Mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hàng Trống, Hà Nội - Pdf 51

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn "mở rộng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP
Sài Gòn- Hà nội, Chi nhánh Hàng trống- Hà nội " là công trình nghiên cứu của
riêng tôi.
Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực. Kết quả được trình bày
trong luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hạnh


MỤC LỤC
CHƯƠNG 1...............................................................................3
MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI...............................................3


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT

Chữ viết tắt
CBCNV
CN
CVTD
NHNN
NHTM
TMCP
TCTD
TSĐB
SHB

nhu cầu chi tiêu phục vụ đời sống ngày càng cao, đó là điều kiện thuận lợi cho hoạt
động ngân hàng nói chung, lĩnh vực cho vay tiêu dùng nói riêng phát triển. Các sản
phẩm ,dịch vụ tiêu dùng ngày càng trở nên phong phú, đa dạng, phù hợp với nhu
cầu của người tiêu dùng . Tuy nhiên, không phải lúc nào người tiêu dùng cũng có
thể chi trả cho tất cả các nhu cầu mua sắm cùng lúc, đặc biệt là những vật dụng đắt
tiền. Nếu người tiêu dùng vay được tiền từ ngân hàng thì họ có thể thoã mãn nhu
cầu tiêu dùng của mình trước khi họ có đủ khả năng thanh toán cho nhu cầu đó. Điều
đó làm tăng sự tiêu dùng hàng hoá ,thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp, tạo nhiều công việc làm cho người lao động, góp phần thúc đẩy sự
phát triển kinh tế chung của toàn xã hội một cách nhanh chóng. Thực hiện hoạt động
cho vay tiêu dùng, một mặt có thể thực hiện tốt nhiệm vụ kích cầu cho nền kinh tế,
tạo nên sự hoà hợp giữa Cung & Cầu tiêu dùng. Mặt khác, nó còn đem lại những
khoản lợi nhuận lớn cho ngân hàng. Chính vì vậy, Cho vay tiêu dùng được xem là
một hướng đi, một lĩnh vực kinh doanh đầy triển vọng cho các NHTM Việt Nam.
Với tư cách là một trung gian tài chính quan trọng bậc nhất trong nền kinh
tế,các ngân hàng phải làm gì để đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng cùng với nó
là việc đảm bảo an toàn ,hiệu quả từ đó tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng và đóng góp
vào sự phát triển chung của nền kinh tế và của toàn xã hội.
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hàng Trống, Hà
Nội đã xác định hướng đi và đang trong bước đầu của quá trình thực hiện: chiến
lược ngân hàng bán lẻ. Trong đó, cho vay tiêu dùng là xu thế tất yếu để ngân hàng
chiếm lĩnh thị trường, tiến tới một ngân hàng bán lẻ hiện đại.


2

Xuất phát từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn cùng với những kiến thức bản
thân thu được trong quá trình tìm hiểu, tôi đã chọn vấn đề: “ Mở rộng cho vay tiêu
dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hàng
Trống, Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ.

của Ngân hàng và cơ quan thống kê.


3

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là tài liệu giúp
cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội – Chi nhánh Hàng Trống xây dựng
kế hoạch mở rộng CVTD. Luận văn nghiên cứu khá toàn diện và hệ thống, có
ý nghĩa thiết thực cho quá trình mở rộng cho vay tiêu dùng tại SHB Chi nhánh
Hàng Trống.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, phụ lục, luận văn được kết cấu thành
3 chương với nội dung cụ thể sau:
Chương 1: Một số nội dung lý luận cơ bản về cho vay tiêu dùng của Ngân
hàng Thương mại.
Chương 2: Thực trạng về cho vay tiêu dung tại Ngân hàng TMCP Sài GònHà Nội, Chi Nhánh Hàng trống, Hà nội giai đoạn năm( 2012-2014)
Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Sài
Gòn- Hà Nội, Chi Nhánh Hàng trống, Hà Nội trong những năm tới.

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU
DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI


4

1.1.Tổng quan về cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Thương mại
1.1.1.Khái niệm về cho vay tiêu dùng
Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan

gia đình mà chủ gia đình hay người tạo ra thu nhập chính có học vấn cao cũng
thường có nhu cầu sử dụng những hàng hóa hiện đại và đắt tiền hơn, do đó mà
nhu cầu tiêu dùng cũng cao hơn.
1.1.2.2. Về quy mô
Do cho vay tiêu dùng là khoản cho vay cấp cho các cá nhân, hộ gia đình
không phải sử dụng cho mục đích kinh doanh nên nó thường là các khoản vay có giá
trị không lớn thậm chí còn rất nhỏ. Giá trị này được xác định trên cơ sở giá cả hàng
hóa, dịch vụ mà khách hàng đang có nhu cầu tiêu dùng trong khi giá trị những thứ
này thường không quá lớn. Hơn nữa, phần lớn khách hàng vay tiêu dùng đều đã có sự
tích lũy từ trước, ngân hàng chỉ là người hỗ trợ cho việc mua sản phẩm được dễ dàng
hơn khi tích lũy là chưa đủ vì thế quy mô đối với mỗi khoản vay thường là nhỏ.
Tuy nhiên với số lượng khách hàng có nhu cầu vay tiêu dùng lớn và vì thế
tổng quy mô cho vay lớn. Đây cũng là xu thế phổ biến, trong hướng xã hội ngày
càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng trở nên đa dạng dẫn đến số
lượng cho vay tiêu dùng sẽ rất lớn.
1.1.2.3. Về lãi suất
Các khoản cho vay tiêu dùng có lãi suất cao,”cứng nhắc”, và nhu cầu vay kém
nhạy cảm với lãi suất.
Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kì. Nó tăng lên trong thời kì nền
kinh tế rộng mở, khi mà mọi người dân cảm thấy lạc quan về tương lai. Ngược lại
khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, rất nhiều cá nhân và họ gia đình cảm thấy không
tin tưởng nhất là khi họ thấy tình trạng thất nghiệp tăng lên và họ sẽ hạn chế việc
vay mượn từ ngân hàng. Khi vay tiền, người tiêu dùng dường như kém nhạy cảm
với lãi suất.
Người tiêu dùng thường quan tâm đến khoản tiền họ phải trả hàng tháng
hơn là lãi suất của khoản vay. Bên cạnh đó mức thu nhập và trình độ dân trí cũng
tác động rất lớn đến việc sử dụng các khoản cho vay tiêu dùng. Những người có
thu nhập cao có xu hướng vay nhiều hơn so với thu nhập hàng năm mà mình có
được. Những gia đình mà người chủ gia đình hay người tạo thu nhập chính có


- Đối với người tiêu dùng
Nhu cầu tiêu dùng đối với mỗi người là tất yếu, và đương nhiên không phải ai


7

cũng có thể tự đáp ứng được nhu cầu của mình bằng chính thu nhập của mình. Hoạt
động cho vay tiêu dùng của ngân hàng ra đời giúp cho người dân có thể kết hợp nhu
cầu hiện đại và khả năng thanh toán trong tương lai, thỏa mãn được nhiều hơn
những nhu cầu của mình trước khi có khả năng chi trả và đặc biệt quan trọng trong
những trường hợp cấp bách, như chi tiêu cho giáo dục hay y tế…Cho vay tiêu dùng
làm cho chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao.
- Đối với nhà sản xuất
Cho vay tiêu dùng giúp kích cầu tiêu dùng của nền kinh tế, kích thích người
tiêu dùng mua sắm nhiều hàng hóa, giúp nhà sản xuất bán được nhiều sản phẩm,
tăng khả năng quay vòng vốn, từ đó góp phần mở rộng sản xuất, gia tăng lợi nhuận.
Ngoài ra, cho vay tiêu dùng cũng tạo điều kiện cho nhà sản xuất mở rộng mối
quan hệ hợp tác với các ngân hàng để bán được nhiều sản phẩm hơn.
- Đối với nền kinh tế
Thứ nhất, cho vay tiêu dùng giúp người dân được hưởng các tiện ích trước khi
tích luỹ đủ tiền, nhất là trong những trường hợp chi tiêu có tính cấp bách như chi
tiêu cho giáo dục, y tế. Như vây cho vay tiêu dùng không chỉ mang lại lợi ích cho
người tiêu dùng mà còn mang lại lợi ích cho nền kinh tế.
Thứ hai, cho vay tiêu dùng có vai trò quan trọng trong việc kích cầu, góp phần
vào việc xây dựng nền tài chính vững mạnh cho một quốc gia. Thị trường cho vay
tiêu dùng đã góp phần tạo nên sự sôi động của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển, tạo nguồn vốn cho khu vực sản xuất trong nước, thu hút vốn đầu tư nước
ngoài, từ đó tăng GDP cho nền kinh tế. Đi đôi với nó là hàng loạt các vấn đề xã hội
được giải quyết như tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp
họ cải thiện mức sống, giảm tệ nạn xã hội…

hoạt sẽ thu hút được nhiều đối tượng khách hàng, từ đó góp phần mở rộng hoạt
động cho vay tiêu dùng.
1.1.4.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ
• Cho vay tiêu dùng trả góp: là các khoản vay được thanh toán nợ (gồm cả gốc

và lãi) làm nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định (thường theo tháng hoặc theo
quý). Hình thức này chủ yếu đáp ứng cho nhu cầu mua sắm hàng lâu bền hoặc có
giá trị lớn như mua nhà, mua ô tô…
Hình thức này giúp ngân hàng có khả năng thanh toán đều đặn và phù hợp với
những khách hàng có thu nhập ổn định và đều đặn. Việc thu nợ có thể thực hiện
theo hai phương pháp: phương pháp thu nợ gốc đều đặn mỗi kỳ và lãi vay được tính


9

theo nợ gốc còn lại đầu mỗi kỳ; phương pháp thu nợ trong số tiền lãi và gốc được
thu đều đặn mỗi kỳ.
• Cho vay tiêu dùng trả một lần: là các khoản vay có giá trị nhỏ, ngắn hạn

nhằm thỏa mãn nhu cầu tiền mặt tức thời, và khách hàng chỉ phải thanh toán một
lần cho ngân hàng khi khoản vay đáo hạn. Các khoản vay này phần lớn đáp ứng cho
nhu cầu mua đồ gia dụng, đi du lịch, chữa bệnh…
• Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: là các khoản vay mà ngân hàng cho phép

khách hàng vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng
nhất định bằng cách sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc được phép thấu chi
dựa trên tài khoản vãng lai.
Mỗi thẻ tín dụng có một hạn mức tín dụng nhất định và mức này có thể thay
đổi phụ thuộc vào nhu cầu và độ tín nhiệm của khách hàng. Ưu điểm của thẻ tín
dụng là: được sử dụng thanh toán thay cho tiền mặt, séc; gọn nhẹ; có thể sử dụng để

(1)

(2)

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ cho vay tiêu dùng trực tiếp
Trong đó:
(1) Ngân hàng ký hợp đồng tín dụng với người tiêu dùng.
(2) Người tiêu dùng trả trước một phần tiền mua hàng cho công ty bán lẻ.
(3) Ngân hàng thanh toán số tiền mà người tiêu dùng còn thiếu cho công ty
bán lẻ.
(4) Công ty bán lẻ giao hàng cho người tiêu dùng.
(5) Người tiêu dùng thanh toán số tiền đã vay cho ngân hàng.
Hình thức này giúp ngân hàng giảm được rủi ro do các khoản vay được thẩm
định bởi cán bộ tín dụng ngân hàng là những người có trình độ chuyên môn và
nhiều kinh nghiệm. Trong khi cán bộ tín dụng ngân hàng thường chú trọng đến chất
lượng khoản cho vay thì nhân viên của công ty bán lẻ lại quan tâm đến việc bán
được nhiều hàng hay không. Tuy nhiên, chi phí cho hoạt động này khá cao do giá trị
khoản vay thường nhỏ.
• Cho vay tiêu dùng gián tiếp: là các khoản vay trong đó ngân hàng mua các
khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá, dịch vụ cho
người tiêu dùng. Đây là hình thức ngân hàng tài trợ cho các công ty bán lẻ hàng lâu
bền, các công ty xây dựng để các công ty này bán hàng trả góp cho người tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp được thể hiện qua sơ đồ sau:


11

(1)
(4)


Mỗi hình thức cho vay trên đều có ưu nhược điểm nhất định. Để đảm bảo an
toàn hoạt động, tạo mối quan hệ hợp tác tốt với các công ty bán lẻ và thu hút khách
hàng thì ngân hàng cần đưa ra chính sách và quy trình cho vay tiêu dùng phù hợp,
linh hoạt trong từng thời kỳ.


12

1.1.4.4. Căn cứ vào tài sản đảm bảo
• Cho vay tiêu dùng có TSBĐ: là các khoản vay mà khách hàng cầm cố

hoặc thế chấp tài sản của mình để đảm bảo cho khoản vay. TSBĐ là căn cứ
pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu nợ dự phòng khi nguồn thu chính của
khách hàng thiếu hụt, tạo áp lực buộc khách hàng phải trả nợ, giảm thiểu rủi ro
cho ngân hàng.
• Cho vay tiêu dùng không có TSBĐ: là các khoản vay không có tài sản cầm

cố hay thế chấp của khách hàng mà chủ yếu dựa vào mối quan hệ và uy tín của
khách hàng.
Đối với mỗi đối tượng khách hàng, ngân hàng cần có chính sách cho vay tiêu
dùng phù hợp. Với những khách hàng có quan hệ truyền thống, có uy tín tốt thì
ngân hàng không yêu cầu TSBĐ; với những khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro
cao, có giá trị lớn thì ngân hàng cần yêu cầu TSBĐ để hạn chế rủi ro khi tổn thất
xảy ra. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động cho vay tiêu dùng,
đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác.
1.2. Mở rộng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm mở rộng cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại càng ngày càng chứng tỏ
được vai trò của mình và vì thế các ngân hàng càng ngày càng đi sâu vào lĩnh vực
này để mở rộng và cho vay một cách có hiệu quả các khoản cho vay tiêu dùng.

tác dụng và có mục đích sử dụng riêng, nên khi ngân hàng có khả năng đa dạng hóa
danh mục cho vay tiêu dùng chứng tỏ sự mở rộng trong hoạt động cho vay tiêu
dùng và cho thấy ngân hàng đó có uy tín, đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của
khách hàng.
Do đó, đa dạng hóa danh mục cho vay tiêu dùng là mục tiêu của các ngân
hàng trong quá trình mở rộng cho vay tiêu dùng. Tuy nhiên, do đặc điểm là các sản
phẩm, dịch vụ của ngân hàng dễ bị bắt chước và thay thế bởi những dịch vụ tốt hơn,
nên ngân hàng cũng cần áp dụng những chính sách đi kèm, nghiên cứu phát triển
sản phẩm mới, loại bỏ những sản phẩm không còn phù hợp và tập trung vào giai
đoạn đầu của sản phẩm.


14

b) Số lượng và đối tượng khách hàng cho vay tiêu dùng
Số lượng khách hàng sẽ quyết định việc duy trì, phát triển hay chấm dứt sự tồn
tại của một sản phẩm hay dịch vụ ngân hàng. Lượng khách hàng hiện tại và tiềm
năng cho biết khả năng đáp ứng các nhu cầu đa dạng của ngân hàng. Mặt khác, đặc
điểm của cho vay tiêu dùng là số lượng khách hàng vay rất lớn. Do vậy, nếu một
ngân hàng có số lượng khách hàng vay tiêu dùng ngày càng tăng thì chứng tỏ hoạt
động cho vay tiêu dùng của ngân hàng đó có uy tín và đang ngày càng mở rộng.
Những khách hàng này đồng thời là những kênh quảng cáo hữu hiệu để ngân hàng
mở rộng cho vay tiêu dùng hơn nữa.
Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, mở cửa thị trường tài chính, thực hiện
các cam kết trong khuôn khổ WTO hiện nay, các đối tượng khách hàng tham gia
vay tiêu dùng cũng rất đa dạng, bao gồm nhiều trình độ, nghề nghiệp, tuổi tác…
khác nhau. Do đó, việc mở rộng đối tượng khách hàng cho vay tiêu dùng cả trong
và ngoài nước cũng là dấu hiện phản ánh khả năng cung cấp và mở rộng hoạt động
cho vay tiêu dùng của ngân hàng.
c) Doanh số cho vay tiêu dùng

dùng theo loại tiền. Do đó, thông qua chỉ tiêu dư nợ cho vay tiêu dùng có thể biết
được những sản phẩm nào là thế mạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho
vay tiêu dùng của ngân hàng, khách hàng chủ yếu của ngân hàng là những đối
tượng nào, dư nợ cho vay tiêu dùng của ngân hàng là ngắn, trung hay dài hạn…
Bởi vậy, mở rộng cho vay tiêu dùng không chỉ là tăng doanh số cho vay tiêu dùng
phát sinh trong năm mà còn là tăng dư nợ cho vay tiêu dùng, tăng dư nợ vào những sản
phẩm cho vay là thế mạnh của ngân hàng, tăng dư nợ với những khách hàng truyền
thống và tăng dư nợ những hợp đồng cho vay có tính an toàn và hiệu quả cao.
Ngoài ra, ngân hàng cần xem xét đến mối tương quan giữa dư nợ cho vay tiêu
dùng với tổng dư nợ cho vay vì nó phản ánh hiệu quả cho vay tiêu dùng qua các
năm. Đặc biệt cũng cần chú trọng đến tỷ lệ cho vay tiêu dùng có TSBĐ vì tỷ lệ này
phản ánh chất lượng của khoản vay tiêu dùng, giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro
trong trường hợp khách hàng không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.
Tốc độ tăng dư nợ cho vay tiêu dùng qua các năm được thể hiện qua công
thức sau:
Tốc độ tăng

=

Dư nợ CVTD kỳ n - Dư nợ CVTD kỳ (n-1)

dư nợ CVTD
đ) Lợi nhuận cho vay tiêu dùng

Dư nợ CVTD kỳ (n-1)

x 100%

Lợi nhuận cho vay tiêu dùng là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh trực tiếp khả
năng sinh lời của hoạt động cho vay tiêu dùng, đóng góp của hoạt động cho vay tiêu

Các chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời và vị trí của hoạt động cho vay tiêu
dùng trong hoạt động cho vay nói riêng và trong toàn bộ hoạt động kinh doanh của
ngân hàng nói chung.
e) Tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu trong cho vay tiêu dùng
Để mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng, ngân hàng không chỉ quan tâm
đến số lượng và giá trị khoản vay mà còn phải quan tâm đến chất lượng khoản
vay. Do đó, ngân hàng phải xem xét đến tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu trong
cho vay tiêu dùng.
Nợ quá hạn phát sinh khi khoản vay đến hạn mà khách hàng không hoàn trả
được toàn bộ hay một phần tiền gốc hoặc lãi vay. Đây thường là biểu hiện yếu kém
về tài chính của khách hàng và là dấu hiện rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Tỷ lệ nợ
quá hạn trong cho vay tiêu dùng được xác định theo công thức sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn

Dư nợ quá hạn CVTD
x 100%
Tổng dư nợ CVTD
trong CVTD
Nợ xấu là nợ quá hạn thuộc nhóm 3, 4 và 5, gồm: nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi
=

ngờ, nợ có khả năng mất vốn. Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn
của ngân hàng lúc này không ở rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn. Tỷ
lệ nợ xấu trong cho vay tiêu dùng được xác định theo công thức sau:
Tỷ lệ nợ xấu

Dư nợ xấu CVTD
x 100%
Tổng dư nợ CVTD
trong CVTD

Trong đó, lợi nhuận dự tính từ hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân lại phụ
thuộc vào yếu tố: Lãi từ cho vay tiêu dùng cá nhân và một số yếu tố khác như: chi
phí thẩm định, chi phí cho vay, đồng thời ngăn ngừa và hạn chế rủi ro.
Ngoài ra, lợi ích từ việc cho vay tiêu dùng cá nhân còn có tác động tích cực
tới việc mở rộng các dịch vụ khác do số lượng khách hàng tăng lên, từ đó họ có
thể sử dụng nhiều dịch vụ, từ đó ngân hàng sẽ thu được thêm câc loại phí dịch vụ
mà họ sử dụng.
Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay các Ngân hàng không thể tự quyết định
mức lãi suất cho vay tiêu dùng cá nhân mà phải phụ thuộc vào tình hình thị trường.
Như vậy, yếu tố quyết định đến lợi nhuận dự tính của hoạt động cho vay tiêu dùng
cá nhân là khả năng của các Ngân hàng trong việc giảm bớt các chi phí trong quá


18

trình cho vay, đồng thời giảm thiểu rủi ro trong cho vay tiêu dùng cá nhân.
Như vậy, các nhân tố tác động đến hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân như sau:
- Hệ thống mạng lưới giao dịch của ngân hàng.
Mạng lưới giao dịch rộng lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng trong
việc mở rộng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay
tiêu dùng cá nhân nói riêng. Hệ thống mạng luới giao dịch của Ngân hàng càng phát
triển rộng, Ngân hàng sẽ đáp ứng được tối đa nhu cầu của khách hàng. Hơn nữa,
khách hàng sẽ dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ của ngân hàng đồng thời Ngân hàng
có thể nắm bắt kịp thời các thông tin về khách hàng, các thông tin này sẽ hỗ trợ cho
cán bộ tín dụng trong quá trình thẩm định khách hàng vay vốn.
- Quy mô ngân hàng.
Quy mô Ngân hàng cũng ảnh hưởng trực tiêp đến việc mở rộng hoạt động cho
vay tiêu dùng Cá nhân. Đối với những ngân hàng có quy mô lớn thì hci phí huy
động vốn sẽ thấp hơn những ngân hàng có quy mô nhỏ. Chi phí huy động vốn thấp
thì lãi suất cho vay cũng thấp làm tăng khả năng cạnh tran và thu hút được sự quan

hàng không những đáp ứng tốt về phong cách phục vụ, lãi suất cho vay thấp,…mà
còn cần phải thiết kế được các sản phẩm cho vay phù hợp và đáp ứng được các yêu
cầu cần thiết của khách hàng hiện tại cũng như Khách hàng tiềm năng trên thị
trường. Tuy nhiên, khả năng đáp ứng các sản phẩm của hoạt động cho vay tiêu dùng
Cá nhân đến đâu còn phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, công nghệ ngân hàng,
chính sách hoạt động của ngân hàng đó
- Công nghệ ngân hàng hiện đại.
Công nghệ ngân hàng hiện đại và phù hợp sẽ giúp giảm bớt các chi phí phát
sinh trong quá trình cho vay tiêu dùng Cá nhân, đồng thời giảm bớt thời gian đi lại
cho khách hàng. Ngoài ra, công nghệ ngân hàng hiện đại còn hỗ trợ cho việc triển
khai nhân rộng loại hình cho vay tiêu dùng Cá nhân do khối lượng khách hàng lớn
và các sản phẩm mang tính tự động hóa cao như cho vay thấu chi, cho vay phát
hành thẻ tín dụng.
- Chính sách cho vay tiêu dùng Cá nhân của Ngân hàng.
Theo quy chế cho vay thì bất kỳ một cá nhân hay một tổ chức kinh tế nào phát
sinh nhu cầu vay vốn tại ngân hàng đều phải đáp ứng một số điều kiện nhất định,
cho vay tiêu dùng Cá nhân cũng không nằm ngoài quy chế này. Thông qua các điều


20

kiện, Ngân hàng có thể loại một số Khách hàng không đủ điều kiện vay Ngân hàn,
những khách hàng không có khả năng trả nợ.
Nếu các điều kiện cho vay được nới lỏng hơn sẽ có nhiều Khách hàng được
vay vốn đồng thời việc cho vay sẽ được mở rộng nhưng Ngân hàng cũng phải đối
mặt với nhiều rủi ro hơn. Do vậy, cùng với việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu
dùng Cá nhân ngân hàng cũng phải đảm bảo được các điều kiện cho vay phù hợp để
lợi ích thu được từ việc cho vay đảm bảo hơn, đồng thời phải lớn hơn những tổn
thất ngân hàng phải gánh chịu từ những khoản cho vay có chất lượng kém.
1.2.3.2 Các nhân tố khách quan

các khoản thu nhập thường cuyên cùng với của cải tích lũy càng lớn thì khách hàng
có xu hướng lựa chọn tiêu dùng hơn tiết kiệm. Như vậy qui mô thu nhập thường
xuyên ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân
của ngân hàng và khả năng trả nợ của khách hàng, ảnh hưởng đến quyết dịnh lựa
chọn nên tiêu dùng hay tiết kiệm của khách hàng.
Ngoài các nhân tố nêu trên, hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân còn bị chi
phối bởi quan niệm và nhận thức của mỗi khách hàng cũng ảnh hưởng đến việc mở
rộng cho vay tiêu dùng Cá nhân. Các nước chậm phát triển người dân thường có
quan niệm đi vay là biểu hiện của sự túng thiếu hơn là họ có nhu cầu tiêu dùng
trước khi họ tích lũy đủ tiền. Vấn đề này là một trong những trở ngại lớn trong việc
mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân của các Ngân hàng tại các nước có
nền kinh tế chậm phát triển.
- Các nhân tố môi trường
+ Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế và sự biến động của nó có thể tạo ra
cơ hội cũng như thách thức đối với Ngân hàng trong việc mở rộng hoạt động cho
vay tiêu dùng Cá nhân.
Đối với các nước có nền kinh tế phát triển, người dân có thu nhập tương đối
ổn định, mức sống luôn được đảm bảo ở mức cao, trong điều kiện đó người dân có
nhu vầu nâng cao mức sống của mình. Do vậy, nhu cầu vay tiêu dùng hoặc kinh
doanh nhỏ lẻ là rất lớn, bởi khi đó, người ta có thể mua sắm hàng hóa trước khi họ
có thể tích lũy đủ tiền hoặc hỗ trợ trong việc đầu tư kinh doanh buôn bán của các hộ
dân nhằm tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho bản thân và gia đình. Như vậy,
việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân không chỉ phát triển hoạt động
cho vay nói chung của các ngân hàng thương mại mà còn khuyến khích nền kinh tế



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status