BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
– THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
NGUYỄN MẠNH ĐỨC
HÀ NỘI - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp Việt Nam
– Thực trạng và giải pháp
Ngành: Quản trị Kinh doanh
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
Mã số: 60.34.01.02
Họ và tên: Nguyễn Mạnh Đức
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS HOÀNG VĂN CHÂU
Hà Nội - 2018
Hoàng Văn Châu, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu và hoàn thiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ và
đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi có thể hoàn thiện luận văn này.
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế, luận văn được hoàn thiện
không thể tránh khỏi những sơ suất thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp của các thầy cô giáo cùng các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng
năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Mạnh Đức
iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT.......................................................................v
DANH MỤC BẢNG ................................................................................................ vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ ..................................................................... vii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN ......................................... viii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ TIỀM NĂNG XUẤT KHẨU
LAO ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM......................................8
2.3.3. Bài học cho các doanh nghiệp Việt Nam để cải thiện thực trạng xuất
khẩu lao động ...................................................................................................69
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO
ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM .............................................79
3.1 Triển vọng và mục tiêu của xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp
Việt Nam ..............................................................................................................79
3.1.1. Triển vọng của xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp Việt Nam....79
3.1.2. Mục tiêu của xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp Việt Nam .......83
3.1.3. Thách thức của các doanh nghiệp Việt Nam trong xuất khẩu lao động 85
3.2 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu lao động cho các doanh
nghiệp Việt Nam..................................................................................................87
3.2.1. Nhóm giải pháp đối ngoại ......................................................................87
3.2.2. Nhóm giải pháp đối nội cho các doanh nghiệp XKLĐ ..........................89
3.3 Một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao công tác quản lý và hiệu quả
của hoạt động xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp Việt Nam .............94
3.3.1. Kiến nghị với Chính Phủ ........................................................................94
3.3.2. Kiến nghị với Bộ Lao động và Thương binh Xã hội...............................97
KẾT LUẬN ..............................................................................................................99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................100
PHỤ LỤC ...............................................................................................................103
PHỤ LỤC 1........................................................................................................103
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ý nghĩa
STT
Ký hiệu
7
ILO
Tổ chức lao động quốc tế
8
IM Japan
9
IOM
10
JETRO
Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản
11
JITCO
Cơ quan hợp tác tu nghiệp quốc tế Nhật Bản
12
NKLĐ
TTS
Thực tập sinh
19
USD
Đồng đô la Mỹ
20
XKLĐ
Cộng đồng kinh tế ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Chương trình thực tập kỹ thuật
Cơ quan phát triển nguồn nhân lực Nhật Bản
Tổ chức di cư quốc tế
Tu nghiệp không qua công việc
Tu nghiệp qua công việc
Xuất khẩu lao động
vi
những mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp nói chung và nhà nước nói
riêng. Với mong muốn giúp cho tình hình xuất khẩu lao động của Việt Nam giữ
vững vị thế và tiếp tục phát triển trên thị trường, Tác giả đã chọn “Xuất khẩu lao
động của các doanh nghiệp Việt Nam, thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên
cứu của luận văn.
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý thuyết về xuất khẩu lao động, các hình thức
xuất khẩu lao động và tình hình xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp Việt
Nam trong thời gian vừa qua.
Đề tài đã thực hiện khảo sát, tìm hiểu về tình hình xuất khẩu lao động tại Việt
Nam cũng như tình hình thực hiện hoạt động xuất khẩu lao động và kết quả hoạt
động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam.
Qua quá trình xử lý kết quả và phân tích, đề tài đã rút ra được một số đánh giá về
hoạt động xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp Việt Nam.
Dựa trên những thành công và tồn tại của hoạt động xuất khẩu lao động của các
doanh nghiệp ở Việt Nam, kết hợp với định hướng trong tương lai, đề tài đã đề
xuất những giải pháp thiết thực và kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất
khẩu lao động của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới, tạo ưu thế trên
thị trường trong bối cảnh cảnh các đối thủ cạnh tranh đang ngày càng lớn mạnh.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xuất khẩu lao động (XKLĐ) vừa là một hoạt động mang tính xã hội vừa là một
hoạt động mang tính kinh tế. XKLĐ giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong sự tăng
trưởng, phát triển nền kinh tế cũng như hoạt động đối ngoại của một quốc gia.
Đẩy mạnh XKLĐ là một chủ trương của Đảng và Nhà nước, được coi là một
chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải
thiện đời sống cho một bộ phận lao động, tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.
(2012), OECD Employment Outloook 2012, OECD Publishing; OECD (2013),
OECD Employment Outloook 2013, OECD Publishing; OECD (2014), OECD
Employment Outloook 2014, OECD Publishing: là một chuỗi bài viết tổng hợp
qua các năm trong Báo cáo triển vọng việc làm của OECD (Organization for
Economic Cooperation and Development- Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh
tế). Báo cáo cung cấp số liệu về dân số, lực lượng lao động, việc làm, thất
nghiệp, cơ cấu giới, tình trạng công việc. Các số liệu thống kê bao gồm các quốc
gia là thành viên của OECD và toàn thể liên minh Châu Âu.
IOM (2011), World Migration Report 2011: Communicating Effecitvely about
Mugration, IOM, Switzerland; IOM (2013), World Migration Report 2013:
Migration Well - Being and Development, IOM, Switzerland: là các báo cáo của
IOM (Interrnational Organization for Migration - Tổ chức di cư quốc tế). Nội
dung báo cáo cung cấp số liệu tổng quan về tình hình di cư quốc tế năm 20102011 và năm 2012-2013; phân tích các xu hướng di cư, các chính sách, luật pháp,
hợp tác và đối thoại quốc tế ở cấp độ toàn cầu.
ILO (2013), Global Employment Trends 2013: Recovering from a Second jobs
Dip, ILO, Switzerland: Báo cáo nghiên cứu cuộc khủng hoảng việc làm toàn cầu,
trong đó, tâm điểm là khủng hoảng tại các nước phát triển và ảnh hưởng của nó
tới các quốc gia đang phát triển. Báo cáo đưa ra các chỉ số định lượng và định
tính của thị trường lao động toàn cầu và khu vực, kết hợp phân tích các yếu tố vĩ
mô để đưa ra chính sách phù hợp.
Patrick Belser (2000), Vietnam: On the road to labor - intensive growth?, The
Policy Research Dissemination Center: Nghiên cứu tìm hiểu về quá trình thay đổi
cơ cấu, chất lượng, sự chuyển dịch lao động giữa các ngành, tình hình xuất khẩu
3
lao động nói chung Việt Nam trong giai đoạn 1993-1998. Ngoài ra chương 3 của
Nghiên cứu đi sâu phân tích các quy định liên quan tới người lao động, lương tối
thiểu và lương thực tế, thủ tục cần thiết khi muốn chấm dứt hợp đồng lao động từ
giải pháp - Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế; Nguyễn Phúc Khanh (2004): Xuất
khẩu lao động với chương trình quốc gia về việc làm - Thực trạng và giải pháp Đề tài khoa học cấp Bộ... Các nghiên cứu trên đều chỉ ra khái niệm và đặc điểm
của XKLĐ, làm rõ các vấn đề về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực XKLĐ, từ đó
đưa ra đánh giá, giải pháp để đổi mới quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực này.
GS.TS Đặng Đình Đào (2012): Tổng quan XKLĐ Việt Nam - Bài viết Tạp chí
Kinh tế và Phát triển số 92; Nguyễn Đình Thiện (2000): Một số vấn đề về xuất
khẩu lao động của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Luận văn thạc sĩ kinh tế
chính trị: nêu lên thực trạng của hoạt động XKLĐ của Việt Nam, đưa ra các
thành tựu và hạn chế của hoạt động này. Thông qua đó, các tác giả kiến nghị một
số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động XKLĐ của Việt Nam.
Nguyễn Tiến Dũng (2010), Phát triển xuất khẩu lao động Việt Nam trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Luận án Tiến sĩ: luận án đưa ra cơ sở lý luận của
XKLĐ, nghiên cứu về thực trang XKLĐ nước ta sang một số thị trường như Hàn
Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia...; thông qua đó đánh giá kết quả đạt được
và hạn chế, kiến nghị các giải pháp để phát triển hoạt động XKLĐ của Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Trần Thu Hà (2007): Xuất khẩu lao động sang thị trường Đông Bắc Á - Luận văn
thạc sỹ; ThS Đỗ Thị Ngọc Duy (2009): Phân tích tình hình xuất khẩu lao động
Việt Nam sang một số nước Châu Á giai đoạn 2007 – 2009 - Chuyên đề Kinh tế:
các nghiên cứu ngoài việc chỉ ra cơ sở khoa học của XKLĐ đã đi sâu vào phân
tích thực trạng XKLĐ tại các thị trường cụ thể: Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia,
Đài Loan...., nêu bật các thành tựu và hạn chế trong XKLĐ của Việt Nam, từ đó
đưa ra các giải pháp đẩy mạnh hoạt động này.
TS. Nguyễn Thị Hồng Bích (2007): Xuất khẩu lao động của một số nước Đông
Nam Á kinh nghiệm và bài học - NXB Khoa học xã hội: Nghiên cứu cung cấp
khái niệm chung về XKLĐ, tập trung phân tích tình hình XKLĐ của một số nước
Đông Nam Á, tình hình XKLĐ của Việt Nam và rút ra bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam từ thực tế XKLĐ của các nước Đông Nam Á khác.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn coi hoạt động XKLĐ sang thị trường nước ngoài là bộ phận không thể
tách rời nằm trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam nói chung và nằm trong
tổng thể kinh tể của Việt Nam. Vì vậy, XKLĐ có mối quan hệ mật thiết và tác
động qua lại với các yếu tố khác như thể chế pháp luật, quan hệ kinh tế quốc tế,
công tác đào tạo lao động, công tác tuyên truyền, công tác quản lý, hoạt động của
các doanh nghiệp XKLĐ…. Bên cạnh đó, XKLĐ còn chịu sự điều chỉnh của các
quy định pháp lý liên quan đến lao động của các nước đối tác. Do đó, việc nghiên
cứu phải tính đến các đặc điểm này.
Luận văn sử dụng phương pháp thu thập thông tin thứ cấp. Đây là loại tài liệu có
nguồn gốc từ sơ cấp đã được phân tích, giải thích và thảo luận, diễn giải liên
quan tới XKLĐ nói. Các nguồn tài liệu thứ cấp bao gồm: Sách chuyên khảo, tạp
chí chuyên ngành, đề tài, dự án, luận án tiến sỹ, website,…; Số liệu thống kê
được thu thập từ các cơ quan thống kê trong và ngoài nước; Tài liệu lưu trữ, văn
kiện, văn bản về pháp luật, chính sách,… của các cơ quan quản lý Nhà nước.
Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp phân tích nhằm hệ thống hóa các vấn
đề liên quan tới XKLĐ. Qua đó tác giả đưa ra các nhận định về thực trạng XKLĐ
của Việt nhằm xác định các ưu, nhược điểm và đề ra các giải pháp cho hoạt động
này.
Phương pháp phân tích được sử dụng để làm rõ các lý thuyết về XKLĐ, tạo cơ sở
cho việc đánh giá hoạt động XKLĐ của nước ta. Bên cạnh đó, việc phân tích các
số liệu về XKLĐ của Việt Nam nhằm làm rõ:
- Thực trạng XKLĐ của Việt Nam từ giai đoạn những năm 1980 đến nay
- Thực trạng hoạt động XKLĐ của các doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam.
- Phân tích các điểm đã đạt được và các điểm hạn chế của hoạt động này.
Các kết quả phân tích sẽ được tổng hợp lại để sử dụng làm cơ sở cho việc giải
quyết vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp so sánh
Xuất khẩu lao động (XKLĐ): là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện
việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc
hợp đồng có tính chất hợp pháp quy định sự thống nhất giữa quốc gia đưa và
nhận lao động.
Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (ban
hành ngày 29 tháng 11 năm 2006) định nghĩa Người đi XKLĐ là:” là công dân
Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật
Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước
ngoài theo quy định của Luật này”
Khái niệm của ILO, IMO: Hoạt động XKLĐ là kết quả của sự mất cân bằng giữa
nước tiếp nhận và nước gửi lao động, thường là mất cân đối về kinh tế, về khả
năng cung - cầu lao động, về sự phân bố tài nguyên - địa lý không đồng đều và
sự phụ thuộc vào các chính sách quốc gia. Các yếu tố này đã tạo nên sự di
chuyển hoặc tuyển người lao động từ nước này sang nước khác để bù đắp sự
thiếu hụt và dư thừa lao động giữa các nước và khu vực với nhau.
XKLĐ giữa các quốc gia xuất phát từ nhiều nguyên nhân tuy nhiên mục đích
kinh tế có thể nhận thấy rõ nhất. Các nước XKLĐ thường là những nước kém
phát triển, tỷ lệ thất nghiệp cao, có nguồn lao động dư thừa. Trong khi các nước
phát triển có nền kinh tế tăng trưởng cao, đời sống được cải thiện lại thiếu lao
9
động và có một số công việc thiếu lao động do người dân không muốn làm.
Chính điều này đã làm cho nhu cầu xuất khẩu và nhập khẩu lao động của các
nước nảy sinh, tạo nên cung- cầu trên thị trường lao động thế giới.
Giải thích hiện tượng XKLĐ thông qua mô hình Macdougall- Kemp.
Trước khi tìm hiểu về lý thuyết này chúng ta cùng thống nhất quan điểm XKLĐ
cũng chính là hành vi bán sức lao động của người lao động ra khỏi biên giới của
quốc gia mình. Chính vì vậy, sức lao động lúc này sẽ trở thành một loại hàng hoá
E
N
T
R
C
VMPL2
G
VMPL1
Hình 1.1: Mô hình Macdougall- Kemp về hiện tượng XKLĐ
(Nguồn: Lưu Văn Hưng , 2011)
Giả định thế giới có hai nước I, II (I là nước xuất khẩu lao động, II là nước nhập
khẩu lao động). Tổng số lao động của cả hai nước là OO’. Trong đó cung lao
động của nước I là OA, cung lao động của nước II là O’A. Các đường VMPL1
và VMPL2 biểu diễn giá trị sản phẩm lao động cận biên của nước I và II. Trong
điều kiện cạnh tranh VMPL tượng trưng cho tiền công lao động thực tế. Trước khi
có sự di cư lao động hay XKLĐ, ở nước I mức tiền công là OC và tổng sản phẩm
là OFGA. Giả sử có di cư lao động tự do, do tiền công ở nước II là OH cao hơn
tiền công ở nước I là OC nên lao động sẽ di cư từ nước I sang nước II và chỉ
dừng lại khi tiền công lao động ở hai nước là bằng nhau tại E (ON=O’T). Tại
điểm E, lượng lao động chuyển từ nước I sang nước II là AB. Hiện tượng này
làm cho tiền công nước I tăng lên và tiền công nước II giảm xuống. Tổng sản
phẩm của nước II tăng từ O’JMA lên O’ JEB
Mô hình này dựa trên giả định tất cả lao động di cư không có chuyên môn, hoặc
Do vậy, mọi chính sách, pháp luật trong lĩnh vực XKLĐ phải kết hợp với các
chính sách xã hội, đảm bảo làm sao để người lao động ở nước ngoài được lao
động như cam kết trong hợp đồng lao động, cũng như được tham gia đầy đủ các
hoạt động công đoàn. Hơn nữa, lao động xuất khẩu dẫu sao cũng chỉ có thời hạn,
do vậy nước XKLĐ cần phải có những chế độ tiếp nhận và sử dụng người lao
động sau khi họ hoàn thành hợp đồng về nước.
12
Thứ ba: XKLĐ là hoạt động kinh tế ở cả tầm vĩ mô và vi mô.
Ngày nay, trong cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế thì hầu như toàn
bộ hoạt động XKLĐ đều do các tổ chức kinh tế thực hiện trên cơ sở hợp đồng đã
ký. Đồng thời, các tổ chức kinh tế cũng chịu trách nhiệm hoàn toàn khâu quản lý
người lao động và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh tế trong hoạt động
XKLĐ của mình. Tuy nhiên, sự chủ động, tự chịu trách nhiệm về hoạt động
XKLĐ của các tổ chức kinh tế này cũng phải nằm trong các quy định quản lý vĩ
mô của Nhà nước. Cụ thể phải tuân thủ theo các hiệp định, các thoả thuận song
phương có tính nguyên tắc, thể hiện vai trò và trách nhiệm của mình mà Nhà
nước đã ban hành.
Thứ tư: XKLĐ là hoạt động mang lại lợi ích cho cả ba bên: nhà nước, doanh
nghiệp XKLĐ và lao động xuất khẩu.
Trong lĩnh vực XKLĐ, lợi ích kinh tế của Nhà nước là khoản ngoại tệ mà người
lao động gửi về được tính thuế, là số thuế thu nhập mà các công ty XKLĐ phải
trích nộp theo quy định của Nhà nước, do vậy người lao động gửi càng nhiều
ngoại tệ về thì nguồn thu từ thuế càng lớn. Không những thế, lượng ngoại tệ
chuyển về nước sẽ giúp tài khoản vãng lai được cân bằng. Lượng ngoại tệ cũng
như số thuế mà Nhà nước thu được sẽ góp phần thực hiện các mục tiêu, chính
sách kinh tế của Nhà nước.
Đối với các doanh nghiệp XKLĐ thì lợi ích đó là các khoản phí giải quyết việc
thương mại tự do kiểu mới, trong đó không chỉ quy định tự do hóa thương mại
mà còn thúc đẩy tự do hóa lao đọng, giúp cho việc lưu chuyển các nguồn lực
cũng như nguồn nhân lực ngày càng tự do hơn giữa các nước, dẫn đến việc cạnh
tranh về hàng hóa “sức lao động” càng cao. Trong điều kiện đất nước dồi dào về
sức lao động, nhưng chủ yếu là lao động sống ở nông thôn, trình độ chuyên môn
tay nghề thấp, giá rẻ, sức ép việc làm lớn, nên xuất khẩu lao động (XKLĐ) không
những là một chủ trương lớn mà còn là một chiến lược quan trọng lâu dài góp
phần giải quyết việc làm, phát triển nguồn nhân lực, tăng thu nhập cho người lao
động, củng cố và tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc tế cho các nước đang
phát triển.
14
Khi đánh giá về vai trò của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển kinh tế, xã
hội của một quốc gia, có thể xét trên hai khía cạnh là kinh tế và xã hội.
Về mục tiêu kinh tế:
Trên góc độ lợi ích kinh tế, hoạt động xuất khẩu lao động được xem xét theo 3
chủ thể tham gia đó là Người lao động, Doanh nghiệp là XKLĐ và Nhà nước.
Lợi ích của người lao động: Tăng thu nhập cho người lao động
Thu nhập là mục tiêu hàng đầu của người lao động đi làm việc có thời hạn ở
nước ngoài. Tuỳ theo luật pháp và thu nhập bình quân của nước sử dụng lao
động, người lao động đi làm việc theo các ngành nghề được tuyển chọn trong
thời hạn nhất định và được hưởng một khoản thu nhập được qui định trong hợp
đồng lao động. Thu nhập của người lao động có xu hướng tăng lên hàng năm trên
cơ sở năng xuất lao động của họ. Như vậy sau hai năm làm việc, nếu người lao
động hoàn thành các cam kết theo hợp đồng đã ký giữa người sử dụng lao động
với công ty XKLĐ thì người lao động có thể tích lũy được một khoản tiền tương
đối lớn, Tính chung người lao động đi làm ở nước ngoài bình quân thu nhập bằng
10 – 15 lần so với thu nhập trong nước. Với số tiền tích luỹ được, nhiều người
kinh nghiệm của các nước đang phát triển thuộc khu vực Châu Á-Thái Bình
Dương cho thấy những nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh như Đài Loan,
Hàn Quốc, vốn nước ngoài thường chiếm 30-40% tổng giá trị đầu tư trong thời
kỳ đầu công nghiệp hóa. Còn những nền kinh tế có tỷ lệ vốn nước ngoài thấp như
Ấn Độ, Trung Quốc khoảng 10% tổng giá trị đầu tư thì tỷ lệ tăng trưởng thấp
hơn.
Quá trình công nghiệp hóa tại các nước đang phát triển đòi hỏi phải có nguồn
vốn rất lớn và phải được sử dụng hiệu quả. Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng
thị trường tiêu thụ góp phần cho sản xuất phát triển và ổn định. Cũng thông qua
xuất khẩu, quốc gia đó sẽ có nguồn cung ứng ngoại tệ để mua hàng hóa, thiết bị
phục vụ cho sản xuất trong nước. Ngoài ra, các quốc gia có nhu cầu lớn đối với
vật tư, thiết bị, công nghệ phục vụ cho sản xuất, nếu không nhập khẩu sản xuất
trong nước sẽ bị ảnh hưởng lớn. Điều đó sẽ không những kìm hãm quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, tác
động đến lạm phát và nhiều vấn đề xã hội khác.