Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học - Pdf 51

PHẦN MỘT: THÔNG TIN TÁC GIẢ
- Họ và tên: Phạm Thị Thu
- Ngày, tháng, năm, sinh: 19/4/1979
- Chức vụ, đơn vị công tác: Phó hiệu trưởng- Trường Tiểu học Lâm Giang
- Trình độ chuyên môn: Đại học
- Đề nghị xét, công nhận sáng kiến: Cấp cơ sở
- Lĩnh vực áp dụng: Lĩnh vực giáo dục với chuyên đề “Biện pháp nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên”.
PHẦN HAI: NỘI DUNG SÁNG KIẾN
Chương I. Những vấn đề chung
1, Khái quát đặc điểm tình hình cơ quan, đơn vị.
Trường Tiểu học Lâm Giang là trường vùng II của huyện Văn Yên, đóng trên
địa bàn xã Lâm Giang, địa bàn rộng, dân số đông. Tỉ lệ dân số là dân tộc thiểu số
chiếm gần 40%, có 4/18 thôn thuộc vùng đặc biệt khó khăn. Nhiều năm qua, được
sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Phòng GD& ĐT huyện Văn Yên, của chính quyền
địa phương xã Lâm Giang cùng với sự nỗ lực phấn dấu của đội ngũ cán bộ- giáo
viên- nhân viên nhà trường, ngôi trường Tiểu học Lâm Giang của chúng tôi đã ngày
một khang trang hơn, chất lượng dạy và học ngày được nâng cao hơn, số lượng
giáo viên giỏi và học sinh đạt giải trong các kì thi cấp huyện cũng ngày một tăng
hơn. Nhiều năm liền trường được UBND huyện Văn Yên công nhận là trường tiên
tiến, đó là niềm vinh dự, tự hào đối với tập thể nhà trường nhưng cũng là nhiệm vụ
lớn lao, là động lực để thầy trò nhà trường phấn đấu nhiều hơn nữa trong dạy- học,
tu dưỡng rèn luyện.
Năm học 2016 – 2017, Trường Tiểu Lâm Giang được sáp nhập từ 2 trường tiểu
học: TH số 1 Lâm Giang và trường TH số 2 Lâm Giang. Toàn trường có tổng số 43
cán bộ - giáo viên – nhân viên, trong đó: Quản lí: 03 người; giáo viên: 38 người;
nhân viên: 02 người. Tổng số HS của trường 683, trong đó học sinh nữ: 345 em,
dân tộc 307 em., được biên chế 30 lớp và đặt 6 điểm trường,
Năm học 2016- 2017, mục tiêu nâng cao chất lượng dạy và học được nhà
trường xác định là nhiệm vụ then chốt, cấp bách nhất của nhà trường trong năm
học. đặc biệt trú trọng đến công tác giảng dạy của giáo viên. Chính vì vậy, mỗi

hiệu quả. Chính sách cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp. Cơ sở
vật chất- kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt
khó khăn.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc học tiểu học có vị trí quan trọng,
được xem là bậc học nền tảng. Cũng như xây một ngôi nhà, cái nền có chắc, ngôi
nhà mới vững. Cái nền không cứng, chắp vá ắt ngôi nhà sẽ xộc xệch. Trẻ em ở lứa
tuổi tiểu học như Bác Hồ đã ví “như búp trên cành”, cần được nâng niu, chăm sóc
và dạy dỗ một cách đặc biệt. Trong nhiều năm trở lại đây, giáo dục tiểu học ngày
càng thu hút được sự quan tâm của gia đình và xã hội, ngày càng củng cố được
niềm tin đối với phụ huynh và xã hội bởi sự đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị
phục vụ cho dạy và học, sự đổi mới về nội dung chương trình, về phương pháp dạy
học và phương thức đánh giá xếp loại học sinh, về yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo
viên tiểu học…Mỗi thầy cô giáo đều đã cố gắng học tập nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng giảng dạy cho chính bản thân mình. Hoạt
động giảng dạy của giáo viên tiểu học giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao
chất lượng giáo dục trong mỗi nhà trường. Thông qua hoạt động giảng dạy của
mình thầy cô giáo không chỉ truyền cho các em kiến thức mà còn hướng dẫn các
em những kĩ năng sống đơn giản và cần thiết nhất. Chất lượng giáo dục ở mỗi nhà
trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng yếu tố quan trọng nhất là phương pháp
dạy học của người thầy. Người xưa vẫn nói: Thầy có giỏi thì trò mới giỏi, người
thày giỏi là người biết truyền tải cho học sinh những kiến thức một cách khoa học
nhất thông qua hoạt động giảng dạy. Chất lượng dạy và học sẽ làm nên thương hiệu
của mỗi nhà trường, là yếu tố tạo niềm tin đối với phụ huynh và xã hội. Nâng cao
hoạt động giảng dạy của giáo viên là nhiệm vụ quan trọng của mỗi nhà trường và
2


của người quản lí giáo dục trong nhà trường ấy. Một thực tế cho thấy, công tác
giảng dạy của giáo viên tiểu học hiện nay đang có nhiều bất cập, chưa thực sự đáp
ứng nhu cầu dạy và học trong mỗi nhà trường nói chung và đối với trường Tiểu học

kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học.
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm
non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn. Tuy nhiên,
tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau: Ở đầu tuổi tiểu
học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi.Ở cuối
tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã
tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai
đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,
3


… Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi
các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các
rung động tình cảm của các em.
Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các
em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt
ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động
nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính
của mình một cách toàn diện. Quá trình dạy học, giáo viên cần sử dụng đồ dùng
trực quan để hướng các em từ: Tư duy trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.
Học sinh tiểu học “ tin tưởng tuyệt đối vào người lớn” vì thế thầy cô giáo trong
quá trình dạy học phải luôn là một quản trò đa năng, biết biến báo, lôi cuốn, trang
bị nhiều kỹ năng thành thạo, thu hút được đám đông các em, đồng thời lại có vốn
liếng kinh nghiệm về tâm lý để có thể tiếp cận mà lắng nghe và đối thoại với từng
em, tạo niềm tin vững chắc cho các em.
Về hoạt động học tập, các em cũng rất dễ hào hứng để cho cuốn theo các ý
tưởng, các kiến thức lý thú mới lạ, để không ngừng đặt ra các câu hỏi tò mò thắc
mắc. Một khi nơi các em lý trí bắt đầu hoạt động âm thầm, các ý tưởng như thế dần
dần sáng tỏ ra, cho dù các em chưa thể lý luận suy diễn theo dạng đặt vấn đề "vì
vậy", "cho nên", "do đó" như người lớn... Nhưng mặt khác, các em đã không còn

theo chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học; soạn bài, lên lớp, kiểm tra, đánh giá,
xếp loại học sinh; quản lí học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ
chức; tham gia các hoạt động chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu
quả giảng dạy và giáo dục. 2. Trau dồi đạo đức, nêu cao tinh thần trách nhiệm,
giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; gương mẫu trước học sinh, thương yêu, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của học sinh; bảo vệ các quyền
và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp.3. Học tập, rèn
luyện để nâng cao sức khỏe, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới
phương pháp giảng dạy.
Năm 2007, Bộ Giáo dục và đào tạo cũng đã ban hành Quyết định số:
14/2007/QĐ-BGDĐT Ban hành Quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu
học. Tại Điểu 6, điều 7 của Quy định này đã quy định rõ về các yêu cầu mỗi
người giáo viên Tiểu học phải đạt được. Cụ thể:
Điều 6. Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kiến thức
1. Kiến thức cơ bản. Bao gồm: Nắm vững mục tiêu, nội dung cơ bản của
chương trình, sách giáo khoa của các môn học được phân công giảng dạy;
Có kiến thức chuyên sâu, đồng thời có khả năng hệ thống hoá kiến thức trong
cả cấp học để nâng cao hiệu quả giảng dạy đối với các môn học được phân công
giảng dạy; Kiến thức cơ bản trong các tiết dạy đảm bảo đủ, chính xác, có hệ
thống;Có khả năng hướng dẫn đồng nghiệp một số kiến thức chuyên sâu về một
môn học, hoặc có khả năng bồi dưỡng học sinh giỏi, hoặc giúp đỡ học sinh yếu hay
học sinh còn nhiều hạn chế trở nên tiến bộ.
2. Có kiến thức về tâm lý học sư phạm và tâm lý học lứa tuổi, giáo dục
học tiểu học.
3. Có kiến thức về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học
sinh. Bao gồm các tiêu chí sau:
4. Có kiến thức phổ thông về chính trị, xã hội và nhân văn, kiến thức liên
quan đến ứng dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ: Thực hiện bồi dưỡng kiến thức
chuyên môn, nghiệp vụ đúng với quy định; Cập nhật được kiến thức về giáo dục
hoà nhập trẻ khuyết tật, giáo dục môi trường, quyền và bổn phận của trẻ em, y tế
học đường, an toàn giao thông, phòng chống ma túy, tệ nạn xã hội; Biết và sử dụng

Từ những cơ sở khoa học và cơ sở pháp lí kể trên cùng với cơ sở thực tiễn sẽ
là căn cứ để tôi xác định và đưa ra được những biện pháp nâng cao chất lượng đội
ngũ giáo viên tiểu học.
CHƯƠNG II. NỘI DUNG
I, Thực trạng
Một thực trạng cho thấy trong những năm gần đây chất lượng giảng dạy tại
trường Tiểu học số 1 Lâm Giang (Nay sáp nhập với trường Tiểu học số 2 Lâm
Giang thành trường Tiểu học Lâm Giang) còn thấp so với yêu cầu. Chưa đáp ứng
được đầy đủ những tiêu chuẩn của một trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia.
*Về giáo viên: Nhiều năm liền trường không có hoặc nếu có thì chỉ có 1 giáo
viên giỏi cấp huyện duy nhất, phong trào thi đua dạy tốt – học tốt không được trú
trọng, giáo viên ngại tham gia hội giảng cấp trường, cấp huyện, trình độ đào tạo thì
100% đạt chuẩn đào tạo là THSP 12+2. Nhiều năm có giáo viên xếp loại trung
bình, thậm chí là loại yếu. Giáo viên làm việc chỉ mang tính chất dạy cho xong,
thiếu tinh thần trách nhiệm. Tinh thần, ý thức tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn còn
chậm.
6


* Về học sinh: Học sinh ngại học, không thích đến trường, tỉ lệ chuyên cần
thấp, nghỉ học tự do. Không có học sinh tham gia thi học sinh giỏi cũng như viết
chữ đẹp các cấp. Chất lượng học sinh đạt giải qua các kì giao lưu cấp huyện thấp,
chưa đạt yêu cầu. Cụ thể: (Số liệu trước khi sáp nhập, áp dụng các giải pháp tại
trường Tiểu học số 1 Lâm Giang) – Thời điểm là cuối năm học:
Năm học

2013-2014

Chất lượng học sinh cuối năm
Giỏi

CHT

Đ
194/194

NL


GVG
Trường

Huyện

8

6/17

HSGL cấp
huyện
Đạt giải

Trường

Huyện

3( CN)

10

6/17

mình, chưa được đào tạo về kiến thúc và kĩ năng quản lí. Việc hướng dẫn tổ chức
các tổ chuyên môn, giáo viên thực hiện nâng cao chất lượng giảng dạy đôi khi
không sát kế hoạch và mang tình hình thức.
Hai là: Công tác quản lí chuyên môn đôi khi còn nể nang, chưa thực sự sát sao
nhất là về công tác soạn giảng, dự giờ tự học của giáo viên, công tác kiểm tra đánh
giá.
7


Ba là: Công tác tự học tự bồi dưỡng, dự giờ thăm lớp còn mang tính hình thức,
chưa mang tính tự giác. công tác bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên chậm, khả
năng tự học của giáo viên còn nhiều hãn chế, bất cập, việc tiếp thu và vận dụng
phương pháp mới của giáo viên rất lung túng. Không có kĩ năng bồi dưỡng, giáo
viên ngại tham gia các hoạt động chuyên môn như: Mở chuyên đề, hội giảng các
cấp, tham gia xây dựng tổ chuyên môn. Tổ chuyên môn chưa phát huy hết vai trò
trong quá trình hoạt động, nội dung sinh hoạt chưa phong phú, chưa đổi mới sinh
hoạt chuyên môn, Tổ chuyên môn chưa phát huy vai trò trách nhiệm, kế hoạch xây
dựng còn chung chung, nội dung sinh hoạt còn đơn điệu, từ đó dẫn đến chất lượng
sinh hoạt tổ chuyên môn không có hiệu quả cao.
Bốn là: Công tác thi đua khen thưởng, động viên, khích lệ giáo viên và học sinh
có thành tích trong dạy và học chưa kịp thời….
Năm là: Thư viện nhà trường còn thiếu tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy học ít,
phương tiện, thiết bị dạy học không có nên việc ứng dụng công nghệ thông tin vào
quản lí – dạy học gặp nhiều khó khăn.
Đứng trước tình hình đó, tôi thấy rằng việc nâng cao chất lượng giảng dạy trong
nhà trường, nhất là đối với một trường chuẩn quốc gia là vô cùng cấp bách nhưng
trước hết phải từ nâng cao chất lượng giáo viên, cụ thể là phải nâng cao chất lượng
hoạt động giảng dạy cho đội ngũ. Vì chỉ có đội ngũ giáo viên có hiểu biết sâu rộng
về trình độ lí luận chính trị, kiến thức thực tế, vững vàng về chuyên môn, có năng
lực quản lí học sinh, có kĩ năng giảng dạy trên lớp hiệu quả, kĩ năng phụ đạo- bồi

được đội ngũ xác định đúng đắn, là nhiệm vụ hàng đầu của nhà trường, giáo viên tự
giác trong công việc. Nhiều năm liền không có giáo viên bị kỉ luật, 100% giáo viên
được đánh giá, xếp loại tốt về Tư tưởng, đạo đức.
1.2. Sắp xếp bố trí công việc:
Để phát huy nhân tố con người, phát huy hết khả năng sáng tạo, năng lực, sở
trường công tác và hứng thú làm việc của cá nhân, thì nhà trường cần phân công
nhiệm vụ công tác phù hợp, hợp lí đối với từng giáo viên. Để làm được điều này,
ngay từ đầu năm học Ban giám hiệu nhà trường cần phải phối hợp với tổ chức công
đoàn tìm hiểu, nắm bắt được tâm tư nguyện vọng, sở trường, năng lực của mỗi
người. Rút kinh nghiệm từ kết quả đạt được của mỗi cá nhân từ năm học trước sau
đó phân tích nguyên nhân chủ quan và khách quan đối với kết quả mà giáo viên đã
đạt được để tiếp tục giao nhiệm vụ phù hợp hơn. Sắp xếp thời khóa biểu hợp lí, tạo
điều kiện thuận lợi để giáo viên có thời gian tối ưu nhất cho giáo viên lên lớp cũng
như chuẩn bị bài ở nhà.
1.3. Công tác chỉ đạo chuyên môn:
Đây là nhiệm vụ quan trọng đối với một Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên
môn. Nhìn vào hoạt động chuyên môn của một trường có tốt hay không trước hết
có thể đánh giá ngay vào công tác quản lí chuyên môn của cán bộ quản lí. Là một
cán bộ quản lí làm công tác chuyên môn phải có trình độ lí luận chính trị nhất định,
kĩ năng quản lí. Có hiểu biết về chủ trương đường lối của Đảng đối với công tác
giáo dục, mục tiêu phát triển chung của ngành cũng như của nhà trường, có hiểu
biết về nội dung chương trình bậc học đang quản lí. Nắm được yêu cầu chuẩn kiến
thức kĩ năng cần đạt đối với từng môn, từng khối học. Có hiểu biết và nắm chắc các
phương pháp, hình thức dạy học tích cực để có thể hướng dẫn giáo viên trong quá
trình áp dụng vào giảng dạy. Có khả năng áp dụng công nghệ thông tin trong quản
lí và giảng dạy. Chính vì vậy mỗi người quản lí phải tích cực trau rồi kiến thức, tích
cực tự học từ bồi dưỡng nâng cao trình độ lí luận chính trị, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ. Ngay từ đầu năm học, bám sát chỉ thị nhiệm vụ năm học, các văn bản
hướng dẫn của ngành và kế hoạch phát triển chung của nhà trường xây dựng kế
hoạch hoạt động chuyên môn cụ thể cho cả năm, tùng tháng. Sau mỗi tháng cần có

tạo của học sinh trong tiết học nhằm hình thành cho học sinh những năng lực, phẩm
chất tự lực để các em có thể học tập liên tục, suốt đời
+ Cần suy nghĩ xác định những biện pháp chỉ đạo cá biệt, những phương tiện
dạy học cần thiết và cách sử dụng chúng.
+ Ngay từ đầu năm học, sau khi giao nhiệm vụ, yêu cầu mỗi giáo viên cần
nghiên cứu kĩ nội dung chương trình, yêu cầu chuẩn kiến thức, phương pháp và
hình thức dạy học tích cực đối với mỗi môn học, khối học mà mình phụ trách giảng
dạy. Nhà trường đưa yêu cầu về công tác xây dựng kế hoạch vào quy chế hoạt động
chuyên môn một cách cụ thể. Trong giáo án cần thể hiện rõ yêu cầu theo Chuẩn
kiến thức kĩ năng và điều chỉnh nội dung dạy học theo sự chỉ đạo của cấp trên
(Công văn số 5842/BGD& ĐT ngày 01 tháng 9 năm 2011) và các văn bản hướng
dẫn chuyên môn khác.
+ Đánh giá học sinh theo đúng thông tư hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, có dự
kiến đánh giá học sinh thông qua tiết dạy đó. Xác định đối tượng học sinh nào được
đánh giá thông qua hoạt động nào trong tiết học để động viên, khích lệ học sinh
Chuyên môn nhà trường tổ chức sinh hoạt chuyên đề, đưa ra thống nhất chung
về quy trình, trình bày, nội dung cần thể hiện trong bài soạn cụ thể đối với từng
môn học.
Sau khi thực hiện các giải pháp trên, nhưng năm gần đây, việc chuẩn bị bài của
giáo viên có chuyển biến rõ rệt, giáo viên chủ động được kiến thức trong những giờ
10


lên lớp, chuẩn bị tốt mọi điều kiện lên lớp, chất lượng giờ dạy cao, không có tình
trạng giáo viên lên lớp “dạy chay”. 100% giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ soạn
giảng, không có tình trạng giáo viên lên lớp không chuẩn bị bài và giáo án.
1.3.2: Công tác sinh hoạt tổ chuyên môn
Sinh hoạt tổ chuyên môn là hoạt động không thể thiếu được trong mỗi nhà
trường, trong đó vai trò của người tổ trưởng chuyên môn rất quan trọng. Những
công việc quản lí chuyên môn triển khai từ chuyên môn nhà trường luôn được

kiểm tra, rút kinh nghiệm và cùng các tổ trưởng điều chỉnh nội dung sinh hoạt
chuyên môn sao cho phù hợp, phong phú về nội dung, thiết thực với giáo viên trong
tổ. Sinh hoạt chuyên môn theo hướng đổi mới: Lấy học sinh làm trung tâm, kịp thời
tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho giáo viên trong quá trình giảng dạy.
11


+ Đối với tổ trưởng chuyên môn: Điều hành các buổi sinh hoạt chuyên môn, trực
tiếp cùng giáo viên cốt cán chuẩn bị và thực hiện dạy các tiết dạy chuyên đề; Làm
nòng cốt khi thảo luận trong sinh hoạt chuyên môn và cụ thể hóa các hoạt động
chuyên môn thông qua các hoạt động dạy học hàng ngày; truyền đạt sự đồng thuận
và quyết định của nhà trường cho tổ khối của mình cũng như truyền đạt các ý kiến
của các thành viên trong tổ đến với nhà trường. Định hướng nội dung sinh hoạt
chuyên môn để các thành viên biết cùng tham gia chuẩn bị nội dung trao đổi cho
buổi sinh hoạt tiếp theo nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, phát huy vai trò
mỗi thành viên trong tổ.
+ Đối với giáo viên: Tất cả giáo viên đều phải tham gia sinh hoạt chuyên môn vì
mục đích của sinh hoạt chuyên môn là xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa các
thành viên trong nhà trường và tạo cơ hội học tập cho tất cả mọi người. Trong sinh
hoạt chuyên môn giáo viên cần phải có thái độ và hành động: Tích cực chia sẻ, hỗ
trợ đồng nghiệp chuẩn bị bài dạy; tác phong đúng mực khi dự giờ, tránh những
hành động làm phiền học sinh khi dự giờ; tích cực tham gia ý kiến xây dựng tổ
chuyên môn, chia sẻ các ý kiến về biện pháp bồi dưỡng- phụ đạo học sinh, công tác
chủ nhiệm lớp, duy trì số lượng và nâng cao tỉ lệ chuyên cần…
Phát huy vai trò của tổ chuyên môn đã giúp giáo viên có cơ hội trao đổi, học
học kinh nghiệm lẫn nhau, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong giảng dạy,
nhiều kinh nghiệm hay được trao đổi thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn.
1.3.3: Công tác dự giờ của giáo viên:
Để đánh giá được chất lượng giảng dạy của một giáo viên ở mức độ nào thì hoạt
động dự giờ là một trong những hoạt động quan trọng không thể thiếu được. Thông

tình trạng học sinh đứng bên lề lớp học.
- Tiết học phải được diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên, thoải mái, có hiệu quả.
* Phát huy vai trò của tổ chuyên môn trong công tác dự giờ:
Với đặc thù trường học dạy 2 buổi/ngày, giáo viên dạy theo phân môn, không cố
định ca học nào. Vì thế, việc dự giờ thăm lớp nếu không thực hiện tốt sẽ mất đi cơ
hội để giáo viên phát triển chuyên môn của mình. Vì vậy Ban giám hiệu nhà trường
đã chỉ đạo các tổ chuyên môn tích cực chủ động trong công tác dự giờ đối với giáo
viên. Ngay từ đầu năm học, chuyên môn nhà trường phân lịch sinh hoạt chuyên
môn cụ thể cho mỗi tổ để quản lí phụ trách chuyên môn đi sâu sát hơn trong việc
nắm bắt tình hình hoạt động chuyên môn của mỗi tổ khối. Trong mỗi buổi sinh hoạt
chuyên môn, các tổ trưởng tổ chức điều hành việc trao đổi bài giữa các giáo viên,
ngoài ra nhiệm vụ được đặt lên hang đầu đó là tổ chức dự giờ đối với mỗi giáo viên
trong tổ. Sau khi bàn bạc về bài dạy, thường các giáo viên đưa ra những vướng mắc
trong chuyên môn của mỗi tuần, trên cơ sở đó chuyên môn cùng với tổ trưởng
chuyên môn lập kế hoạch để thành lập các chuyên đề đổi mới dạy học. Mỗi tổ sẽ
thành lập một chuyên đề bàn về những vướng mắc chung nhất đối với giáo viên, tổ
trưởng chuyên môn sẽ trực tiếp chỉ đạo chuyên đề. Hiệu phó phụ trách chuyên môn
chỉ đạo chung các tổ. Trong mỗi tiết dạy chuyên đề cần chọn giáo viên dạy một
cách phù hợp và chia ra để tạo điều kiện cho mỗi giáo viên đều có cơ hội tham gia
chuyên đề một cách có hiệu quả nhất. Hiệu phó và tổ trưởng chuyên môn cần phát
huy vai trò trách nhiệm là cùng với các giáo viên dạy chuyên đề đó soạn bài và trao
đổi về bài dạy trước khi giáo viên giảng, trực tiếp chỉ đạo giáo viên rút kinh nghiệm
sau mỗi tiết dạy chuyên đề.
Khác với cách làm trước đây, các giáo viên hầu như chỉ dự giờ nhân các đợt
như hội giảng cấp tổ, cấp trường, các chuyên đề. Do đó việc rút kinh nghiệm cho
mỗi tiết dạy rất hạn chế, phần lớn các giáo viên chỉ dự giờ chứ ít rút kinh nghiệm vì
cho rằng tiết dự chuyên đề, hay hội giảng, nể nang. Cũng chính vì những lí do trên
công tác dự giờ của giáo viên cũng kém hiệu quả, giáo viên chưa thực sự tự giác
trong trao đổi với đồng nghiệp, các ý kiến đóng góp chỉ tập chung vào cán bộ chỉ
đạo như tổ trưởng, tổ phó hay hiệu trưởng, hiệu phó. Chính vì những lí do đó Phó

quản lí. Trong việc quản lí chuyên môn, kiểm tra đánh hoạt động dạy của giáo viên
hết sức quan trọng, nó giúp cho quản lí đánh giá đúng thực trạng hoạt động của đội
ngũ giáo viên trong nhà trường, kịp thời đề ra các biện pháp phù hợp để nâng cao
chất lượng dạy học trong nhà trường.
Để công tác kiểm tra có hiệu quả, Hiệu trưởng cần xây dựng kế hoạch kiểm
tra, mục đích của việc kiểm tra, thời gian kiểm tra cụ thể, phân công nhiệm vụ cho
từng bộ phận được ủy quyền kiểm tra cùng trực tiếp tham gia kiểm tra. Phó hiệu
trưởng xây dựng kế hoạch kiểm tra chuyên môn khi được hiệu trưởng ủy quyền,
cùng với hiệu trưởng kiểm tra chuyên môn giáo viên, rút kinh nghiệm với giáo viên
được kiểm tra. Các thành viên khác ( tổ trưởng, tổ phó chuyên môn, giáo viên cốt
cán) thực hiện nhiệm vụ kiểm tra do nhà trường ủy quyền, góp ý với giáo viên
được được kiểm tra, báo cáo kết quả với Ban giám hiệu kết quả kiểm tra.
Thời gian kiểm tra: Kiểm tra thường xuyên, định kì.
Hình thức kiểm tra: Đột xuất, báo trước, kiểm tra trực tiếp, gián tiếp, kiểm tra
chuyên đề, kiểm tra toàn diện.
Nội dung kiểm tra: + Kiểm tra công tác soạn giảng của giáo viên
+ Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch dạy trên lóp
+ Kiểm tra công tác đánh giá xếp loại học sinh
+ Kiểm tra việc sử dụng đồ dùng, thiết bị trên lớp
14


+ Kiểm tra các nề nếp, hoạt động của lớp và công tác chủ
nhiệm, công tác bồi dưỡng- phụ đạo học sinh, công tác tự học, tự bồi dưỡng của
giáo viên thông qua hồ sơ
Các yêu cầu khi kiểm tra: Khi kiểm tra cần xác định rõ và cho giáo viên thấy
được mục đích kiểm tra là giúp đỡ, tìm ra những mặt mạnh của giáo viên để phát
huy và những thiếu sót cần khắc phục sửa chữa. Không gây tâm lí lo sợ, chống đối
cho giáo viên. Khi kiểm tra chuyên môn cần chú ý:
+ Khi kiểm tra phải dựa vào các quy định, quy tắc, chế độ, các chỉ tiêu kế hoạch

niềm vui trong từng giờ học trên lớp. Để có những giờ học vui, hấp dẫn, thú vị thì
tình yêu trẻ, kiến thức lí thuyết vững thôi chưa đủ mà còn đòi hỏi ở mỗi giáo viên
tiểu học khả năng nghiệp vụ sư phạm tốt. Vì thế, cần nâng cao hơn nữa việc rèn
luyện các kĩ năng nghiệp vụ sư phạm đối với mỗi giáo viên tiểu học trong thời đại
15


hiện nay. Các kĩ năng ấy là: Kĩ năng nói; Kĩ năng đặt câu hỏi; Kĩ năng tạo và xử lí
tình huống; Kĩ năng trình bày bảng; Kĩ năng sử dụng đồ dùng trực quan; Kĩ năng
tương tác, giao lưu với học sinh; Kĩ năng phối hợp các hình thức, phương pháp dạy
học tập trung vào người học. Đặc biệt hiện nay Bộ GD&ĐT đã thay đổi và trú
trọng đến cách đánh giá học sinh, chính vì vậy, mỗi giáo viên phải tích cực học tập
và rèn luyện cho mình kĩ năng đánh giá phù hợp và có hiệu quả cao. Bời vì: Đây là
kĩ năng phản hồi. Nhiều giáo viên coi nhẹ việc đánh giá. Họ chỉ dừng lại ở việc
phán xét đúng – sai, tốt – chưa tốt. Quan niệm đó là sai lầm. Ở bậc tiểu học, việc
đánh giá có ý nghĩa giáo dục rất lớn. Học sinh tiểu học với khả năng phân tích sự
việc, nắm bắt bản chất vấn đề chưa thật thấu đáo thì mỗi lời nhận xét từ phía giáo
viên, bạn bè đều có những tác động nhất định đến các em. Các em rất sợ bị chê, bị
mắc lỗi, bị phê bình bị chụp mũ. Bị chê nhiều, phê bình nhiều khiến các em mất tự
tin, từ đó ngại phát biểu, ngại thể hiện mình. Các em thích được khen, được cổ vũ.
Do đó, giáo viên cần dành nhiều lời khen ngợi khi các em làm đúng, làm tốt, tránh
nói thẳng, phê bình thẳng khi các em làm sai. Thay vào đó là những lời động viên,
khuyến khích để các em có động lực cố gắng cho những lần sau, tạo cho các em
mong muốn được làm lại, làm tốt hơn. Giáo viên nên tìm cách nói giảm, nói tránh
khi các em làm chưa đúng để các em không có cảm giác nặng nề hoặc tự ti với bạn
bè. Cần đưa ra lời nhận xét và đưa ra được lời tư vấn cho học sinh để các em hiểu
sửa được lỗi mình đang mắc. Như vậy, công tác giảng dạy của giáo viên sẽ có hiệu
quả cao hơn. Đây cũng là biện pháp mới tôi áp dụng để nâng cao chất lượng giảng
dạy đối với giáo viên. Vì thông qua hoạt động đánh giá học sinh của giáo viên hiệu
quả, có nghĩa là giáo viên đã nắm được đối tượng học sinh, đánh giá đúng, giáo

Thường xuyên củng cố, đầu tư trang thiết bị dạy và học cần thiết như: Tài liệu
tham khảo, tranh ảnh, đồ dùng dạy học, mô hình, máy chiêu…
Phối hợp chặt chẽ với công đoàn để chăm lo đời sống cả về vật chất và tình thần
cho đội ngũ giáo viên. Thực hiện nghiêm túc và chu đáo các chế độ chính sách về
lao động, chế độ nghỉ phép, nghỉ hè, nghỉ chế độ hưu, thai sản…
Phối hợp với các trường kết nghĩa tổ chức các buổi giao lưu để cho giáo viên có
cơ hội giao lưu, trao đổi, học hỏi chuyên môn.
Trong thời gian áp dụng những giải pháp trên tôi nhận thấy đội ngũ giáo viên rất
tích cực trong công tác chuyên môn, phấn khởi, đoàn kết, không khí thi đua sôi nổi,
tích cực, số giáo viên có sáng kiến kinh nghiệm cấp cơ sở ngày càng tăng, giáo viên
cấp huyện, cấp tỉnh luôn cao hơn so với những năm trước.
Tóm lại: Những giải pháp để nâng cao năng lực chất lượng giảng dạy mà tôi đã
trình bày ở trên có những biện pháp kế thừa những giải pháp đã áp dụng trước đó.
Tuy nhiên tôi đã đổi mới khi áp dụng các biện pháp đó để tạo nên điểm khác biệt,
đó là: Đổi mới công tác tổ chức dự giờ thăm lớp của giáo viên, đổi mới công tác
triển khai chuyên đề và công tác kiểm tra. Đổi mới công tác đánh giá xếp loại học
sinh.
2.Khả năng áp dụng
Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy cho đội ngũ giáo viên tiểu học tôi
trình bày ở trên đã được áp dụng tại trường Tiểu học số 1 Lâm Giang, đang áp dựng
thực hiện tại trường Tiểu học Lâm Giang và có khả năng áp dụng đối với các
trường tiểu học trong địa bàn huyện Văn Yên.
3. Phạm vi áp dụng.
Với năng lực chuyên môn, trình độ lí luận chính trị, kĩ năng quản lí còn hạn chế,
vì vậy những biện pháp về nâng cao chất lượng giảng dạy cho đội ngũ giáo viên
tiểu học mà tôi đã trình bày chỉ có thể áp dụng được trong phạm vi ngành giáo dục
và đối với hệ thống trường tiểu học trong địa bàn huyện Văn Yên.
4. Hiệu quả.
Qua thực tế áp dụng những giải pháp này từ năm học 2014- 2015, 2015- 2016
tại trường Tiểu học số 1 Lâm Giang, đúc rút kinh nghiệm từ những kết quả thu


1.6

4

HT

PC
CHT

Đ

NL


Trường

Huyện

8

6/17

2(CN)

Chất lượng học sinh cuối năm
Môn học

GVG



2015-2016

196/196

196/196

196/196

5(1Nhất-4Ba)

12

5/13

33/38

8/38

2016-2017
(T12/2016)

1/38

Từ bảng số liệu trên, ta có thể khẳng định rằng, những biện pháp áp dụng nhằm
nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên mà tôi đang áp dụng đã đem lại những
kết quả đáng kể. Đến thời điểm hiện tại, chất lượng đào tạo của giáo viên cao hơn
rất nhiều từ điểm xuất phát khi tôi mới nhận nhiệm vụ tại đơn vị trường. Số lượng
giáo viên giỏi cấp huyện tăng lên trong các kì hội giảng, năm đầu tiên có giáo viên
đăng kí, tham gia và đạt giáo viên giỏi cấp tỉnh. Chất lượng học sinh, nhất là chất

trong nhà trường, là yếu tố quyết định trong việc nâng cao chất lượng dạy và học để
từ đó giáo viên phát huy vai trò tích cực của mình, có ý thức tự học, từ rèn luyện
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng
yêu cầu trong công cuộc đổi mới.
- Thường xuyên tạo điều kiện về cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị dạy học, tài
liệu tham khảo…để giúp giáo viên thuận lợi trong việc nghiên cứu, học tập, bồi
dưỡng kiến thức.
2, Kiến nghị:
+ Chuyên môn Phòng giáo dục cần tổ chức nhiều hơn nữa các chuyên đề
chuyên môn theo cụm cho nhiều giáo viên được tham gia trực tiếp.
Trên đây là biện pháp: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tôi triển khai, áp
dụng tại đơn vị trường Tiểu học số 1 Lâm Giang và hiện đang tiếp tục triển khai áp
dụng tại trường TH Lâm Giang sau khi sáp nhập. Kính mong Hội đồng khoa học
cấp cơ sở xem xét, công nhận sáng kiến kinh nghiệm, biện pháp cấp cơ sở. Tôi xin
trân thành cảm ơn.
Lâm Giang, ngày 25 tháng 12 năm 2016
Xác nhận của nhà trường
Người viết

Phạm Thị Thu

19


MỤC LỤC

Nội dung

STT


Cơ sở khoa học- cơ sở pháp lí

1
1
3
3
4

II

Chương II: Nội dung

6

1
2
2.1
2.2
2.3
2.4

Thực trạng
Nội dung
Giải quyết vấn đê
Khả năng áp dụng
Phạm vi áp dụng
Hiệu quả

6
8

.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.........

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status