Các giải pháp giảm tình trạng trẻ em người đồng bào dân tộc thiểu số bỏ học tại khu vực nông thôn thành phố pleiku, tỉnh gia lai - Pdf 51

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, nhân loại đang bước vào thời đại kinh tế tri thức, cuộc cách
mạng về khoa học công nghệ đang phát triển với tốc độ nhanh; với xu thế đó,
là cơ hội lớn để chúng ta thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
bằng cách vận dụng sáng tạo tri thức và công nghệ hiện đại của thế giới, đồng
thời phát huy nội lực, sử dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế và vốn con
người; đẩy nhanh tốc độ phát triển tri thức với công nghệ cao để tránh khỏi
nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế. Bên cạnh những cơ hội là những thách thức
lớn cần vượt qua, đó là nước ta vẫn nằm trong các nước nghèo, trình độ học
vấn, thu nhập của người dân còn thấp, nguồn nhân lực chưa tương xứng với
yêu cầu của phát triển khoa học công nghệ và hội nhập, sức cạnh tranh của
nền kinh tế còn thấp…
Yếu tố con người có vai trò quyết định đến sự phát triển của xã hội;
trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng
đến nhân tố con người, xác định con người vừa là mục tiêu vừa là động lực
của sự phát triển kinh tế - xã hội. Đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát
triển thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, việc giáo dục con người có
thể chất có trình độ càng trở nên quan trọng.
Chính vì lẽ đó mà đầu tư cho sự nghiệp Giáo dục đã được Đảng ta đặt
vào quốc sách hàng đầu. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra mục tiêu
phát triển giáo dục trong những năm tới là “đào tạo con người Việt Nam phát
triển toàn diện, có đạo đức có tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp;
trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hình thành và
bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [3, 120]




3

tuổi thiếu niên, nhất là đối với học sinh đồng bào dân tộc thiểu số ở các vùng
sâu, vùng xa, vùng điều kiện kinh tế còn khó khăn.
Nếu không có những giải pháp tích cực thì tình trạng mù chữ và tái mù
chữ ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc sẽ còn nhiều. Theo đó nguồn nhân lực
ở đây thiếu nghiêm trọng ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế-xã hội. Vì thế
nhiệm vụ đặt ra hiện nay là cần phải đưa ra nhiều giải pháp đồng bộ mang
tính chiến lược; trong đó việc nâng cao nhận thức của người dân và các lực
lượng xã hội, đầu tư cơ sở vật chất trường học và chính sách hỗ trợ cho giáo
viên, học sinh là những vấn đề phải được quan tâm.
Thành phố Pleiku là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh Gia
Lai, nhưng tình trạng học sinh người đồng bào dân tộc thiểu số ở những vùng
nông thôn, vùng khó khăn bỏ học là đáng quan tâm.
Từ những vấn đề trên em xin chọn đề tài: Các giải pháp giảm tình trạng
trẻ em người đồng bào dân tộc thiểu số bỏ học tại khu vực nông thôn thành
phố Pleku, Gia Lai; Với đề tài này, mong muốn được góp phần phát triển giáo
dục ở các vùng khó khăn thuộc thành phố Pleiku trong giai đoạn tiếp theo.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn để hình thành khung nội dung nghiên
cứu tình trạng trẻ em bỏ học ở các vùng nông thôn thành phố Pleiku, xác định
các nguyên nhân của tình trạng này, từ đó đề xuất những giải pháp giảm tình
trạng bỏ học của trẻ em trong thời gian tới.
3. Đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Là các giáo viên, học sinh và phụ huynh học
sinh ở các trường học vùng ven thành phố Pleiku, trường học có học sinh dân
tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao, và một số khách thể khác tham gia quản lý công
tác giáo dục ở địa phương.


5

- Cách tiếp cận:
+ Tiếp cận vĩ mô: Phân tích chính sách phát triển giáo dục của Đảng và
nhà nước;
+ Cách tiếp cận thức chứng: Điều tra tìm hiểu nguyên nhân Tại sao tình
trạng trẻ em người đồng bào thiểu số bỏ học như vậy?
+ Tiếp cận hệ thống: Phân tích mối tương quan giữa phát triển kinh tế
và phát triển giáo dục và mối quan hệ giữa trình độ giáo dục và thu nhập
6. Điểm mới của đề tài
Vận dụng lý luận Kinh tế phát triển về giáo dục vào thực tiễn giải quyết
vấn đề trẻ em người đồng bào dân tộc thiểu số bỏ học;
Đây là lần đầu tiên một nghiên cứu có hệ thống về chủ đề này được
thực hiện ở thành phố Pleiku;
Các giải pháp được kiến nghị dựa trên tính đặc thù của địa phương sẽ
hứa hẹn có hữu ích cho hoạch định chính sách phát triển giáo dục.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, mục
lục, luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1. Những vấn đề chung vể giảm tình trạng trẻ em người đồng
bào dân tộc thiểu số bỏ học
Chương 2. Thực trạng tình hình bỏ học của trẻ em người người đồng
bào dân tộc thiểu số tại khu vực nông thôn thành phố Pleiku
Chương 3. Phương hướng và giải pháp cải thiện tình trạng bỏ học của
trẻ em người đồng bào dân tộc thiểu số khu vực nông thôn thành phố Pleiku


6

Chương 1

trước. Ba là, đó là quá trình chuẩn bị con người tham gia đời sống xã hội (với
những yêu cầu cụ thể của mỗi giai đoạn lịch sử), tham gia các lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội mà lĩnh vực chủ yếu là lao động sản xuất. Bốn là,
quá trình đó được tiến hành bằng nhiều con đường, nhiều phương tiện, nhiều
biện pháp khác nhau, song tất cả đều phải nhằm tổ chức người dạy, người học
truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm đã tổng kết được trong lịch sử xã
hội loài người. [11, 199]
Hoạt động giáo dục giúp cho con người ta tăng được vốn con người và
với vốn đó họ có thể tiếp cận với các cơ hội việc làm có thu nhập để phát
triển. Tuy nhiên quá trình này xét dưới góc độ kinh tế sẽ phải có chi phí nhất
định để lợi ích thu được là vốn con người và những gì vốn này đem tới. Dưới
góc độ xã hội những chi phí cho phát triển giáo dục đào tạo nhất là giáo dục
phổ thông thấp hơn nhiều so với lợi ích xã hội nhận được [12, 144]. Các công
trình nghiên cứu ở các nước đang phát triển đều chứng minh điều này và
nhiều kết luận đã được rút ra trong đó đáng quan tâm nhất là kết luận cho rằng
giáo dục cho trẻ em con các hộ gia đình nghèo và nhóm yếu thế sẽ là cách xóa
đói giảm nghèo bền vững nhất có thể.
Trong nhiều năm, định đề cho rằng sự mở rộng giáo dục đã thúc đẩy
hoặc thậm chí quyết định tốc độ tăng trưởng (GNP) đã được coi là hiển nhiên
[31, 106]. Các nước chậm phát triển đã rất thiếu những nguồn nhân lực có kỹ

năng bậc trung bình và bậc cao. Và người ta cho rằng chỉ có thể tạo ra được
nhờ hệ thống giáo dục chính quy. Khi thiếu nguồn nhân lực này thì sẽ thiếu sự
lãnh đạo để phát triển trong cả hai khu vực nhà nước và tư nhân. Khi không
có những sự lãnh đạo, như vậy để lập kế hoạch, quản lý và điều hành nền kinh
tế, sự tăng trưởng có thể bị chậm lại. Những con số thống kê và vô số những
công trình nghiên cứu về “nguồn tăng trưởng kinh tế” ở các nước phương Tây
đã chỉ ra rằng, không phải sự tăng trưởng của vốn hiện vật mà là sự tăng





9

yếu tố đó. Chính vì vậy, chiến lược về con người được Đảng ta xác định là
trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Đại hội VI đã đặt ra
những đòi hỏi bức xúc đối với sự nghiệp hình thành và phát triển con người nhân tố quyết định sự thành công của quá trình đổi mới. Đại hội lần thứ VII
của Đảng đã xác định: “Đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục và đào tạo,
khoa học và công nghệ, coi đó là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con
người, động lực trực tiếp của sự phát triển. Hội nghị Trung ương 2 khó VIII
đã có nghị quyết về “ Định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong
thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá”. Mục tiêu đến năm 2020, đất nước ta
vượt qua nguy cơ tụt hậu để trở thành một nước công nghiệp phụ thuộc rất
lớn vào sự phát triển của giáo dục.
Do những lẽ đó mà việc giải quyết tình trạng trẻ em người đồng bào
dân tộc thiểu số nói chung và Tây Nguyên nói riêng bỏ học là rất cần thiết.
Đây sẽ là cách thức để xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế bền vững cho
khu vực này.
1.1.2. Các đặc điểm của người đồng bào dân tộc thiểu số bỏ học
* Về Kinh tế
Hoạt động kinh tế của đồng bào đa dạng và có nhiều loại hình khác
nhau nhưng không khác nhau nhiều giữa các dân tộc. Các hoạt động kinh tế ở
đây mang tính chất của sản xuất truyền thống chủ yếu tự cấp, tự túc, sản xuất
dựa vào khai thác thiên nhiên, mức đầu tư thấp cả về kỹ thuật cũng như sự
chăm sóc của người dân, do vậy năng suất rất thấp và ít chú ý đến bảo vệ tài
nguyên. Do vậy đã đẩy nhanh quá trình xói mòn, rửa trôi và thoái hoá
đất. Các hoạt động kinh tế chủ yếu là: Trồng trọt, chăn nuôi và các hoạt động
phi nông nghiệp như khai thác lâm sản, dệt,... Phương thức chủ yếu là canh
tác nương rẫy với các hoạt động phát, đốt cốt, trỉa và các công cụ sản xuất thô
sơ, hoặc thả rông (với chăn nuôi gia súc). Người dân hầu như không có khái



11

* Đặc điểm về xã hội
Hoạt động kinh tế dựa vào khai thác tự nhiên và theo kinh nghiệm nên
thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số thấp hơn đáng kể so với người kinh
cũng như mặt bằng chung. Ví dụ thu nhập bình quân 1 nhân khẩu trong năm
2006 của đồng bào ở Tây Nguyên theo số liệu điều tra mức sống 2006 của
Tổng cục Thống kê chỉ khoảng gần 2 triệu đồng [27]. Tỷ lệ nghèo đói ở Tây
Nguyên cao vào loại nhất cả nước trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu
số đặc biệt là các địa phương vùng sâu và vùng xa.
Điều kiện sống thấp hơn khi thiếu thốn nhiều cho dù đã được cải thiện
nhiều nhờ các chương trình như 135 và 134 của Chính phủ.
Trình độ học vấn của đồng bào phần lớn rất thấp so với người kinh.
Theo số liệu điều tra mức sống 2006 của Tổng cục Thống kê ở Tây Nguyên,
số năm đi học trung bình của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) chỉ là gần 3
năm trong khi người kinh là 7.5 năm. Tỷ lệ thất học của đồng bào cũng cao
hơn so với người kinh, cũng số liệu này cho thấy con số này gần 35% [27].
Phần lớn lao động người đồng bào không được đào tạo và làm việc thủ công
là chính.
Các hộ Đồng bào DTTS thường có quy mô lớn hơn trung bình của cả
nước vì đông con và tỷ lệ sinh cao. Điều kiện chăm sóc sức khỏe kém dẫn tới
tình trạng trẻ em dưới 5 tuổi chết cao khiến tuổi thọ trung bình của Đồng bào
DTTS thấp. Ngoài ra tỷ lệ trẻ em và phụ nữ suy dinh dưỡng thuộc nhóm
đồng bào dân tộc thiểu số cũng cao hơn so với trung bình.
Nhiều tập tục văn hóa của đồng bào vẫn được duy trì trong cộng đồng
và được chính quyền tạo điều kiện. Ảnh hưởng của các già làng trưởng bản là
rất lớn trong cộng đồng. Đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc
thiểu số vùng sâu, vùng xa thực chất còn rất nhiều hạn chế, càng ở xa càng

phi kinh tế.


13

1.2.2. Nội dung giảm tình trạng bỏ học của trẻ em người đồng bào
dân tộc thiểu số
Các hoạt động nhằm giảm tình trạng trẻ em người đồng bào dân tộc
thiểu số bỏ học sẽ bao gồm nhiều nội dung khác nhau như:
Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ
cập trung học cơ sở
Triển khai Luật giáo dục, xây dựng xã hội học tập là công việc mà
ngành Giáo dục và các địa phương đang ra sức thực hiện; việc triển khai
chương trình phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và THCS ở các vùng
đồng bào dân tộc thiểu số là hết sức khó khăn vất vã. Để làm được công tác
phổ cập giáo dục ở các vùng này, các tổ chức, đoàn thể phải ra sức tuyên
truyền sâu rộng, thường xuyên, liên tục nhằm huy động học sinh đến trường
và hạn chế tối đa tình trạng học sinh người đồng bào DTTS bỏ học. Để duy trì
kết quả phổ cập cần phải tiếp tục tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức
cho nhân dân về chủ trương, mục tiêu quốc gia về PCGD để đồng bào DTTS
thấy được vai trò của tri thức trong đời sống xã hội.
Đối với phổ cập giáo dục tiểu học, đây là chương trình bắt buộc phải
thực hiện mà theo đó yêu cầu chính quyền, ngành giáo dục và gia đình phải
bảo đảm điều kiện để trẻ em đúng 6 tuổi được vào lớp một, bắt đầu cho tiếp
nhận nền giáo dục phổ thông của Việt Nam và được bảo đảm để trẻ có thể tốt
nghiệp tiểu học. Nghĩa là nguồn lực và điều kiện học tập cho trẻ em được nhà
nước bảo đảm và giáo dục tiểu học không mất tiền nhưng bắt buộc phải thực
hiện.
Mục tiêu phổ cập giáo dục THCS được nêu tại Nghị quyết 41/2000/NQ
QH10 ngày 12/9/2000; theo đó phải đảm bảo hầu hết thanh thiếu niên sau khi

hợp với thực tế thay đổi của biến động dân số và tình hình kinh tế xã hội. Việc
phân bố này nếu không phù hợp với những thay đổi và không được tính toán
đầy đủ trong quy hoạch sẽ phát sinh ra nhiều vấn đề và ảnh hưởng tới việc


15

cung cấp dịch vụ công này và sẽ khiến một bộ phận trẻ em không có điều kiện
đến trường phải bỏ học.
Một trong những vấn đề của hệ thống giáo dục ở các nước đang phát
triển hiện nay là mạng lưới giáo dục không đạt được hiệu năng của nó.
Nguyên nhân chính là phân bố mạng lưới cơ sở giáo dục nhất là ở những
vùng sâu vùng xa nơi hạ tầng khó khăn. Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói
riêng, dù địa phương đã có nhiều cố gắng nhưng phân bố mạng lưới giáo dục
trong những năm qua vẫn có những vấn đề.
Đánh giá chung về mạng lưới giáo dục và cơ sở giáo dục ở các vùng
nông thôn, vùng xa, vùng đồng bào DTTS là còn nhiều thiếu thốn là lạc hậu,
điều kiện đảm bảo phát triển giáo dục còn nhiều bất cập. Việc đầu tư cho các
xã miền núi không thuộc diện được hưởng Chương trình 135 rất hạn chế nên
giáo dục ở các xã này phát triển chậm. Số trẻ em người đồng bào DTTS được
học mẫu giáo 5 tuổi chiếm tỷ lệ thấp, tỷ lệ trẻ em ở 2 cấp TH và THCS bỏ học
nữa chừng ở mức cao. Nguồn ngân sách hạn hẹp của địa phương còn giàn
trải, manh mún không đủ nhu cầu phát triển đột phá giáo dục ở các vùng này.
Mục tiêu xây dựng trường học thân thiện là tạo nên một môi trường giáo dục
(cả về vật chất lẫn tinh thần) an toàn, bình đẳng, tạo hứng thú cho học sinh
trong học tập, đảm bảo quyền được đi học và học hết cấp của học sinh, giảm
tỷ lệ học sinh nghèo, học sinh người đồng bào DTTS bỏ học [19].
Vì vậy việc mở rộng mạng lưới bao phủ và nâng cấp cơ sở giáo dục
này sẽ cho phép cung cấp tốt nhất cơ sở hạ tầng cần thiết để triển khai các
dịch vụ giáo dục cho trẻ em góp phần cải thiện tình trạng trẻ em bỏ học.

Muốn cải thiện tình trạng trẻ em người đồng bào dân tộc thiểu số bỏ
học thì bảo đảm số lượng và chất lượng giáo viên cho các trường và phân bổ
hợp lý mới có thể thực hiện được đồng thời phải có chính sách và biện pháp
hỗ trợ cho giáo viên cả vật chất tinh thần để họ yên tâm công tác.


17

Đẩy mạnh tuyên truyền vận động và nâng cao nhận thức của cha mẹ
học sinh
Bài học từ thực tế đã chỉ ra chính nhận thức vai trò và tầm quan trọng
của giáo dục với tương lai của trẻ không phải tất cả các bậc làm cha mẹ đều
đều hiểu rõ. Chính điều này khiến nhiều bậc cha mẹ mà thường rơi vào những
người nghèo học vấn thấp ở nông thôn vùng sâu vùng xa đã không quan tâm
tới việc học hành của con cái. Họ không hiểu giáo dục sẽ giúp cho trẻ có khả
năng để tiếp cận cơ hội việc làm và thu nhập cao trong tương lai và là cách
giúp chúng thoát khỏi nghèo khó.
Thực tế cho thấy những vùng có điều kiện KT-XH khó khăn, trình độ
dân trí thấp và tỷ lệ hộ nghèo cao là những vùng có nhiều học sinh bỏ học.
Các bậc cha mẹ học sinh là những người lao động nghèo, trình độ học vấn
thấp, ít quan tâm đến sự phát triển của xã hội hiện đại, vấn đề con em của họ
bỏ học cũng là lẽ dễ hiểu; nhiều khi do nhận thức quá kém, chính bản thân họ
đã yêu cầu con em của mình bỏ học để bớt gánh nặng gia đình.
Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của nhà nước mà là của toàn xã
hội, mọi người cùng làm giáo dục, nhà nước và xã hội, trung ương và địa
phương cùng làm giáo dục [20, 91]. Các cấp, các ngành, các địa phương cần
xác định lại quan điểm của Đảng, nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục của
dân, do dân, vì dân, hướng tới một xã hội học tập. Vì vậy, xem việc học sinh
bỏ học là trách nhiệm chung của đảng bộ, chính quyền và xã hội; việc học
sinh bỏ học sẽ gây ra hậu quả nặng nề cho xã hội. Các lực lượng xã hội cần

trú, hỗ trợ tiền ăn trưa cho các em để có thể khuyến khích các em tới trường.
Các địa phương cần thường xuyên tổ chức có hiệu quả các phong trào “vì
người nghèo”, “hỗ trợ học sinh nghèo vượt khó”…kịp thời động viên giúp đỡ
các em có động lực học tập.
Nếu nguyên nhân kinh tế là nguyên nhân cơ bản thì chính sách hỗ trợ
về vật chất như gạo tiền và sách vở sẽ giúp cho trẻ có điều kiện vượt qua khó


19

khăn để học hành. Chỉ có như vậy mới bảo đảm thực hiện được mục tiêu cải
thiện tình trạng trẻ em người đồng bào DTTS bỏ học.
1.2.3. Tiêu chí phản ảnh mức giảm tình trạng bỏ học của trẻ em
người đồng bào dân tộc thiểu số
- Số lượng trẻ em vào học các cấp đúng độ tuổi tăng thêm;
- Tỷ lệ trẻ em vào học các cấp đúng độ tuổi tăng thêm;
- Mức giảm tỷ lệ trẻ em bỏ học ngay đầu cấp học (tiểu học và trung học
cơ sở);
- Mức giảm tỷ lệ trẻ em bỏ học trong quá trình học tiểu học;
- Mức giảm tỷ lệ trẻ em bỏ học trong quá trình học trung học cơ sở;
1.3. Điều kiện để cải thiện trình trạng trẻ em người đồng bào dân
tộc thiểu số bỏ học
1.3.1. Điều kiện về kinh tế
Điều kiện về kinh tế bao gồm điều kiện kinh tế của địa phương và
nguồn tài chính cho hoạt động này cũng như cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội ở
đây. Điều kiện kinh tế tốt dựa trên cở sở trình độ phát triển kinh tế cao, tạo
cho địa phương có cơ sở kinh tế để phát triển giáo dục nói chung và cải thiện
tình trạng thất học của dân chúng. Chính điều kiện này cũng cho phép địa
phương huy động nguồn tài chính từ chính mình thay vì tìm tài trợ từ bên
ngoài. Thiếu các điều kiện kinh tế này sẽ rất khó khăn cho việc thực hiện các

sinh động làm các em không hứng thú trong học tập. Thực tế trong những
năm qua, kinh phí đầu tư xây dựng cơ sơ vật chất cho ngành giáo dục là
không nhiều, cơ cấu chi ngân sách giáo dục chưa hợp lý, chưa tập trung cao
cho những mục tiêu ưu tiên, chưa quan tâm đúng mức đến các địa phương
khó khăn. Đầu tư của nhà nước cho giáo dục chủ yếu là chi lương, phần chi
cho hoạt động chuyên môn là không đáng kể.


21

Nội dung, phương pháp giáo dục từ mầm non đến phổ thông đã được
đổi mới nhưng còn bộc lộ nhiều hạn chế; sự liên thông giữa các cấp chưa
được đảm bảo, từ mầm non lên lớp 1 còn bỡ ngỡ, thiết sự chuẩn bị để chuyển
qua một chương trình mới. Phương pháp dạy học ở phổ thông vẫn theo lối
truyền thụ một chiều, đòi hỏi học sinh phải ghi nhớ máy móc, không phát huy
được tư duy phê phán, tư duy sáng tạo và tinh thần tự học ở các em.
Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa đáp ứng được yêu
cầu nâng cao chất lượng. Công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cho đội ngũ nhà giáo còn thiếu hiệu quả. Ở các vùng đồng bào dân
tộc thiểu số, vùng khó khăn số lượng giáo viên là người địa phương rất ít, chủ
yếu là ở các nơi khác đến, nên chưa yên tâm công tác, chưa hiểu được văn
hoá và đặc điểm của người địa phương, nên để tâm huyết với nghề đạt được
hiệu quả trong công tác là rất khó. Mặt khác, Các chế độ chính sách đối với
nhà giáo chưa thỏa đáng, chưa tạo được động lực lao động sáng tạo của người
làm công tác giáo dục.
Sự phát triển quy mô giáo dục ở các cấp học, trình độ trong những năm
qua đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân. Tuy nhiên, chất lượng
giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển và so với trình độ của các nước
tiên tiến trong khu vực, chưa giải quyết được mâu thuẫn giữa phát triển số
lượng với nâng cao chất lượng. Thực tế học sinh tiếp thu kiến thức tốt thì

- Chương trình giáo dục không thiết thực, ít phù hợp, đơn điệu, nghèo
nàn, nhàm chán, không hấp dẫn
- Chất lượng dạy học và phương pháp giảng dạy thiếu sự hấp dẫn, sự
thuyết phục và tính sáng tạo để gây hứng thú học tập với học sinh
- Mối quan hệ thầy trò ít thân mật, học trò kém chủ động và thiếu tự tin


23

- Thiếu cơ sở vật chất, thiết bị dạy học thiếu thốn
- Ngôn ngữ sử dụng trong dạy và học không phù hợp (với nhóm dân
tộc ít người)
1.4.3. Nhóm nguyên nhân từ phía xã hội và cộng đồng
Việc học tập của trẻ em phụ thuộc vào môi trường xã hội của địa
phương rất lớn. Giáo dục phổ thông là dịch vụ công những kết quả của nó
chịu ảnh hưởng của môi trường xã hội và gia đình. Thiếu môi trường hỗ trợ
và sự khích lệ từ cộng đồng cho nhóm trẻ đặc biệt và chịu nhiều thiệt thòi,
nhận thức tầm quan trọng của giáo dục với tương lai của trẻ em còn thấp.
Hầu hết trẻ em đã có nhóm bạn, thường là cùng lứa tuổi, cùng mối quan
tâm và quan điểm xã hội. Đây là bối cảnh khác với gia đình, trường học khi
mà trẻ có thể tham gia các hoạt động không hoặc ít có sự giám sát trực tiếp
của người lớn. Trong nhóm bạn, vai trò độc lập của cá nhân góp phần hình
thành các kinh nghiệm trong quan hệ xã hội cũng như ý thức về bản thân khác
với những gì có trong gia đình. Nhóm bạn cũng tạo cơ hội cho các thành viên
chia sẻ, thảo luận về các mối quan tâm mà trong đó có những cái thường
không làm được điều tương tự đối với cha mẹ hay các thầy cô giáo. Vai trò
của nhóm bạn quan trọng nhất là ở lứa tuổi thiếu niên và thanh niên, đặc biệt
là khi các thành viên sống xa gia đình. Mâu thuẫn này được tạo ra do sự khác
biệt về thế hệ trong khi các mẫu văn hoá luôn thay đổi, hoặc do mối quan tâm
của gia đình thường có tính chất định hướng, mục tiêu dài hạn trong khi nhóm

thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam, đáp ứng được những yêu
cầu về nguồn lực lao động có chất lượng cao trong sự nghiệp CNH - HĐH đất
nước
Vai trò của các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức xã hội tham gia phát triển
sự nghiệp giáo dục chưa được phát huy đúng mức, công tác xã hội hoá giáo


25

dục còn lung túng, thiếu cơ chế phối hợp, dẫn đến việc huy động trẻ em bỏ
học đi học lại còn nhiều khó khăn, bất cập
- Khoảng cách đến trường xa và điều kiện đi lại khó khăn khi đến
trường.
1.4.4. Nhóm nguyên nhân xuất phát từ bản thân trẻ
- Xấu hổ với bạn bè và thầy cô vì các vấn đề của bản thân hoặc gia đình
- Không có thời gian dành cho học tập (do bản thân phải phụ giúp gia
đình hoặc bị tác động xấu từ bạn bè, môi trường)
- Thiếu kỷ luật, không đủ kiên nhẫn theo học
- Cảm thấy việc học quá buồn tẻ
- Học đuối so với bạn, kết quả học tập kém
- Sức khoẻ kém, bệnh tật hoặc khuyết tật.
1.5. Cải thiện tình hình bỏ học của trẻ em ở một số địa phương.
Năm học 2008-2009, theo tổng hợp của Bộ giáo dục, tổng số học sinh
phổ thông bỏ học là 147.005/15.710.060 học sinh, chiếm 0,94%; trong đó học
sinh cấp TH bỏ học là 19.217/6.863.205 học sinh, chiếm 0,28%; học sinh
THCS bỏ học là 66.205/5.794.236 học sinh, chiếm 1,14%; học sinh THPT bỏ
học là 61.583/3.052.620 học sinh, chiếm 2,02%; càng lên cao thì số lượng học
sinh bỏ học càng nhiều. Học sinh bỏ học chủ yếu ở những vùng có điều kiện
kinh tế khó khăn, vùng dân tộc thiểu số [19, 2].
Theo số liệu báo cáo về tỷ lệ học sinh bỏ học đầu năm học 2008 - 2009


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status