Phát triển xuất khẩu bền vững mặt hàng thủy sản của việt nam khi tham gia hiệp định đối tác xuyên thái bình dương (TPP) - Pdf 51

0
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT...........................................................................22
DANH MỤC BẢNG, BIỂU..........................................................................................55
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 66
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG XUẤT KHẨU
MẶT HÀNG THỦY SẢN.........................................................................................1718
1.1. Khái niệm, nội dung và tiêu chí đánh giá phát triển bền vững xuất khẩu mặt
hàng thủy sản............................................................................................................1718
1.1.1. Khái niệm phát triển bền vững và phát triển bền vững xuất khẩu mặt hàng
thủy
sản........................…………………………………...
………………………………………………………………1718
1.1.2. Nội dung phát triển bền vững và phát triển bền vững xuất khẩu mặt hàng
thủy
s.........ản
……………………………………………………………………………………………
……..2223
1.1.3. Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững xuất khẩu mặt hàng thủy
sản..............................................................................................................................2328
1.2. Các yếu tố tác động đến việc xây dựng và thực thi chính sách phát triển
bền vững xuất khẩu mặt hàng thủy sản...........................................................................2937
1.2.1. Các yếu tố về thể chế, chính sách.............................................................3038
1.2.2. Các yếu tố về công nghệ, cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, vốn...............3243
1.2.3. Các yếu tố khác (về nguồn nhân lực, chính trị, văn hóa, xã hội)...........3344
1.3. Kinh nghiệm xây dựng và thực thi chính sách phát triển bền vững xuất khẩu
mặt hàng thủy sản của một số nước và bài học rút ra cho Việt Nam...................3547
1.3.1. Kinh nghiệm xây dựng và thực thi chính sách phát triển bền vững xuất
khẩu mặt hàng thủy sản của một số nước.........................................................3547
1.3.2. Bài học rút ra cho Việt Nam.........................................................................53
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU MẶT

3.1.2. Các nhân tố trong nước.......................................................................101130
3.2. Quan điểm và định hướng hoàn thiệnxây dựng chính sách phát triển bền vững
xuất khẩu mặt hàng thủy sản của Việt Nam.......................................................102133
3.2.1. Quan điểm............................................................................................104134
3.2.2. Định hướng..........................................................................................104134
3.3. Một số giải pháp chính sách đảm bảo phát triển bền vững xuất khẩu mặt hàng
thủy sản của Việt Nam..........................................................................................105135
3.3.1. Giải pháp vĩ mô....................................................................................105135
- Giải pháp chính sách nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất khẩu thủy
sản.......................................................................................................................... 105135
- Giải pháp chính sách đảm bảo hài hòa giữa tăng trưởng XKxuất khẩu thủy
sản và BVMTbảo vệ môi trường..........................................................................105136
- Giải pháp chính sách đảm bảo hài hòa giữa tăng trưởng XKxuất khẩu thủy
sản và giải quyết các vấn đề xã hội......................................................................116145
3.3.2. Giải pháp vi mô (đối với các doanh nghiệp).......................................121149
3.3.3. Một số kiến nghị về phối hợp hoàn thiện và thực thi chính sách PTBV XK
thủy sản............................................................................................................177
KẾT LUẬN.......................................................................................................... 5135158
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................8138159
PHỤ LỤC............................................................................................................1141160

TQ

Trung Quốc

USD

Đô la Mỹ

VN

“PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU BỀN VỮNG MẶT HÀNG
THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA HIỆP ĐỊNH
ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP)”

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 20186


3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ CÔNG THƯƠNG

VIỆN NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH CÔNG THƯƠNG
---------------------------

NGUYỄN THỊ QUỲNH HOA

“PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU BỀN VỮNG MẶT HÀNG THỦY
SẢN CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC
XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP)”

Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại
Mã số
: 62.34.01.21

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ


Bảng 1.1. Những thay đổi khác biệt từ phát triển đến phát triển bền
vững 17
Bảng 2.1. Tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác năm 2013
43
Bảng 2.2. Tổng sản lượng và diện tích nuôi trồng thủy sản giai đoạn
2003-2013 44
Bảng 2.3. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam giai đoạn 20032013 45
Bảng 2.4. Cơ cấu xuất khẩu một số mặt hàng thủy sản Việt Nam những
năm gần đây

46

Bảng 2.5. Top các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2013
47
Bảng 2.6. Xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang các thị trường chính
những năm gần đây

48

Bảng 2.7. So sánh năng lực cạnh tranh mặt hàng cá, tôm, cua, động vật
thân mềm (HS 03) của Việt Nam với 3 nước đứng đầu thế giới về xuất
khẩu những năm gần đây

49

Bảng 2.8. So sánh kim ngạch xuất, nhập khẩu mặt hàng cá, tôm, cua,
động vật thân mềm (HS 03) của Việt Nam những năm gần đây

50



MỞ ĐẦU

1. SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1. Thủy sản là một trong những ngành hàng xuất khẩu quan trọng
của Việt Nam, tuy nhiên xuất khẩu thủy sản những năm qua chưa thực
sự phát triển bền vững.
Trong những năm qua, ngành thủy sản Việt Nam đã đạt được
những thành tựu đáng kể về kim ngạch xuất khẩu, góp phần giải quyết
việc làm, tăng trưởng kinh tế cho các địa phương. Theo số liệu Tổng cục
hải quan Việt Nam công bố, kim ngạch xuất khẩu thủy sản 6 tháng đầu
năm 2014 của Việt Nam đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng mạnh 22,7% so với 6
tháng đầu năm 2013. Xuất khẩu thủy sản là một trong những ngành
hàng quan trọng đóng góp tích cực vào kim ngạch xuất khẩu chung và
nằm trong top 5 các nhóm hàng có giá trị xuất khẩu cao nhất của cả
nước. Sự phát triển mạnh mẽ của ngành thủy sản đã đưa Việt Nam trở
thành nước đứng đầu thế giới về sản lượng cá tra; đứng thứ ba về sản
lượng tôm. Sản phẩm thủy sản Việt Nam tính đến hết năm 2013 đã có
mặt tại 164 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 24 thị trường so với năm
2010, với các thị trường chính là EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và
Trung Quốc. Trong 10 năm qua (2003-2013), sản xuất thủy sản tăng
mạnh cả về sản lượng và giá trị, đưa kim ngạch xuất khẩu thủy sản của
Việt Nam năm 2013 lên mức 6.717 triệu USD, gấp gần 3 lần kim ngạch
xuất khẩu năm 2003 (2.240 triệu USD), với tốc độ tăng trưởng xuất
khẩu bình quân giai đoạn 2003-2013 là 11,86%/năm. Đây là con số
mang nhiều ý nghĩa, thể hiện tinh thần vượt khó, sáng tạo của ngư dân
Việt Nam, sự cố gắng vượt bậc của cả người sản xuất nguyên liệu và đặc
biệt là các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản, thể hiện định




10

Về mặt xã hội, tuy đạt được sự tăng trưởng xuất khẩu song nhiều
vấn đề xã hội liên quan đến hoạt động xuất khẩu thủy sản vẫn chưa
được giải quyết, chẳng hạn như các vấn đề chia sẻ lợi ích thương mại
hợp lý giữa các bên tham gia xuất khẩu, ổn định thu nhập và đời sống
của người dân trong điều kiện biến động kinh tế thế giới, các chính sách
hỗ trợ xuất khẩu, bảo hiểm xuất khẩu thủy sản, ngăn ngừa và xử lý các
xung đột xã hội trong phát triển xuất khẩu mặt hàng này.
Vì vậy, phát triển bền vững xuất khẩu mặt hàng thủy sản đang đặt
ra hết sức cấp bách đối với nước ta trong giai đoạn tăng trưởng mới,
giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và đẩy mạnh hội nhập
kinh tế quốc tế, với các yêu cầu mục tiêu chủ yếu là coi trọng chất
lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, đảm bảo ổn định
kinh tế vĩ mô, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng
tăng trưởng, ổn định xã hội, bảo vệ tốt môi trường.
2. Thực trạng xuất khẩu thủy sản thời gian qua cho thấy những
khó khăn, tồn tại lâu nay của ngành thủy sản.
Đối với nuôi trồng, đó là vấn đề dịch bệnh trên tôm nuôi nước lợ,
nhuyễn thể; đối với hoạt động khai thác trên biển, đó là khó khăn do giá
xăng dầu tăng, tình hình tranh chấp trên biển Đông với Trung Quốc,
cũng như nhiều rủi ro khác về thiên tai, thời tiết… Trong sản xuất, chế
biến xuất khẩu thì vấn đề tiếp cận vốn vay, nguồn nguyên liệu tại chỗ
khan hiếm, công nghệ bảo quản sau thu hoạch thô sơ, thị trường nhập
khẩu thu hẹp, vấn đề xúc tiến thương mại và phát triển thương hiệu còn
nhiều hạn chế… cũng gây rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp
thủy sản. Chi phí sản xuất trong nước còn cao so với mặt hàng cùng loại
của một số nước do các doanh nghiệp sản xuất trong nước chưa chủ
động được nguồn giống, nguồn thức ăn, phụ thuộc nguyên liệu nhập từ

chung và thị trường nhập khẩu thủy sản nói riêng chưa cho thấy tín
hiệu sáng sủa, ngoài những cơ hội mới mở ra khi Việt Nam tham gia ký


12

kết Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)
và một số Hiệp định thương mại tự do với EU.
Trong những năm tới, tình hình kinh tế thế giới nói chung và thị
trường nhập khẩu thủy sản nói riêng được dự báo chưa có nhiều khả
quan, đặc biệt đối với mặt hàng tôm nước lợ ở thị trường Mỹ, Nhật Bản,
Hàn Quốc và một số thị trường khác. Suy thoái kinh tế thế giới còn tiếp
diễn làm giảm nhu cầu tiêu dùng đối với mặt hàng thủy sản tại các thị
trường lớn, thị trường truyền thống của Việt Nam như Mỹ, EU, Nhật
Bản… Thủy sản xuất khẩu của Việt Nam hiện cũng phải đối mặt với xu
hướng tăng cường các rào cản kỹ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm từ
các nước nhập khẩu lớn, cũng như áp lực cạnh tranh ngày càng tăng
trên thị trường quốc tế. Ví như đối với tôm, xu hướng hạ giá bán của
các nước sản xuất, xuất khẩu tôm chính như Thái Lan, Indonesia, hay
đối với cá tra, mặc dù hiện tại Việt Nam vẫn là nước xuất khẩu lớn nhất
nhưng việc một số nước trong khu vực như Thái Lan, Philippines...
cũng đang tích cực đầu tư để tiến tới sản xuất và xuất khẩu mặt hàng
này, sẽ gây áp lực cạnh tranh rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Mặc dù vậy, sản xuất trong nước bắt đầu có tín hiệu khả quan khi
mà lãi suất tín dụng đang trong xu hướng giảm, việc kiểm soát tình hình
dịch bệnh trên tôm nuôi nước lợ và một số đối tượng nuôi chủ lực khác
đã có tiến triển tốt, cộng với việc chúng ta đang xây dựng và hoàn thiện
cơ sở pháp lý để tổ chức lại sản xuất, hướng tới phát triển thủy sản bền
vững, nhất là mặt hàng xuất khẩu chủ lực là cá tra, tôm nhằm khẳng
định thương hiệu thủy sản Việt Nam và phát triển bền vững xuất khẩu

năm (2010-2020), đi đôi với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, giảm thiểu tối đa
các tác động tiêu cực từ ô nhiễm môi trường, dịch bệnh.
Mặc dù Việt Nam đã có bước tiến dài trong cải thiện môi trường
đầu tư, khuyến khích phát triển xuất khẩu, ,song quy trình hoạch định
chính sách của Việt Nam nói chung và chính sách phát triển bền vững
xuất khẩu thủy sản nói riêng còn tồn tại nhiều hạn chế: (i) Việc xây


14

dựng chính sách phát triển bền vững mặt hàng thủy sản chưa thực sự
dựa trên các căn cứ khoa học về phát triển bền vững. Phát triển xuất
khẩu thủy sản mặc dù có đóng góp to lớn vào tăng trưởng xuất khẩu và
tăng trưởng kinh tế, nhưng đang tiềm ẩn nguy cơ phát triển không ổn
định và thiếu bền vững, xung đột với các mục tiêu về môi trường và xã
hội; (ii) Quá trình xây dựng và hoạch định chính sách phát triển xuất
nhập khẩu nói chung và chính sách phát triển xuất khẩu thủy sản nói
riêng chưa thật sự quan tâm đến chất lượng tăng trưởng, thiên về chỉ
tiêu số lượng, coi nhẹ những ảnh hưởng tiêu cực của xuất khẩu đối với
xã hội và môi trường, duy trì quá lâu mô hình tăng trưởng theo chiều
rộng, chưa chú trọng đúng mức để tạo tiền đề (môi trường kinh doanh,
nguồn nhân lực chất lượng, công nghệ, cơ sở hạ tầng) cho việc chuyển
đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, nâng cao năng lực cạnh tranh
và giá trị gia tăng cho mặt hàng thủy sản xuất khẩu; (iii) Việc hoạch
định chính sách thiếu sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, hiệp hội ngành
nghề, trong đó chỉ nêu ra các quy định chính sách mà thiếu kế hoạch
hành động hoặc hướng dẫn thi hành cụ thể, đặc biệt hầu hết chính sách
được xây dựng với sự can dự hạn chế của doanh nghiệp; (iv) Cộng đồng
doanh nghiệp chưa thực sự chủ động tham gia vào quy trình hoạch định
chính sách phát triển nói chung và chính sách phát triển bền vững xuất

đánh giá quan trọng, trong đó đề cập đến ý tưởng về sự phát triển hướng
tới phát triển bền vững; TN. Gladwin, JJ. Kennelly, TS. Krause (1995),
Chuyển dịch mô hình phát triển bền vững: những gợi ý cho nghiên cứu lý
thuyết quản lý, trong đó đưa ra những lý thuyết về các mô hình phát
triển bền vững dựa trên cơ sở bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và các giá
trị đạo đức xã hội, từ đó gợi mở các phương thức quản lý hiện đại đảm
bảo sự bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên sinh thái cũng như tính
bền vững về mặt xã hội; DI. Stern, MS. Common, EB Barbier (1996),
Tăng trưởng kinh tế và suy thoái môi trường: đường cong Kuznets môi
trường và phát triển bền vững, đề cập đến các khái niệm về đường cong
Kuznets môi trường (EKC), trong đó nêu lên mối quan hệ hình chữ U


16

ngược giữa suy thoái môi trường và thu nhập bình quân đầu người,
cũng như những tác động của tăng trưởng kinh tế đến môi trường sinh
thái; B. Giddings, B. Hopwood, G. O'brien (2002), Kết hợp các yếu tố
môi trường, kinh tế và xã hội trong sự phát triển bền vững, đề cập đến
ba trụ cột hình thành nên sự phát triển bền vững là môi trường, kinh tế
và xã hội, cũng như cách thức kết hợp hiệu quả và hài hòa giữa ba yếu
tố đó để đạt đến sự phát triển bền vững; B. Hopwood, M Mellor, G
O'Brien (2005), Phát triển bền vững: những cách tiếp cận khác nhau,
trong đó nêu lên những cách tiếp cận khác nhau về khái niệm phát triển
bền vững, từ đó chỉ ra các chiến lược khác nhau nhằm đạt được các mục
tiêu phát triển bền vững; TW. Luke (2005), Xem xét lại tính bền vững
trong phát triển kinh tế, chỉ ra tính tất yếu của sự phát triển bền vững,
không có sự bền vững thì không thể phát triển hay phát triển thiếu bền
vững cũng không thể coi là phát triển.
Nhìn chung, các khái niệm về phát triển bền vững còn chưa thống

phát triển đối với môi trường sinh thái và các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, nhằm thức tỉnh nhận thức về sự cần thiết phải thay đổi cơ bản
trong suy nghĩ và cả trong thực tế quản lý môi trường trên toàn thế giới,
nâng cao ý thức trách nhiệm của con người đối với việc bảo vệ môi
trường; Koos Neefjes (2003), Môi trường và sinh kế: các chiến lược phát
triển bền vững, trong đó đề cập đến mối quan hệ giữa phát triển xuất
nhập khẩu, môi trường và phát triển bền vững, cụ thể đã đưa ra cơ chế
tác động của thương mại nói chung và xuất nhập khẩu nói riêng đối với
môi trường trong điều kiện tự do hóa thương mại.
3. Mối quan hệ giữa phát triển xuất khẩu với các vấn đề xã hội và
giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh liên quan đến hoạt động xuất khẩu
trong điều kiện tự do hóa thương mại cũng đã được các học giả nước
ngoài quan tâm, đó là: Kamal Malhotra (2006), Phát triển bền vững con
người: tiếp cận từ góc độ vai trò của xuất khẩu trong chiến lược phát
triển quốc gia, trong đó đề cập đến vấn đề xã hội liên quan tới hoạt động
xuất khẩu, tác động của hoạt động xuất khẩu đến việc giải quyết công


18

ăn việc làm, cải thiện thu nhập cho người lao động, kể cả tác động đến
khả năng phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp tham gia hoạt động
xuất khẩu; J. Moon (2007), Sự đóng góp của trách nhiệm xã hội đối với
phát triển bền vững, đề cập đến tác động qua lại giữa sự phát triển bền
vững với các vấn đề về xã hội, cũng như những đóng góp và trách nhiệm
của xã hội đối với sự phát triển bền vững; David Dapice (2008), Lựa
chọn thành công: bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai Việt
Nam, trong đó đã đưa ra những khuyến nghị về chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội cho Việt Nam, bao gồm các phần: câu chuyện về hai mô
hình phát triển với sự so sánh giữa "mô hình Đông Á" (Hàn Quốc, Đài

chí PTBV ở Việt Nam từ năm 1995-2007; đề xuất một số quan điểm và
giải pháp phát triển xuất khẩu bền vững ở Việt Nam trong quá trình
HNKTQT.
Những nghiên cứu này đã đề cập đến khái niệm phát triển bền
vững của nền kinh tế nói chung và phát triển bền vững trong lĩnh vực
xuất nhập khẩu nói riêng, hay đưa ra các tiêu chí về phát triển bền vững
cũng như hệ tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của mặt hàng xuất
khẩu. Tuy nhiên, các nghiên cứu nói trên chưa đưa ra được tiêu chí cụ
thể đánh giá xuất khẩu bền vững mặt hàng thủy sản, làm căn cứ khoa
học cho việc đề xuất giải pháp, chính sách đảm bảo phát triển xuất khẩu
bền vững mặt hàng thủy sản của Việt Nam trên cả ba khía cạnh kinh tế,
môi trường và xã hội.
2. Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển xuất khẩu, với các chủ
đề được các học giả quan tâm nhiều nhất là: đánh giá thực trạng phát
triển xuất khẩu, chất lượng tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa, vấn đề
nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu,
thay đổi mô hình tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam... trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và HNKTQT, cũng như đánh giá tác động
môi trường của hoạt động xuất khẩu thủy sản và khả năng đáp ứng các
quy định, tiêu chuẩn môi trường của nước nhập khẩu, chẳng hạn:
Nguyễn Chu Hồi (2004), Một số vấn đề về phát triển bền vững đối với
ngành thủy sản Việt Nam, trong đó đề cập đến khía cạnh môi trường
liên quan đến ngành thủy sản của Việt Nam, đưa ra một số đánh giá tác


21

động môi trường của hoạt động nuôi trồng, khai thác, chế biến và xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam thời gian qua, từ đó khuyến nghị các giải
pháp nhằm phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam; Đinh Văn

sản Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu, phấn đấu để Việt Nam khẳng
định được vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu đối với một số mặt hàng
nông sản; Nguyễn Ngọc Sơn, Phạm Hồng Chương (2011), Chất lượng
tăng trưởng kinh tế Việt Nam: mười năm nhìn lại và định hướng tương
lai, trong đó đưa ra những đánh giá tổng quan về thực trạng chất lượng
tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong mười năm qua về quy mô, tốc độ
tăng trưởng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của các mặt hàng
xuất khẩu, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu mặt hàng và thị
trường xuất nhập khẩu; đề xuất và khuyến nghị một số giải pháp nâng
cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong tương lai; Lê Danh
Vĩnh (2014), Luận cứ khoa học cho xây dựng chính sách xuất nhập
khẩu bền vững của Việt Nam thời kỳ 2011-2020, trong đó làm rõ căn cứ
khoa học cho việc xây dựng chính sách xuất nhập khẩu bền vững của
Việt Nam (bao gồm cả cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn); đưa ra hệ tiêu
chí đánh giá xuất nhập khẩu bền vững; các nhân tố ảnh hưởng đến xuất
nhập khẩu bền vững; kinh nghiệm xây dựng chính sách xuất nhập khẩu
bền vững của một số nước; phân tích đánh giá thực trạng chính sách
xuất, nhập khẩu Việt Nam theo các tiêu chí phát triển bền vững; từ đó
xác định phương hướng và các giải pháp hoàn thiện chính sách xuất
nhập khẩu bền vững của Việt Nam cho giai đoạn 2011-2020; cụ thể hóa
trong một số ngành hàng trọng điểm có tỷ trọng xuất khẩu cao, có tiềm
năng giá trị gia tăng cao, bao gồm nhóm mặt hàng thủy sản.
Tuy nhiên, các nghiên cứu này lại không phân tích sâu bản chất
của xuất khẩu bền vững là đảm bảo chất lượng tăng trưởng như nâng
cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu, giải
quyết hài hòa giữa tăng trưởng xuất khẩu, bảo vệ môi trường và giải
quyết các vấn đề xã hội. Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong
thời gian qua theo các tiêu chí phát triển bền vững chưa được đề cập
phân tích, nhất là tiêu chí về xã hội. Các công trình nghiên cứu cũng


trưởng xuất khẩu bền vững, hệ thống hoá các quy định và tiêu chuẩn
môi trường của một số nước thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam


24

đối với các nhóm hàng xuất khẩu thủy sản, nông sản, đồ gỗ, dệt may và
giày da; đánh giá những thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp xuất
khẩu các mặt hàng thủy sản, nông sản, đồ gỗ, dệt may và giày da trong
việc đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường tại một số thị
trường xuất khẩu chính; đề xuất các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp đáp
ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường nhằm tăng trưởng xuất
khẩu bền vững; Nguyễn Thị Nhiễu (2011), Nghiên cứu ảnh hưởng của
chính sách thương mại hàng nông sản của Trung Quốc và Thái Lan tới
thương mại hàng nông sản Việt Nam, trong đó đánh giá tác động của
việc ban hành và thực thi các chính sách thương mại hàng nông sản của
Trung Quốc và Thái Lan tới thương mại hàng nông sản Việt Nam, trong
đó có liên quan đến các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam; từ
đó đề xuất các giải pháp tận dụng cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu nông sản,
hạn chế tác động từ việc thay đổi chính sách thương mại hàng nông sản
của hai nước này đến hoạt động xuất khẩu hàng nông sản, thủy sản của
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và
tham gia ngày càng nhiều các hiệp định thương mại song phương, đa
phương, Hiệp định thương mại tự do với khu vực và thế giới.
Mặc dù các nghiên cứu trên đã đưa ra được một số giải pháp nâng
cao chất lượng và hiệu quả hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt
Nam, đề xuất khuyến nghị giải pháp để các doanh nghiệp điều chỉnh sản
xuất kinh doanh theo hướng đáp ứng các yêu cầu về môi trường của
nước nhập khẩu. Tuy nhiên, các giải pháp đề xuất còn chung chung,
chưa có giải pháp cụ thể nhằm phát triển bền vững xuất khẩu một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status