. HS nêu kiến thức, kĩ năng
trong bài học mà trò chơi đã thể hiện.
Bước 7: GV kết luận, định hướng cho HS về cách ứng xử tích cực qua trò chơi.
3
c. Ưu điểm của phương pháp trò chơi.
- Qua trò chơi, HS có cơ hội để thể nghiệm thái độ, hành vi. Chính nhờ sự thể
nghiệm này sẽ hình thành được ở các em niềm tin vào những thái độ, hành vi tích cực,
tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi ứng xử trong cuộc sống.
- Qua trò chơi, HS sẽ được rèn luyện khả năng ra quyết định lựa chọn cho mình
cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong tình huống; HS hình thành được năng lực quan
sát, được rèn luyện kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi. Trò chơi có nhiều HS tham gia sẽ
tạo cơ hội rèn luyện kĩ năng học tập hợp tác cho các em.
- Bằng trò chơi, việc học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động, không
khô khan, nhàm chán. HS được lôi cuốn vào quá trình luyện tập một cách tự nhiện, hứng
thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giảm sự căng thẳng, mệt mỏi trong học tập
cho HS- nhất là HS lớp 9, khi mà áp lực thi cử đè nặng
- Trò chơi còn tăng khả năng giao tiếp, tạo mối quan hệ gần gũi, thân thiện giữa HS
với HS, giữa GV với HS.
2. Những phương pháp cụ thể.
2.1. Trong dạy học nói chung và dạy học môn GDCD nói riêng, không nhất thiết
giờ học nào cũng bắt buộc phải sử dụng phương pháp trò chơi. Tùy từng bài, từng phần,
từng điều kiện dạy học của nhà trường, khả năng của HS, năng lực và sở trường của GV
là trách nhiệm của mọi người…
*.Trò chơi “Băng reo”.
Để kết thúc bài học: Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, GV có thể tổ chức cho HS chơi trò
“ Băng reo” như sau:
Giáo viên hô “Thanh niên” học sinh đáp lại “Việt Nam”.
Khi Giáo viên hô “sẵn sàng” học sinh đáp lại “Bảo vệ Tổ quốc”
Giáo viên hô “thanh niên Việt Nam” học sinh đáp lại “sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc”.
*.Trò chơi ô chữ: GV có thể dựa vào nội dung bài học để tạo một ô chữ tóm lược
lại những nội dung đã học hay những gì học sinh cần ghi nhớ.
Ví dụ : Khi dạy bài 7- Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, GV
có thể sử dụng ô chữ sau để củng cố bài học:
- GV tổ chức cho cả lớp cùng chơi
- GV gợi ý HS giải ô chữ bằng cách trả lời các câu hỏi: Trả lời các câu hỏi hàng
ngang để tìm ra ô chữ hàng dọc(11 chữ cái)
- HS lựa chọn ô chữ hàng ngang- câu hỏi:
1. Áo dài là một …(9 chữ cái) truyền thống của dân tộc Việt Nam.
2. Đây là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta từ ngàn xưa đến nay?( 7 chữ cái).
3. Câu ca dao:
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chùm lại nên hòn núi cao”
Muốn nhắc nhở chúng ta điều gì?(7 chữ cái)
4. Đây là một trong những truyên thống của dân tộc ta trong lĩnh vực giáo dục?(7
chữ cái)
5. Ngày xưa, khi cha ông ta chiến thắng quân giặc, thường cung cấp lương thực
quần áo và tha cho tù binh được trở về nhà họ. Điều này thể hiện truyền thống gì của
dân tộc ta?(9 chữ cái).
1
T
2
A
- Sau khi giải xong các ô chữ hàng ngang- HS đoán ô chữ hàng dọc
- Kết thúc trò chơi, GV tuyên dương, khen ngợi hoặc ghi điểm cho những em trả lời
tốt.
GV kết luận kết thúc bài học: Dân tộc Việt Nam có truyền thống lâu đời, có bề dày
lịch sử dựng nước và giữ nước.Truyền thống đó là bài học, là kinh nghiệm quý giá cho
mọi thế hệ noi theo.
*Trò chơi đóng vai: Sau khi học bài : Tự chủ, GV tổ chức cho HS chơi đóng vai.
Cách tiến hành như sau:
Gv chia nhóm(2,3,4 nhóm ) tùy tình hình lớp học, đưa ra tình huống: Hai bạn
HS đi xe đạp ngược chiều va vào nhau, một bạn xe bị hỏng, bạn kia bi xây xát.
- HS tự xây dựng kịch bản, viết lời thoại và phân vai.
- GV gợi ý thêm về diễn xuất.
- HS mỗi nhóm lên diễn xuất theo kịch bản.
- HS cả lớp nhận xét, đánh giá
- GV nhận xét, đánh giá tiểu phẩm, tuyên dương, ghi điểm nhóm làm tốt hoặc phát
thưởng (nếu có).
*Trò chơi “Ai giỏi hơn”: Sau khi học bài : Tự chủ, GV tổ chức cho HS chơi trò
chơi:
GV kết luận toàn bài: Tự chủ là đức tính quý giá. Nếu như mỗi chúng ta cũng có
đức tính tự chủ thì mọi công việc được giao được hoàn thành tốt đẹp, mỗi cá nhân sẽ
xây dựng gia đình, xã hội văn minh, hạnh phúc. Mỗi HS chúng ta biết tự chủ sẽ trở
thành người con ngoan, trò giỏi, lớp trường của chúng ta sẽ luôn luôn là môi trường
xanh- sạch- đẹp, văn minh, an toàn.
*.Trò chơi “Hái hoa dân chủ”. Đây là trò chơi thường được tổ chức trong các giờ
ôn tập, thực hành, ngoại khóa. Thay đổi hình thức ôn tập bằng trò chơi “hái hoa dân
GV kết luận bài học. Chúng ta có thể tham khảo những câu sau:
+ Câu nói của Bác Hồ:
- Dễ trăm lần không dân cũng chịu .
Khó vạn lần dân liệu cũng xong
- Không có gì quý hơn độc lập tự do.
+ Tục ngữ:
- Muốn tròn phải có khuôn,
Muốn vuông phải có thước.
- Quân pháp bất vị thân.
- Nhập gia tùy tục.
- Đói tự do hơn no luồn cúi.
- Bể rộng cá nhảy, trời cao chim bay.
- Đất có lề, quê có thói.
- Nước có vua, chùa có bụt.
- Người trên đứng đắn, kẻ dưới dám nhờn.
- Thượng bất chính, hạ tắc loạn. .
7
- Tôn ti trật tự.
+ Cao dao:
- Bề trên ở chẳng kỉ cương,
Cho nên kẻ dưới lập đường mây mưa.
- Thà làm chim sẻ trên cành
Còn hơn sống kiếp hoàng anh trong lồng.
b. Sử dụng trò chơi để hình thành kiến thức, kĩ năng mới cho HS.
* Trò chơi “Tiếp sức’. Trò chơi này áp dụng khi GV yêu cầu HS tìm những biểu
hiện của chuẩn mực đạo đức hay pháp luật trong cuộc sống hàng ngày.
Sau khi hướng dẫn HS tìm hiểu khái niệm trong bài: Kế thừa và phát huy truyền
thông tốt đẹp của dân tộc”, GV tổ chức cho HS chơi trò “tiếp sức” :
hứng học tập giảm bớt sự căng thẳng, mệt mỏi ở tiết học trước( Hoặc sự căng thẳng,
mệt mỏi do hoàn cảnh xung quanh).
*.Trò chơi săm vai:
Ví dụ: khi học bài Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
GV
tổ chức cho HS chơi sắm vai để giới thiệu bài mới.
HS chuẩn bị tiểu phẩm(GV hướng dẫn HS chuẩn bị ở tiết học trước)
8
HS chơi đóng vai với tiểu phẩm:
Mười( vừa đi vừa ngân nga):
- Dù ai buôn bán trăm bề
Mồng mười tháng tám thì về chọi trâu
- Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Lợi: Cậu lãng mạn thật đấy. Biết ngâm thơ từ bao giờ thế! Cậu có biết ý
nghĩa của các câu ca dao đó không?
Mười (gãi đầu): Tớ …tớ…ớ!
Trân: A! Câu ca dao nhắc nhở chúng ta phải luôn nhớ về cội nguồn, nhớ về
những giá trị tốt đẹp của dân tộc. Đây là một trong những truyền thống tốt đẹp của dân
tộc ta.
Tuyết Minh: Vậy “Truyền thống” là gì? Thế nào là truyền thống tốt đẹp của
dân tộc?
Tiểu phẩm kết thúc, GV chuyển vào giới thiệu bài mới: Để giải đáp câu hỏi của bạn
Hằng, chúng ta sẽ tìm hiểu bài học hôm nay.
*. Trò chơi tiếp sức:
Khi dạy bài: Ôn tập học kỳ I chúng ta sử dụng trò chơi tiếp sức để tạo tâm lý hứng
thú cho học sinh khi học bài mới.
GV chia nhóm( 2 nhóm), quy định thời gian chơi( thời gian chơi 3 phút)
9
Điều tra kết quả học tập: kết quả học tập cuối năm học 2016 - 2017
Lớp Sĩ số
Học Lực
Ghi chú
G K
TB Y
9A1 41
39 2
0
Sau khi áp dụng đề tài
9A2 42
32 10
0
0
Sau khi áp dụng đề tài
Như vậy, qua điều tra chúng ta thấy, hiệu quả dạy học môn GDCD đã được nâng
cao khi có áp dụng phương pháp trò chơi.
Để đạt được những kết quả trên, trong quá trình áp dụng phương pháp trò chơi vào
dạy học môn GDCD cần lưu ý một số điểm sau :
- Trò chơi phải dễ tổ chức và thực hiện, phải phù hợp với chủ đề, mục tiêu bài học
GDCD, với đặc điểm, trình độ của HS THCS, với quãng thời gian, hoàn cảnh, điều kiện
thực tế của lớp học, đồng thời phải không gây nguy hiểm cho HS.
- HS phải nắm được quy tắc chơi và phải tôn trọng luật chơi.
- Quy định rõ thời gian, địa điểm chơi.
- Trò chơi phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều kiện cho
HS tham gia tổ chức, điều khiển tốt các khâu: chuẩn bị, tiến hành chơi và đánh giá sau
trong cho những hành vi ứng xử trong cuộc sống.
- HS sẽ được rèn luyện khả năng ra quyết định lựa chọn cho mình cách ứng xử
đúng đắn, phù hợp trong tình huống; HS hình thành được năng lực quan sát, được rèn
luyện kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi.
- Tiết học được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động, không khô khan, nhàm
chán. HS được lôi cuốn vào quá trình luyện tập một cách tự nhiện, hứng thú và có tinh
thần trách nhiệm, đồng thời giảm sự căng thẳng, mệt mỏi trong học tập cho HS- nhất là
HS lớp 9, khi mà áp lực thi cử đè nặng
- Trò chơi còn tăng khả năng giao tiếp, tạo mối quan hệ gần gũi, thân thiện giữa HS
với HS, giữa GV với HS.
- Qua đó, HS được rèn luyện nhiều kĩ năng sống: kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng
hợp tác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng chia sẽ cảm xúc, kĩ năng giảm căng thẳng…
- Nôi dung bài học nắm chắc và sâu hơn vì bản thân các em được tự khám phá.
II. Những kết luận trong quá trình nghiên cứu, vận dụng.
- Để giờ học GDCD đạt được hiệu quả cao, tạo được sự hứng thú cho HS, GV phải
có sự đầu tư, nghiên cứu, chuẩn bị chu đáo, nhất là khi sử dụng phương pháp trò chơi
vào dạy học môn GDCD.
- Tổ chức hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa
dạng, phong phú, có sức hấp dẫn, phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình
độ học sinh, với điều kiện cụ thể của lớp, trường, địa phương.
- Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh tham gia một cách
tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá, phát hiện tri thức. Tạo niềm vui,
sự hứng khởi, nhu cầu hoạt động và thái độ tự tin trong học tập, giúp học sinh phát
triển tối đa năng lực tự học, tự đánh giá.
- Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lý, hiệu
quả, linh hoạt phù hợp với đặc trưng bộ môn, phù hợp với nội dung, tính chất của bài
học…
- Học sinh cần mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, tích cực thảo luận, tranh luận
với bạn, với nhóm học tập. Biết tự đánh giá và đánh giá các ý kiến, quan điểm, các sản
phẩm hoạt động học tập của bản thân, bạn bè.
PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Kết quả chấm điểm: . . . . . . /100 điểm
a) Về nội dung:
- Tính mới: ............................................./30 điểm
- Tính hiệu quả: ...................................../35 điểm
- Tính ứng dụng thực tiễn: ...................../20 điểm
- Tính khoa học: ...................................../10 điểm
b) Về hình thức: ...................................../05 điểm
2. Xếp loại: ..........................................................
Vĩnh Hưng A, ngày ..... tháng .... năm 20...
CHỦ TỊCH HĐKH
HIỆU TRƯỞNG
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GD&ĐT VĨNH LỢI
1. Kết quả chấm điểm: . . . . . . /100 điểm
2. Xếp loại: ..........................................................
Vĩnh Lợi, ngày ..... tháng .... năm 20...
CHỦ TỊCH HĐKH
TRƯỞNG PHÒNG GD&ĐT
13
14