Phan khôi với quá trình hiện đại hóa văn học việt nam nửa đầu thế kỷ XX tt - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ HƯỜNG

PHAN KHÔI VỚI QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI
HÓA VĂN HỌC VIỆT NAM NỬA ĐẦU
THẾ KỶ XX

Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 9 22 01 21

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2018


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. Nguyễn Đăng Điệp
2. TS. Phạm Thị Thu Hương

Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Thu

Phản biện 2: PGS.TS. Hà Văn Đức

Phản biện 3: PGS.TS. Hoàng Minh Lường

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp

hiện đại, nhập vào quỹ đạo chung của cả thế giới từ truyền thống văn
hóa vùng Đông Á trong tình thế bị áp đặt. Tình huống đó khiến cho
tiến tình hiện đại hóa của Việt Nam trở thành một bước chuyển bất
thường, và ở đó nhiều giá trị truyền thống buộc phải bị phán xét,
thậm chí chối bỏ trong khi nhiều giá trị ngoại lai khác được thừa
nhận, cổ súy du nhập vào đời sống tinh thần dân tộc. Trạng thái phức


2
tạp này được hiện hữu trong nhiều trường hợp mà Phan Khôi là đại
diện tiêu biểu. Vì vậy, khảo sát, tìm hiểu Phan Khôi với quá trình
hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX là một công việc
cần thiết để đánh giá đúng vị trí, vai trò của Phan Khôi trong lịch sử
văn học dân tộc; đồng thời, cung cấp một cách nhìn khách quan, toàn
diện hơn về một hiện tượng văn hóa – văn học Việt Nam, để Phan
Khôi không còn là “người xa lạ”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu: Luận án xác lập vị trí văn học sử
và đóng góp của ông đối với quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam
ở nửa đầu thế kỷ XX.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Khảo sát hiện tượng Phan Khôi từ
cái nhìn đồng đại và lịch đại đặt trong tọa độ văn hóa để khẳng định
đóng góp của Phan Khôi đối với quá trình hiện đại hóa văn học đầu
thế kỷ XX.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận án chú trọng vào các hoạt
động văn hóa gồm báo chí và sáng tác văn học trong mối quan hệ
hữu cơ với toàn bộ đời sống văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát các sáng tác văn học của
Phan Khôi bao gồm: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ (những năm đầu

của các lý thuyết đó.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần minh định lại một số nhận
xét, đánh giá hoặc chưa đúng, hoặc quá khe khắt về Phan Khôi. Kết
quả nghiên cứu đạt được sẽ là nguồn tham khảo trên tinh thần “phục
chế” những tác giả bị lãng quên của văn học Việt Nam, cho hoàn
cảnh toàn cầu hóa hiện tại của Việt Nam.


4
7. Cơ cấu của luận án: Luận án gồm có 150 trang chính văn và
18 trang Tài liệu tham khảo. Ngoài phần Mở đầu (7 trang), Kết luận
(3 trang), luận án được triển khai trong 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu (27 trang)
Chương 2: Phan Khôi – từ khát vọng canh tân xã hội đến hoạt
động văn hóa, văn chương (39 trang)
Chương 3: Phan Khôi và việc canh tân thơ Việt (30 trang),
Chương 4: Văn xuôi tự sự Phan Khôi giữa các hình thức tự sự
Việt Nam những năm nửa đầu thế kỷ XX (43 trang).
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình sưu tập, phục chế di sản Phan Khôi: Trước
tác của Phan Khôi khá đa dạng, phong phú. Trước 1945, do nhiều lí
do, phần lớn chúng bị lãng quên trong đời sống văn nghệ, đặc biệt là
ở miền Bắc. Có thể điểm lại những ấn phẩm của Phan Khôi được
xuất bản gồm: Chương Dân thi thoại (1936), Trở vỏ lửa ra (1939,
Tìm tòi trong tiếng Việt (1950) và sau đó đã sửa đổi, bổ sung thêm
một số nội dung vào đổi tên thành Việt ngữ nghiên cứu (1955),
Tuyển tập tạp văn Lỗ Tấn; Thi thiên, Châm ngôn, Nhã ca (1956.
Ngoài ra Thanh Lãng là người có đóng góp bước đầu trong việc phục
chế một phần di sản báo chí của Phan Khôi trong hai công trình Phê
bình văn học thế hệ 1932 (năm 1967) và Mười ba năm tranh luận

Ở miền Bắc: Có những ý kiến của Phan Thị Nga, Phan Thị Mỹ
Khanh, Phan An, Phạm Thị Thành, Ngô Quang Huy đã đưa ra những
suy ngẫm, nhận định của mình về tác phẩm Phan Khôi đánh giá
chung những đóng góp của Phan Khôi, đặc biệt đối với báo chí. Đã
phần các ý kiến đều cho rằng Phan Khôi là một nhà Nho có tinh thần
duy tân và ý thức cách tân mạnh mẽ.


6
1.2.2. Các công trình nghiên cứu trực tiếp về những đóng
góp của Phan Khôi đối với quá trình hiện đại hóa văn học Việt
Nam nửa đầu thế kỷ XX
1.2.2.1. Những đánh giá, nghiên cứu về tác động của Phan
Khôi với canh tân tư tưởng, sinh hoạt xã hội: Luận án tiếp thu quan
điểm của các nhà nghiên cứu trong các công trình của Trần Trọng
Kim (Mấy lời bàn với Phan tiên sinh về Khổng giáo); Phạm Thế Ngũ
(Việt Nam văn học sử giản ước tân biên); Thanh Lãng (Phê bình văn
học thế hệ 1932), Thiếu Sơn (Nghệ thuật và nhân sinh); Đỗ Lai Thúy
(Phan Khôi luôn dám đặt ra vấn đề tranh luận, Vẫy vào vô tận); Đào
Duy Hiệp (việc tiếp nhận và ứng dụng phương pháp phê bình văn
học phương Tây), Hồ Khánh Vân (Ý thức nữ quyền và sự phát triển
của văn học nữ Nam Bộ trong tiến trình HĐH...), Nguyễn Đăng Điệp
(Phan Khôi, ngự sử văn đàn)...
1.2.2.2. Những đánh giá, nghiên cứu về ảnh hưởng của Phan
Khôi đối với ngôn ngữ dân tộc: Văn Tân (Vài ý kiến về quyển Việt
ngữ nghiên cứu của Phan Khôi), Đoàn Xuân Kiên (Phan Khôi nghiên
cứu Việt ngữ), Bùi Vĩnh Phúc (Nhận xét về Việt ngữ nghiên cứu),
Nguyễn Văn Khang (Học giả Phan Khôi với Việt ngữ nghiên cứu),
Nguyễn Trung Tín (Học giả Phan Khôi – yêu tiếng Việt, yêu nước
Việt)

Tây thích lập luận, thuyết phục).
* Tiểu kết chương 1: Nhìn lại tình hình nghiên cứu Phan Khôi, theo
chúng tôi Thanh Lãng là người có công đầu trong việc cung cấp các
bài báo mà tại thời điểm trước đây đều bị thời gian và thiên kiến che
lấp. Thanh Lãng cũng là người đầu tiên nhận diện hiện tượng Phan
Khôi và định vị Phan Khôi trong lịch sử văn học dân tộc. Kế tiếp đó
là Nguyễn Ngọc Thiện và các cộng sự tiếp tục việc sưu tầm các bài
báo của Phan Khôi. Tuy nhiên người có công hoàn thiện quá trình


8
sưu tập này là Lại Nguyên Ân. Từ việc sưu tầm, công bố lượng lớn
các bài báo Phan Khôi, hành loạt những nghiên cứu về ông được tiến
hành. Trong tất cả các công trình nghiên cứu về Phan Khôi, ngoại trừ
công trình của Vu Gia, vai trò của Phan Khôi đối với thơ mới, phong
cách viết văn xuôi và lối phê bình cũng như đóng góp của ông cho
công cuộc canh tân văn hóa, văn học đầu thế kỷ là những chủ đề
được quan tâm nhưng không hệ thống. Lần đầu đặt vấn đề nghiên
cứu đóng góp của Phan Khôi với quá trình hiện đại hóa văn học Việt
Nam, luận án của chúng tôi may mắn được kế thừa tất cả những kết
quả tìm tòi nói trên và sẽ bàn luận, phân tích tác phẩm Phan Khôi
một cách toàn diện và hệ thống, cho phép nhìn nhận ông như một chủ
thể can dự, kiến tạo các xu thế và trào lưu văn hóa dân tộc.
CHƯƠNG 2: PHAN KHÔI - TỪ KHÁT VỌNG CANH TÂN
XÃ HỘI ĐẾN HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA, VĂN HỌC
2.1. Hiện đại hóa (HĐH) và sự xuất hiện của mẫu hình trí
thức duy tân
2.1.1. Quá trình HĐH ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX:
Từ khi có sự hiện diện của người Pháp, xã hội Việt Nam có
những biến chuyển sâu sắc trên mọi phương diện. Thực chất ban đầu

động canh tân xã hội của phong trào duy tân yêu nước
Đăng cổ tùng báo (1907) là tờ báo đầu tiên mà Phan Khôi
tham gia viết bài với bút hiệu Tout seul (cô đơn) khi xác định sứ
mệnh của mình là dấn thân vào cuộc vận động canh tân đất nước
nhằm phục quốc. Sự lựa chọn này ở Phan Khôi đã bị ngăn cản bởi sự
khủng bố của thực dân Pháp. Sau tất cả những biến cố thời cuộc,
Phan Khôi đã có một thức nhận mới giúp ông có bước chuyển, đó là
hướng tới hoạt động tri thức chuyên nghiệp với tư cách một nhà ngôn
luận, tác động xã hội bằng ngôn luận.


10
1.1.3.2. Viết cho “Nam Phong tạp chí” và “Lục tỉnh tân văn”
(từ 1918 đến những năm 1920) – dấn thân vào con đường viết báo
chuyên nghiệp: Phan Khôi chính thức bước vào nghề báo năm 1918
khi được giới thiệu vào làm cho Nam Phong tạp chí. Đây là bước
quyết định để Phan Khôi thành một trí thức Tây học, nhà văn hiện
đại. Năm 1919, vào Nam làm việc cho Lục tỉnh tân văn, Phan Khôi
sớm thể hiện tinh thần phản biện xã hội tích cực. Trở ra lại Hà Nội
vào năm 1920 sau khi thôi cộng tác với Lục tỉnh tân văn, Phan Khôi
cộng tác với Thực nghiệp dân báo và tạp chí Hữu Thanh.
2.1.3.3. Viết cho “Phụ nữ tân văn”, “Phụ nữ thời đàm” (những
năm 30 thế kỷ XX) - giai đoạn đỉnh cao, định hình tên tuổi Phan
Khôi: Năm 1928 Phan Khôi tham gia viết bài cho các tờ báo Đông
Pháp thời báo, Thần chung, Phụ nữ tân văn, Trung lập, Quần báo
hoặc Hoa kiều nhật báo chữ Hán ở Chợ Lớn. Đây là thời gian sung
sức nhất trong nghề báo của ông và đã hình thành dấu ấn phong cách.
2.2. Những vấn đề cơ bản trong canh tân tư tưởng, xã hội,
văn hóa của Phan Khôi
2.2.1. Công kích cái cũ (Nho giáo): Đề cập đến vấn đề Nho

của việc thúc đẩy văn hóa và văn học dân tộc tiến vào con đường
hiện đại hóa. Hiệu ứng tích cực của nó có thể quan sát qua sự lan
truyền nhanh chóng của cuộc đấu tranh đòi nữ quyền, qua việc trở
thành đề tài văn học hấp dẫn cho nhiều cây bút, trong đó có nhóm Tự
lực văn đoàn.
2.3. Hoạt động văn hóa, văn chương của Phan Khôi: Từ khi
cầm bút Phan Khôi đã có ý thức viết về những vấn đề có tác động
đến xã hội, trong đó có sinh hoạt văn chương. Ảnh hưởng từ hoạt
động báo chí của Phan Khôi đến văn hoa, văn chương Việt Nam có
thể được nhìn nhận qua những vấn đề sau.


12
2.3.1. Thúc đẩy sự phát triển của ngôn ngữ Việt: Thứ nhất,
Phan Khôi, qua hoạt động báo chí đã cổ động mạnh mẽ cho việc
dùng chữ quốc ngữ; Thứ hai, Phan Khôi cũng đặc biệt quan tâm đến
việc chỉnh đốn chính tả, nghiên cứu so sánh với tiếng Pháp, chữ
Nôm, chữ Hán chỉ ra những chỗ khả thủ, khắc phục những vấn đề
còn tồn tại với ý thức trách nhiệm “làm cho tiếng ta tiến đến bậc hoàn
mĩ”; Thứ ba, Phan Khôi nhận ra được những vấn đề mang tính
nguyên tắc của ngôn ngữ và chỉ rõ đặc điểm của ngôn ngữ tiếng Việt,
nghĩa là vấn đề thuộc về ngữ pháp.
2.3.2. Giới thiệu văn học nước ngoài qua dịch thuật: Phan
Khôi đã tạo ra nguồn tư liệu đáng lưu ý về văn học Nga, Pháp và
Trung Quốc, Kinh thánh. Toàn bộ hoạt động dịch thuật của Phan
Khôi bộc lộ rất rõ tiêu chí chọn dịch của ông là những tác giả, tác
phẩm có giá trị về mặt tư tưởng và coi trọng lối dịch sát nghĩa, khúc
chiết, dễ hiểu. Việc làm này không chỉ đáp ứng nhu cầu thưởng thức
văn chương, mà còn góp phần mở rộng tầm nhìn, tạo chất chất xúc
tác, kích thích những ý tưởng sáng tạo mới cho văn học trong nước,

CHƯƠNG 3: PHAN KHÔI VÀ VIỆC CANH TÂN THƠ VIỆT
3.1. Những thi thoại của Phan Khôi – thẩm định lại và
thẩm định mới về thơ
3.1.1. Từ “Nam âm thi thoại” (NÂTT): NÂTT là một mục báo
viết những bài nói chuyện về thơ của Phan Khôi ở các tờ báo khác
nhau (sau này tập hợp thành Chương Dân thi thoại). Hình thức bình
điểm thơ ở NÂTT căn bản không mới nhưng việc Phan Khôi dùng nó
trong các mục thường kỳ trên một vài tờ báo lại có tác dụng dân chủ
hóa một sinh hoạt văn chương vốn diễn ra trong một không gian giao
tiếp hạn hẹp. Với sự phổ biến chữ quốc ngữ, lượng độc giả đã tăng
lên, đồng thời qua phương tiện báo chí điều kiện giao tiếp nói trên đã
thay đổi đáng kể. Nhờ đó, NÂTT đã đưa tác phẩm và những câu


14
chuyện văn chương ra khỏi môi trường hạn định, đưa di sản văn
chương dân tộc đến đông đảo công chúng đọc.
Hơn nữa, trong di sản thơ ca dân tộc có hai mảng thơ chữ Hán
và thơ Nôm, nhưng Phan Khôi, mặc dù không phủ định các hình
thức, giá trị của thi ca chữ Hán, lại chỉ chọn thơ “Nam âm” để bình
phẩm ở mục thi thoại trên báo chí công khai đã thể hiện một ý thức,
quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc.
3.1.2. ... đến “Chương Dân thi thoại” (CDTT): Được xuất
bản tại thời điểm mà Thơ mới đã thắng thế trên thi đàn (1936), công
trình CDTT càng khẳng định thêm giá trị của việc “kiểm kê” thi ca
cổ điển - chặng đường suy ngẫm, chọn lựa thấu đáo của Phan Khôi
trong hai mươi năm. Đây cũng là một tác phẩm chuyên về phê bình
thơ có trước cả Thi nhân Việt Nam, là khúc dạo đầu nói về sự gò bó
của thơ luật, đòi hỏi làm cho thơ chân thật, tự nhiên diễn đạt tâm tình
(tánh linh). Bên cạnh đó, CDTT còn là sự khai phóng tư duy đổi mới

đổi của mình mà chỉ như là một đề xuất nhằm hướng đến cái khác
hơn, tìm hướng đi mới, thoát khỏi những ràng buộc cho thơ mà thôi.
3.2.2. Phan Khôi “trình chánh” một lối thơ mới: Năm 1928,
có lẽ vì muốn thể nghiệm về một lối thơ khác trước Phan Khôi đã
làm một bài thơ không tuân luật cũ là Dân quạ đình công. Bài thơ
mới về cảm hứng đề tài, về cách gieo vần, giọng điệu, lời thơ và cả
cách đặt tiêu đề. Sau đó, Phan Khôi còn tích cực sáng tác thơ ca quốc
ngữ, các bài vè, diễn ca đậm chất khẩu ngữ, mang phong vị bình dân.
Hầu hết những sáng tác này chỉ mang tính chất tuyên truyền cho xu
hướng cải cách xã hội nên không chú trọng lắm đến yếu tố nghệ
thuật. Tuy vậy cũng có thể xem là sự chuẩn bị về tư duy hình thức để
Phan Khôi trình chánh giữa làng thơ Tình già. Lần đầu tiên, trên Tập
văn mùa xuân (một ấn phẩm phụ trương của báo Đông Tây, ở Hà
Nội, ra mắt vào nhịp tết Nhâm Thân 1932, bài báo Một lối thơ mới


16
trình chánh giữa làng thơ cùng bài thơ Tình già xuất hiện. Rồi sau
đó một tháng (ngày 10 tháng 05 năm 1932) đăng lại trên Phụ nữ tân
văn (số 22). Với bài báo cùng bài thơ minh họa này, Phan Khôi đã
chính thức đưa ra “tuyên ngôn thơ mới”, và nhờ đó, trở thành người
tiên phong phát động cuộc cách mạng trong lịch sử thơ ca Việt Nam.
3.3. Những hiệu ứng từ quan niệm mới về thơ của Phan Khôi
3.3.1. Khơi mào cho những cuộc bút chiến về thơ: Bằng cách
công bố bài thơ Tình già, Phan Khôi đã nổ phát súng đầu tiên công
kích vào thành trì vững chắc, trì trệ của thơ Việt. Đề xuất “tuyên
ngôn thơ mới” của Phan Khôi cũng đã tạo ra những hiệu ứng xã hội
và thẩm mĩ hết sức mạnh mẽ; gây chấn động làng văn, làng báo, tạo
ra những cuộc bút chiến sôi nổi, giằng co quyết liệt về thơ cũ và thơ
mới với nhiều ý kiến trái ngược nhau.

thường, chống lại lối văn khuôn sáo và giáo huấn truyền thống,
hướng tới học tập kỹ thuật miêu tả trong văn học phương Tây.
Ở phương diện lý thuyết, Phan Khôi đã có rất nhiều những bài
viết đề cập đến vấn đề tả thực trong văn xuôi tự sự. Chẳng hạn: Tiểu
thuyết thế nào là hay? (1931), ông trình lí luận Shòsetsu Shinzui
(Tiểu thuyết thần tủy) của Bình Nội Tiêu Diêu (Tsubouchi Shoyo),
giúp người đọc nhận ra tả thực như là một phạm trù thẩm mỹ trọng
tâm của Việt Nam hiện đại. Hàng loạt các bài viết khác như khi dịch
Trò miệng (Lâm Khiết Nhai), giới thiệu Người vợ hiền (Nguyễn Thới
Xuyên), cảm tưởng khi đọc Cay đắng mùi đời (Hồ Biểu Chánh), Một
cô lưu lạc đời này (Trần Thiện Thành), Phan Khôi đều đề cao xu
hướng tả thực trong tiểu thuyết.
Xuất phát từ cơ sở lí luận này, trên phương diện thực hành, hai
truyện ngắn (Hoạn hải ba đào, Mộng trung mộng) và một tiểu
thuyết (Trở vỏ lửa ra) đã tái hiện khá chân thực bức tranh xã hội thực
dân phong kiến buổi giao thời, phản ánh sự trì trệ ngưng đọng, đầy


18
những chìm nổi của phận người, đặc biệt là tình cảnh của lớp nho sĩ
cuối mùa, số phận bị tước đoạt mọi quyền lợi chính đáng của người
phụ nữ. Tuy nhiên, vì không vượt qua giới hạn bản thân khi bị chi
phối bởi trạng thái lưỡng lự Phan Khôi đã không thành công với văn
xuôi tự sự (chỉ góp phần đưa mô hình tự sự theo định hướng tả thực
trên phương diện đề xuất lý thuyết, gợi dẫn, định hình tư tưởng hiện
đại cho văn học).
4.2. Xu hướng luận đề trong văn xuôi tự sự của Phan Khôi
4.2.1. Khái niệm “tiểu thuyết luận đề” và thực tế văn xuôi
Việt Nam
Khái niệm tiểu thuyết luận đề (thesis novel) hiện có rất nhiều

không có truyền thống tự sự nên những mở đường của truyện ngắn,
tiểu thuyết bao giờ cũng gặp phải những lực cản của truyền thống mà
Phan Khôi không nằm ngoài qui luật này. Ngoài ra, còn có sự lưỡng
lự giữa Phan Khôi với tư cách một nhà lý luận và Phan Khôi với tư
cách một nhà sáng tác. Một bên là ưu thế vượt trội của tư duy logic,
một bên là ưu thế vượt trội của tư duy hư cấu. Tư duy logic lấn át nên
ông chưa có cái bay bổng và tinh tế như những nhà văn khác. Tuy
vậy, tình trạng lưỡng lự ở Phan Khôi cũng là câu chuyện của tự sự
Việt Nam trong khoảng ba mươi năm đầu thế kỷ XX, với ba vấn đề
chính: văn tự (sử dụng chữ Hán, Nôm hay Quốc ngữ), diễn đạt bằng
thơ hay văn xuôi và lối viết (đề cao luân lý, nêu gương hay là hướng
đến tả chân, tả thực).
4.3.1. Văn xuôi tự sự Phan Khôi trong bước chuyển từ chữ
Hán sang chữ Quốc ngữ: Xét về văn tự, hai truyện ngắn Hoạn hải
ba đào và Mộng trung mộng được in trên Nam Phong tạp chí vào
năm 1918 bằng chữ Hán. Câu hỏi đặt ra là vì sao cả hai truyện ngắn
này đều được Phan Khôi viết bằng chữ Hán? Tại thời điểm mới ra
đời, Nam Phong tạp chí dành riêng một mảng cho chữ Hán vì xã hội


20
còn tồn tại một bộ phận trí thức cựu học. Với chủ đề quan lộ và thi
cử mang tính thời sự, Phan Khôi nhắm thẳng vào bộ phận cựu học để
thức tỉnh họ. Ngoài ra, có giả thuyết về sự hạn chế của tác giả về
năng lực ngôn ngữ khi sáng tác văn xuôi. Mặt khác, qua câu chuyện
về văn tự, Phan Khôi đã bộc lộ sự lưỡng lự bước chuyển từ chữ Hán
sang chữ quốc ngữ để sáng tác văn xuôi tự sự. Sự lưỡng lự này được
nhìn nhận ở cả hai khả năng: (1) chủ động (dùng chữ Hán để trực tiếp
tác động đến bộ phận cựu học) hoặc (2) bị động (vì chưa có khả năng
sáng tác văn xuôi tự sự bằng chữ quốc ngữ) của Phan Khôi và nhiều

ra, cơ bản vẫn là lối viết truyền thống, người kể chuyện - tác giả - ở
vị thế người ngoài cuộc có khả năng toàn tri, áp đặt cái nhìn chủ quan
với độc giả, tước đoạt quyền đồng sáng tạo. Trở vỏ lửa ra được công
bố năm 1939 nhưng vẫn bộc lộ rõ sự dùng dằng giữa truyền thống và
hiện đại. Phải chăng do rào cản tất yếu của một nhà cựu học, dù đã
hết sức nỗ lực cách tân theo hướng hiện đại nhưng đôi khi Phan Khôi
chưa vượt thoát khỏi chính mình.
* Tiểu kết chương 4: Tự sự Việt Nam trong thời điểm những năm
đầu thế kỷ XX luôn loay hoay với các vấn đề: văn tự (sử dụng chữ
Hán, Nôm hay Quốc ngữ), diễn đạt bằng thơ hay bằng văn xuôi và
viết theo kiểu luân lý, nêu gương hay thiên về tả thực, tả chân. Làm
thể nào để tiếp thu một cách có chọn lọc những mặt tích cực của văn
hóa phương Tây, đồng thời kế thừa những giá trị truyền thống để tạo
diện mạo mới cho văn học là những trăn trở khó khăn. Phan Khôi
cũng như một số học giả duy tân cùng thời đã tích cực phát hiện, cổ
súy cho những tác phẩm tự sự có xu hướng đổi mới theo phương
Tây, tức Âu hóa. Những ý kiến này đã tạo nền tảng lập luận chỉ dẫn,
kích thích sự ra đời những tác phẩm tự sự càng về sau càng đạt được
thành công cả trên hai phương diện nội dung tư tưởng và lối viết.


22
KẾT LUẬN
1. Hiện đại hóa là quá trình tất yếu của một nền văn học khi gia
nhập vào quỹ đạo các nền văn học tiên tiến trên thế giới. Quá trình
này diễn ra trong sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia và xuất phát
từ nhu cầu khao khát đổi mới của cả công chúng và chủ thể sáng tạo.
Ở Việt Nam, do hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử, quá trình hiện đại hóa
đồng thời là quá trình tiếp biến ảnh hưởng phương Tây. Quá trình thu
nhận này diễn ra không hề dễ dàng mà luôn có những dằng co quyết

thời. Những thành tựu của văn chương hiện đại như phong trào Thơ
mới, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn sau đó chắc chắn không thể thiếu
những đóng góp có tính định hình, đặt nền móng tư tưởng ở những
bài báo “dữ dội” của một nhà báo có tài, “cây bút chiến đáng gờm”
này.
Trong văn hóa, văn học, Phan Khôi là người thống nhất trong
ý thức xây dựng một sinh hoạt văn hoá dân tộc, vì vậy ông xông xáo
trong các tranh luận cũng như thực hành, từ quốc ngữ đến quốc học,
quốc văn.
3. Đường đến thơ mới của Phan Khôi cũng là một hành trình
đầy chủ động, quyết liệt như cá tính của ông. Với bút danh Chương
Dân, ông đã khẳng định cá tính của mình trong chuyên mục Nam âm
thi thoại (giới thiệu thơ, bình thơ). Tại thời điểm thơ Việt đang
không có lối thoát, bị cột chặt vào những niêm, luật cùng hệ thống
ước lệ, chuyên mục giới thiệu thơ, bình thơ, chia sẻ quan điểm cá
nhân, điểm duyệt thơ cũ... xuất hiện thường xuyên trên báo chí đã tạo
cơ sở cho việc đưa ra đề xuất một hướng đi mới cho thơ. Vì thế, có
thể xem Nam âm thi thoại (sau này tập hợp in sách đổi tên thành
Chương Dân thi thoại) là tiền khởi của hoạt động phê bình văn học
– dấu hiệu của văn học hiện đại.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status