Ảnh hưởng của giống và biện pháp canh tác đến năng suất và phẩm chất khoai lang tím (ipomoea batatas (l ) lam ) ở đồng bằng sông cửu long (tt) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Khoa học Cây trồng
Mã ngành: 9 62 01 10
PHẠM THỊ PHƯƠNG THẢO

ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG
VÀ BIỆN PHÁP CANH TÁC
ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT
KHOAI LANG TÍM (Ipomoea batatas (L.) Lam.)
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Cần Thơ, 2018


CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Người hướng dẫn chính: GS.TS. Lê Văn Hòa
Người hướng dẫn phụ: PGS.TS. Phạm Phước Nhẫn

Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp trường
Họp tại: …………………………………………….
Vào lúc …… giờ ….. ngày ….. tháng ….. năm …..
(font chữ: Times New Roman, cỡ chữ 13)

Phản biện 1: …………………………………………….
Phản biện 2: …………………………………………….
Phản biện 3: …………………………………………….


6. Pham Thi Phuong Thao, Le Van Hoa, Pham Phuoc Nhan, Le Thi Hoang
Yen, Phan Huu Nghia and Mai Kim Yen, 2017. Effect of harvest time on the yield
and quality of three purple sweet potatoes grown in Vinh Long province.
Proceedings of the 15 th Asean Conference on Food Science and Technology, Ho
Chi Minh City, Viet Nam. Section 8: Post-harvest and Food Preservation, pp. 113119.
7. Pham Thi Phuong Thao, Le Van Hoa, Pham Phuoc Nhan, Le Thi Hoang
Yen, Phan Huu Nghia and Tran Nguyen, 2017. Effect of hexaconazole on three
purple sweet potato varieties in the Mekong Delta. Book of Proceedings of the VIII
international Scientific Agricultural Symposium, Jahorina, Bosnia and
Herzegovina, pp: 936-942.

1


Chương 1: GIỚI THIỆU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Khoai lang (Ipomoea batatas (L.) Lam.) là loại cây trồng quan trọng có giá trị
dinh dưỡng cao (Nguyễn Công Tạn và ctv., 2014; Parle-Milind và Monika, 2015).
Tại Việt Nam, diện tích trồng khoai lang gia tăng trong những năm gần đây, đặc
biệt diện tích canh tác khoai lang tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm
15% tổng diện tích và 35% tổng sản lượng cả nước, tập trung nhiều nhất ở Vĩnh
Long (Tổng Cục thống kê Việt Nam, 2016). Hiện nay, các giống khoai lang tím
(KLT) đang được đầu tư nghiên cứu và phát triển do thịt củ chứa hàm lượng tinh
bột, đường, protein, vitamins, khoáng chất…; ngoài ra, anthocyanins và các hợp
chất phenolics trong thành phần thịt củ khoai lang tím có nhiều hoạt tính sinh học
quý như khả năng chống oxy hóa cao (Bovell-Benjamin, 2007; Truong et al., 2012;
Wang et al., 2013). Tại ĐBSCL, giống khoai lang tím HL491 được canh tác chủ
yếu (Nguyễn Xuân Lai, 2011; Nguyễn Thị Lang và ctv., 2013). Tuy nhiên, chưa có
nhiều nghiên cứu được công bố về việc đánh giá phẩm chất các nguồn giống khoai
lang tím thích hợp tại điều kiện của vùng. Bên cạnh yếu tố về chất lượng giống,


được sưu tập từ củ.
- Phạm vi nghiên cứu: giống và các yếu tố như màng phủ, phân bón kali và
chất hexaconazole đến năng suất và chất lượng củ của khai lang tím tại địa bàn
trồng khoai lang chính ở ĐBSCL là huyện Bình Tân- tỉnh Vĩnh Long và huyện Cù
Lao Dung-tỉnh Sóc Trăng.
1.4 Những đóng góp mới của luận án
- Sưu tập, miêu tả hình thái, đánh giá đặc tính di truyền, năng suất và phẩm
chất của 10 dòng/giống khoai lang tím. Các dòng/giống khoai lang tím có hệ số
đồng dạng di truyền ở mức tương đồng khá cao, từ 42-100%. Kết quả đã đề xuất
được 2 dòng/giống khoai lang tím mới canh tác thích hợp tại điều kiện 2 tỉnh canh
tác khoai lang chủ lực ở Đồng bằng sông Cửu Long bên cạnh HL491.
- Xác định ảnh hưởng của địa điểm trồng và thời gian thu hoạch có ảnh hưởng
đến năng suất và phẩm chất của các dòng/giống khoai lang tím.
- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm gia tăng năng suất và phẩm chất ba
giống khoai lang tím được chọn: đề xuất bổ sung phân hữu cơ Đại Hùng liều lượng
1,10 tấn/ha trước khi trồng và cung cấp phân bón với liều lượng NPK 100-80-200
kg/ha giúp gia tăng năng suất khoai lang tím, gia tăng hàm lượng NPK trong thịt
củ, thân lá và cải thiện một số đặc tính phẩm chất.
- Đánh giá hiệu quả của màng phủ đen so với một số loại màng phủ khác trong
việc cải thiện năng suất và một số đặc tính phẩm chất của từng dòng/giống khoai
lang tím trong điều kiện thí nghiệm.
- Xác định được vai trò của hóa chất hexaconazole trong gia tăng số lượng củ,
năng suất thương phẩm và năng suất tổng so với không xử lý. Bổ sung
hexaconazole 15 mg/L ở dạng hexaconazole nguyên chất (99,3%) hoặc 100 mg/L
ở dạng thương phẩm Anvil 5SC và có số lượng củ cao, năng suất thương phẩm đạt
trên 26 tấn/ha, năng suất không thương phẩm đạt trên 30 tấn/ha, hàm lượng
anthocyanins và flavonoids cao hơn so với nghiệm thức đối chứng
- Đánh giá sơ lược ảnh hưởng của lượng mưa đến năng suất khoai lang tím,
lượng mưa ít trong thời gian canh tác, đặc biệt là vào thời điểm hình thành củ có

trong số các loại cây lương thực, chỉ sau lúa, lúa mì, bắp và khoai mì (Som, 2007).
Thịt củ khoai lang có chứa nhiều hợp chất đường, bột, khoáng chất và chất xơ với
nhiều giá trị dinh dưỡng cao (Rukundo et al., 2013). Trong số các giống khoai lang
có màu sắc đa dạng khác nhau, khoai lang tím có chứa hàm lượng anthocyanins và
flavonoids trong thịt củ đóng, đây là những hợp chất có vai trò quan trọng trong
việc chống oxy hóa cao, tăng cường sức đề kháng, hạn chế sự phát triển của các tế
bào ung thư (Steed & Truong, 2008; Sivakumar et al., 2009). Nhiều nghiên cứu
cho thấy vai trò ứng dụng của anthocyanins trong một số giống cây trồng đặc biệt
là các loại cây có thịt củ màu tím như khoai mỡ và khoai lang (Reyes et al., 2004;
Montilla et al., 2011). Tại Việt Nam, có rất nhiều giống khoai lang được canh tác
trong cả nước và nhiều nghiên cứu được công bố nhằm triển khai các giống khoai
lang thích hợp cho từng địa phương (Mai Thach Hoanh, 2011; Nguyen Van Kien et
al., 2012). Để cải thiện các giống khoai lang chất lượng tốt và năng suất cao, nhiều
nghiên cứu đã thực hiện để chọn tạo các giống khoai lang phù hợp cho tiêu thụ và
giúp người nông dân xóa đói giảm nghèo (Lin et al., 2007; Truong et al., 2012).
Cây khoai lang là một loại thực vật dễ trồng và thường được canh tác trong cả
năm, cây khoai lang sẽ đạt năng suất và chất lượng cao nếu được cung cấp các kỹ
thuật canh tác thuận lợi như mùa vụ bố trí, mật độ trồng, hình thức canh tác, kỹ
thuật trồng, dinh dưỡng, nước tưới, quản lý cỏ dại, sâu bệnh... (Kaggwa et al.,
2006; Nedunchezhiyan et al., 2010; Nguyen Cong Tan et al., 2014). Hiện nay, các
loại màng phủ được sử dụng rộng rãi trong canh tác nông sản đặc biệt là khoai lang
do có vai trò quan trọng trong việc giảm mật độ cỏ dại, giảm sự thoát hơi nước,
điều chỉnh môi trường canh tác và tăng nhiệt độ đất trồng… (Boucher, 2012).
Trong đó, màng phủ đen ngoài hiệu quả trong việc cải thiện năng suất một số
giống cây trồng mà còn có khả năng gia tăng hàm lượng anthocyanins trong thịt củ
khoai lang tím (Boucher, 2012; Laurie et al., 2014).
Canh tác khoai lang có thể tiến hành trên nhiều loại đất khác nhau và năng suất
của khoai lang phụ thuộc nhiều vào điều kiện phì nhiêu đất và dinh dưỡng bổ sung
trong quá trình canh tác (Traynor, 2005; Magagula et al., 2006). Một số kết quả thí
nghiệm cho thấy, dinh dưỡng khoáng đóng vai trò quan trọng đến năng suất và chất

khoảng 3 đến 8 tháng sau khi trồng (Yang and Shi, 2013; Azevedo et al., 2014).
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Các thí nghiệm được bố trí từ tháng 4/2015-4/2017 tại đất phù sa ven sông ở
xã Thành Lợi, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long và đất phù sa pha cát ở thị trấn Cù
Lao Dung, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
Phân tích các chỉ tiêu về đất (hàm lượng NPK) trước và sau khi trồng, đánh giá
đa dạng di truyền và các chỉ tiêu phẩm chất được thực hiện tại Trường Đại học Cần
Thơ và Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long.
3.2 Vật liệu thí nghiệm
Mười dòng/giống khoai lang tím được sưu tập tại Việt Nam, Nhật và Malaysia
có màu sắc vỏ tím hoặc đỏ tím, thịt củ từ trắng tím, tím nhạt và tím đậm, bao gồm:
02 giống đang được trồng ở tại ĐBSCL (HL491, Dương Ngọc), 01 giống tại Hà
Nội (Ba Vì), 05 dòng/giống khoai lang tím OMKL được sưu tập từ bộ dòng/giống
đã được Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long nghiên cứu (OMKL18, OMKL20,
OMKL21, OMKL22, OMKL24) và 2 giống có nguồn gốc từ Nhật (Nhật Lord) và
từ Malaysia (Malaysia).
Các hóa chất sử dụng bao gồm các loại phân bón ở dạng urea, lân, phân NPK

5


(16-16-8), DAP (18%N - 46%P2O5 ) (công ty Hóa Nông), phân hữu cơ khoáng Đại
Hùng 323, hexaconazole nguyên chất (Sigma, Ấn Độ, 99,3% hexaconazole), Anvil
5SC (Syngenta, 50 g/L hexaconazole) và một số hóa chất khác....
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 So sánh đặc tính sinh trưởng, năng suất và phẩm chất của một số
dòng/giống khoai lang tím tại Đồng bằng sông Cửu Long
- Thí nghiệm 1: So sánh đặc tính sinh trưởng, năng suất và phẩm chất của
10 dòng/giống khoai lang tím

năng suất và phẩm chất ba giống khoai lang tím
Thí nghiệm được bố trí tại xã Thành Lợi, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, bao gồm: (1) Nhân tố (A): ba giống khoai
lang tím: HL491, Nhật Lord và Malaysia và (2) Nhân tố (B): năm công thức bón
phân với các liều lượng phân kali khác nhau: 33 kg K 2O/ha (đối chứng), 100 kg

6


K2O/ha, 150 kg K2O/ha, 200 kg K2O/ha và 250 kg K2O/ha. Các nghiệm thức đều
được bón lót phân hữu cơ Đại Hùng 323 với liều lượng 1,10 tấn/ha ở thời điểm
trước khi trồng có chứa 33 kg K2O/ha. Bón bổ sung phân kali cho đủ liều lượng ở
tất cả các nghiệm thức cùng 100 kg N và 80 kg P2 O. Thí nghiệm gồm có 3 lần lặp
lại, mỗi lần lặp lại là một luống khoai có 80 dây giống có diện tích 6 m2. Kỹ thuật
canh tác và phương pháp thu thập các chỉ tiêu được miêu tả ở Mục 3.3.3 và 3.3.4.
- Thí nghiệm 5: Nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng màng phủ đến
năng suất và phẩm chất của ba giống khoai lang tím
Thí nghiệm được bố trí tại xã Thành Lợi, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, thừa số hai nhân tố, bao gồm: (1) Nhân tố
(A): 3 giống khoai lang tím HL491, Nhật Lord và Malaysia; (2) Nhân tố (B):
không sử dụng màng phủ (đối chứng) và ba loại màng phủ màu đen, màng phủ
bạc, màng phủ trắng. Thí nghiệm có 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 80 dây giống
với diện tích 6 m 2. Màng phủ được bao trên luống trước khi trồng khoai. Kỹ thuật
canh tác và phương pháp thu thập các chỉ tiêu được miêu tả ở Mục 3.3.3 và 3.3.4.
- Thí nghiệm 6: Nghiên cứu ảnh hưởng của hexaconazole đến khả năng
hình thành củ của ba giống khoai lang tím
Thí nghiệm được bố trí tại xã Thành Lợi, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, thừa số hai nhân tố, bao gồm: (1) Nhân tố
(A): 3 giống khoai lang tím HL491, Nhật Lord và Malaysia và (2) Nhân tố (B): 7
mức độ sử dụng hexaconazole, bao gồm: 0, (đối chứng), 10, 15 và 100 mg/L ở hai

- Tưới nước và chăm sóc: sau khi trồng dây giống, tiến hành cung cấp nước
tưới cho dây khoai 1 lần/ngày liên tục trong 25 ngày, sau đó giảm khoảng 2
ngày/lần. Nếu trong thời gian này có mưa nhiều và đều ở các ngày sẽ thực hiện
tháo nước thường xuyên và không cần tưới nước. Vào thời gian từ 30-40 ngày
SKT tiến hành giữ luống khoai khô ráo và hạn chế tưới nước để khoai lang tạo củ.
Khoảng 3 ngày SKT bổ sung Antonik 1.8SL theo khuyến cáo. Trong quá trình
trồng, tiến hành cắt dây khoai phát triển ở rãnh vào thời điểm khoảng 40 và 70
ngày sau khi trồng (chiều dài đoạn cắt khoảng 50 cm). Các loại thuốc phòng trừ
sâu bệnh được bổ sung theo đúng liều lượng khuyến cáo vào thời điểm giữa hai lần
bón phân.
- Thời điểm thu hoạch của các thí nghiệm được tiến hành ở thời điểm khoảng
140 ngày SKT, riêng thí nghiệm 2 có thời điểm thu hoạch thay đổi theo thời gian
khảo sát.
3.3.4 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu thí nghiệm
- Phân tích đa dạng di truyền SSR: gồm ly trích DNA và sử dụng phương pháp
PCR theo phương pháp của Doyle and Doyle (1990) và Borges et al. (2009) có cải
tiến phù hợp với điều kiện phòng thí nghiệm Sử dụng 31 SSR markers có chỉ số đa
hình (PIC) từ 0,14-0,96 trên khoai lang (Hu et al., 2004; Huamani et al., 2010;
Rodriguez-Bonilla et al., 2014). Phân nhóm đa dạng di truyền kiểu hình bằng phần
mềm NTSYS-pc version 2.1 phân tích dữ liệu (Rohlf, 2000).
- Chỉ tiêu về sinh trưởng: ghi nhận chỉ tiêu sinh trưởng tại các thời điểm: 30,
60, 90, 120 ngày SKT và tại thời điểm thu hoạch, riêng thí nghiệm 1 được đánh giá
ở thời điểm 20, 60 và 100 ngày SKT. Thu thập chỉ tiêu tại 3 vị trí cố định trên 1 lô
thí nghiệm (từ đầu luống lấy vào 0,5 m; 1,5 m; 2,5 m), tại mỗi vị trí lấy ngẫu nhiên
3 dây (tổng cộng là 9 dây khoai lang cho một lần lặp lại). Sử dụng phương pháp
đo, đếm đối với các chỉ tiêu chiều dài dây dài nhất, đường kính thân, chiều dài
lóng, chiều dài cuống lá, số nhánh, diện tích lá (máy Leaf area meter, Nhật). Đo
màu sắc lá gồm chỉ số diệp lục tố (Spad) (Konica), hàm lượng diệp lục tố a,b và
carotenoids (Wellburn (1994), có bổ sung theo Yang et al. (1998)).
- Các chỉ tiêu năng suất: tại thời điểm thu hoạch, tiến hành thu thập tất cả các

Duncan hoặc LSD ở mức ý nghĩa 1% hoặc 5%. Sử dụng phần mềm NTSYS-pc
version 2.1 phân tích dữ liệu đánh giá đa dạng di truyền. Các đồ thị được vẽ đồ thị
bằng phần mềm Microsoft Excel.
Các số liệu không phân phối chuẩn sẽ được sử dụng phương pháp kiểm định
phi tham số (Nonparametric test) để phân tích số liệu. Sử dụng phương pháp kiểm
định Chi bình phương một mẫu (One Sample Chi-Square Test) để so sánh sự khác
nhau trong cùng một chỉ tiêu ở các thời điểm lấy chỉ tiêu khác nhau, kiểm định Ttest đối với quan sát cặp. Tiến hành phân tích tương quan một số chỉ tiêu.
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc tính hình thái, đặc tính di truyền, năng suất và phẩm chất của 10
dòng/giống khoai lang tím
4.1.1 Đặc tính hình thái và đặc tính di truyền
Kết quả ghi nhận đặc điểm hình thái của 10 dòng/giống khoai lang tím cho
thấy, màu sắc gốc, thân và nhánh thân của giống Dương Ngọc có màu tím thể hiện
đậm hơn so với các dòng/giống còn lại. Về hình dạng lá, ngoại trừ lá non và lá
trưởng thành của giống Dương Ngọc đều xẻ thùy và giống Nhật Lord chỉ có dạng
hình thận, thì hình dạng lá của các dòng/giống còn lại cũng có xuất hiện dạng xẻ
thùy. Hình dạng củ của các giống có độ tương đồng khá cao, giống HL491 và các
dòng/giống OMKL có thịt củ màu tím đậm hơn giống Nhật Lord và Malaysia,
riêng giống Dương Ngọc lại có màu trắng và vài đốm tím ở giữa củ. Ngoài đặc tính
giống thì điều kiện canh tác cũng ảnh hưởng đến hình thái của khoai lang (Lin et
al., 2007). Kết quả cho thấy, hình thái thân lá của một số giống OMKL khá tương
đồng với HL491 như màu sắc thân, hình dạng lá, màu sắc củ và hình dạng củ… do
các dòng/giống OMKL được tuyển chọn từ nguồn giống này (Nguyễn Thị Lang,
2013). Theo Tewe et al. (2003), sự thay đổi giữa các giống về đặc tính sinh trưởng

9


phụ thuộc nhiều vào môi trường canh tác, đồng thời do khoai lang có bản chất là
cây lục bội nên có sự biến động khá cao về mặt di truyền và thể hiện bằng sự đa



(Zhang et al., 2004). Ở nghiên cứu này, mặc dù hai dòng/giống OMKL18 và
OMKL20 có hệ số đồng dạng di truyền tương đồng hoàn toàn với nhau nhưng vẫn
có sự khác biệt về khảo sát hình thái bên ngoài.
4.1.2 Năng suất và phẩm chất
Kết quả đánh giá các chỉ tiêu năng suất của 10 dòng/giống khoai lang tím ở
Bảng 4.1 cho thấy, giống Malaysia có tổng số củ/m 2, số củ thương phẩm/m 2 cao
nhất, đồng thời cũng đạt năng suất thương phẩm cao nhất (trên 20 tấn/ha). Giống
Nhật Lord có khối lượng thân lá/m 2 cao nhất, tổng số củ và năng suất đều cao hơn
HL491. Ba giống Malaysia, Nhật Lord và HL491 có khối lượng thân lá hàm lượng
chất khô trong thân lá khá cao nên năng suất tổng cũng đạt trên 15 tấn/ha. Kết quả
khảo sát về năng suất của các dòng/giống OMKL không chênh lệch nhiều so với
nghiên cứu về năng suất của các dòng/giống OMKL tại điều kiện ĐBSCL của
Nguyễn Thị Lang và ctv. (2013) với năng suất trung bình khoảng 10 tấn/ha.
Bảng 4.1: Số củ thương phẩm, khối lượng trung bình (TB) củ thương phẩm (g), tổng
số củ/m2, năng suất thương phẩm và năng suất tổng (tấn/ha) của 10 dòng/giống KLT

Ghi chú: Những số có chữ theo sau giống nhau trong cùng một cột thì khác biệt không ý nghĩa thống kê
qua phép thử Duncan, **: khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1%.

Kết quả phân tích ở Bảng 4.2 cho thấy, độ ẩm thịt củ và độ cứng củ của các
dòng/giống khoai lang tím không có sự khác biệt ý nghĩa qua phân tích thống kê.
Độ ẩm thịt củ dao động 63,2%-72,6% phù hợp với nhận định của Nguyễn Công
Tạn và ctv. (2014) khi khảo sát ẩm độ thịt củ khoai lang tím thường dao động trong
khoảng 70%. Do có màu sắc thịt củ khác nhau nên hàm lượng anthocyanins của
giống HL491 và các dòng/giống OMKL cao hơn ba giống Nhật Lord, Malaysia và
Dương Ngọc. Hàm lượng flavonoids và đường tổng số của các dòng/giống không
chênh lệch nhau nhiều nhưng hàm lượng tinh bột của giống Nhật Lord cao hơn so
với giống HL491 và các dòng/giống OMKL. Đặc tính phẩm chất củ của khoai lang

Kết quả Hình 4.2 cho thấy, số lượng củ của giống Nhật Lord và Malaysia gia
tăng theo thời gian thu hoạch, đạt cao nhất tại 180 ngày SKT; trong khi số củ của
HL491 không có sự khác biệt qua 4 thời điểm thu hoạch. Số củ thương phẩm của
cả ba giống đạt cao nhất tại thời điểm 140 ngày SKT, giống Malaysia có số củ
thương phẩm đạt cao nhất (26 củ/m 2) và cũng có số củ và năng suất củ thương
phẩm cao nhất. Tương tự, năng suất tổng của ba giống khoai lang tím gia tăng theo
thời gian thu hoạch, cao nhất là giống Malaysia và tiếp theo là HL491 tại 180 ngày
SKT; tuy nhiên, năng suất thương phẩm lại đạt cao nhất tại 140 ngày SKT (số liệu

12


không trình bày). Kết quả thí nghiệm cho thấy, thời điểm thu hoạch tại 140 ngày
SKT là thuận lợi nhất cho ba giống khoai lang tím do có khối lượng thân lá, tổng
số củ, số củ thương phẩm và năng suất cao nhất. Trên khoai lang, thời gian thu
hoạch càng lâu sẽ càng tăng kích thước và năng suất củ (Yang and Shi, 2013); tuy
nhiên, việc kéo dài thời gian thu hoạch càng làm tăng tỷ lệ củ hư hỏng và có thể
giảm hiệu quả kinh tế (Azevedo et al., 2014).

(a)

(b)
Hình 4.2: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến khối lượng thân lá/m 2 (a),
tổng số củ và số củ thương phẩm (b) của ba giống khoai lang tím
Ghi chú: Kiểm định Chi-square so sánh giữa các thời điểm thu hoạch khác nhau.
NSKT: ngày sau khi trồng.

4.3.2 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến đặc tính phẩm chất củ
Đặc tính phẩm chất củ của các giống khoai lang tím có sự khác biệt qua phân
tích thống kê ở hầu hết các chỉ tiêu (Bảng 4.3). Hàm lượng chất khô của giống


14


củ khoai lang tím có xu hướng tăng ở giai đoạn đầu, đạt cao nhất tại 160 ngày
SKT, trong đó hàm lượng anthocyanins của giống Nhật Lord thấp nhất, sau đó hàm
lượng này giảm xuống tại 180 ngày SKT (Hình 4.3b). Kết quả cho thấy, hàm lượng
anthocyanins có xu hướng giảm sau khi tồn trữ 14 ngày. Theo Bonte and Picha
(2000), khoai lang có hàm lượng chất khô khoảng 25-35%, đường tổng số khoảng
2,9-3,2% và tinh bột khoảng 13-22%. Hàm lượng tinh bột thường gia tăng theo
thời gian thu hoạch và tương quan thuận với hàm lượng chất khô (Ravi et al.,
2009). Một số chỉ tiêu phẩm chất thường suy giảm theo thời gian tồn trữ phụ thuộc
nhiều vào giống, điều kiện tồn trữ (Rees et al., 2003; Ray and Ravi, 2005).
4.3 Đặc tính sinh trưởng, năng suất và phẩm chất ba giống khoai lang tím
tại xã Thành Lợi, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long và thị trấn Cù Lao Dung,
huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng
Ba giống khoai lang tím đều sinh trưởng thuận lợi ở cả hai địa điểm canh tác.
Chiều dài dây và diện tích lá của ba giống khoai lang tím khi trồng ở Vĩnh Long có
xu hướng cao hơn khi trồng ở Sóc Trăng tại 90 ngày SKT. Trong đó, giống
Malaysia có chiều dài dây, số nhánh và diện tích lá nổi trội hơn hai giống còn lại ở
một số thời điểm phân tích (số liệu không trình bày).
Kết quả khảo sát về số lượng củ và năng suất cho thấy, giống Nhật Lord và
Malaysia thích hợp khi trồng tại Sóc Trăng khi có tổng củ, củ thương phẩm, năng
suất tổng và năng suất thương phẩm cao hơn khi trồng tại Vĩnh Long. Tại Vĩnh
Long, giống Malaysia có tổng số củ, năng suất tổng và năng suất củ thương phẩm
cao nhất, riêng giống HL491 thích nghi tốt ở Vĩnh Long hơn tại Sóc Trăng. Tổng
số củ và năng suất thương phẩm của ba giống trồng ở Vĩnh Long cao hơn khi trồng
ở Sóc Trăng (Bảng 4.4).
Điều này cho thấy đặc tính đất có ảnh hưởng đến năng suất các giống khoai
lang, một số giống có khả năng thích nghi ở vùng này nhưng không cho năng suất

Hình 4.4: Hình dạng củ của ba giống khoai lang tím khi được trồng tại
thị trấn Cù Lao Dung, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng (a) và
tại xã Thành Lợi, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long (b)
Ghi chú: (A): HL491; (B): Nhật Lord; (C) Malaysia

16


4.4 Ảnh hưởng của các liều lượng phân kali đến năng suất và phẩm chất
ba giống khoai lang tím
Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của các liều lượng bổ sung kali lên ba giống
khoai lang tím cho thấy, giống Malaysia có hàm lượng diệp lục tố a và hàm lượng
NPK trong thân lá và thịt củ cao nhất. Giống Malaysia cũng có số lượng củ, năng
suất tổng, năng suất thương phẩm, hàm lượng chất khô, độ cứng và đường tổng số
luôn ở mức cao (Bảng 4.5, Bảng 4.6). Giống Nhật Lord có hàm lượng chất khô, độ
brix và hàm lượng tinh bột cao nhất nhưng cả 2 giống Malaysia và Nhật Lord đều
có hàm lượng anthocyanins thấp hơn so với giống HL491.
Bổ sung kali với liều lượng từ 150 và 200 kg K 2O/ha đã giúp gia tăng hàm
lượng diệp lục tố a và b, hàm lượng anthocyanins trong thịt củ. Bổ sung kali từ 150
kg K2O/ha đã làm gia tăng số lượng củ, năng suất tổng, năng suất thương phẩm,
flavonoids, tinh bột và đường tổng số của củ, hàm lượng NPK trong thân lá và thịt
củ khoai lang. Bổ sung kali với liều lượng cao 250 kg K 2O/ha chưa có sự khác biệt
về các chỉ tiêu sinh trưởng và phẩm chất thịt củ so với bổ sung ở liều lượng 200 kg
K2O/ha. Bổ sung kali với liều lượng 200 kg K 2O/ha giúp gia tăng hàm lượng diệp
lục tố a và b trong lá, tăng độ cứng củ, hàm lượng NPK trong thân lá và thịt củ đạt
mức cao và năng suất tổng cao cũng đạt được cao.
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của các liều lượng bổ sung kali đến các chỉ tiêu sinh trưởng và
năng suất của ba giống KLT

Ghi chú: Những số có chữ theo sau giống nhau trong cùng một cột đối với từng nhân tố thì khác biệt

et al., 2005). Trong phạm vi thí nghiệm, sử dụng màng phủ đen khi canh tác giúp
gia tăng năng suất tổng và năng suất thương phẩm của giống Nhật Lord và
Malaysia. Nhiều nghiên cứu cho thấy màng phủ đen giúp cải thiện năng suất khoai
lang (Sideman, 2015) và giúp tăng hấp thu các dưỡng chất trong đất (Mutetwa and
Mtaita, 2014).

18


Bảng 4.7: Ảnh hưởng của màng phủ đến sinh trưởng và năng suất của ba giống KLT

Ghi chú: Những số có chữ theo sau giống nhau trong cùng một cột đối với từng nhân tố thì khác biệt
không ý nghĩa thống kê qua phép kiểm định Duncan. ** và *: khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1%
và 5%; ns: không khác biệt.

Mặc dù giúp gia tăng hàm lượng chất khô và tinh bột nhưng việc che màng
phủ đen cho khoai lang chưa làm thay đổi các chỉ tiêu phẩm chất thịt củ khoai lang
so với khi sử dụng màng phủ bạc, trắng và không phủ màng phủ. Do năng suất của
thí nghiệm không cao bằng các thí nghiệm khác nên cần tiến hành bố trí ở nhiều
thời điểm khác trong năm. Theo Wees et al. (2015), sử dụng màng phủ giúp kiểm
soát cỏ dại và giữ ẩm cho đất rất tốt; tuy nhiên, do mùa vụ canh tác được bố trí vào
mùa mưa, lượng ẩm độ cao cũng ảnh hưởng đến khả năng hình thành củ và sự phát
triển củ khoai lang nên năng suất thấp hơn so với các vụ trước đó.
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của màng phủ đến các chỉ tiêu phẩm chất của ba giống KLT

Ghi chú: Những số có chữ theo sau giống nhau trong cùng một cột thì khác biệt không ý nghĩa thống kê
qua phép thử Duncan; ** và *: khác biệt ý nghĩa thống kê ở mức 1% và 5%; ns: không khác biệt.

19




Bảng 4.10: Ảnh hưởng của màng phủ đến chỉ tiêu năng suất và phẩm chất của ba
giống KLT

Ghi chú: Những số có chữ theo sau giống nhau trong cùng một cột thì khác biệt không ý nghĩa thống kê
qua phép thử Duncan; ** và *: khác biệt ý nghĩa thống kê ở mức 1% và 5%; ns: không khác biệt.

Kết quả Bảng 4.10 cho thấy giống Japan Lord có hàm lượng chất khô và tinh
bột cao nhất nhưng giống HL491 lại có hàm lượng anthocyanins cao. Khi không
bổ sung hexaconazole, khối lượng chất khô và hàm lượng anthocyanins của
nghiệm thức đối chứng có xu hướng thấp hơn so với các nghiệm thức có bổ sung
hexaconazole. Kết quả phù hợp với một số nghiên cứu cho rằng các hóa chất thuộc
nhóm triazoles có thể giúp gia tăng hàm lượng anthocyanins, carotenoids, chất khô
và các hợp chất phenols của đậu, khoai mỡ, khoai môn và khoai lang
(Gomathinayagam et al., 2008; Sivakumar et al., 2009). Theo Jaleel et al. (2008),
xử lý hóa chất triazoles làm gia tăng hàm lượng diệp lục tố trong lá dẫn đến thúc
đẩy việc hình thành các sản phẩm quang hợp và tăng hàm lượng chất khô.
4.7 Kết quả mô hình canh tác 1.000 m2 cho ba giống khoai lang tím
Kết quả xây dựng mô hình canh tác 1.000 m 2 cho thấy giống Malaysia có tổng
số củ/m2 (85,1 củ), số củ thương phẩm/m 2 (46,3 củ), năng suất củ thương phẩm
(65,5 tấn/ha) và năng suất tổng (70,0 tấn/ha) cao hơn so với hai giống còn lại
(Bảng 4.11). Năng suất tổng và năng suất thương phẩm của ba giống đều cao hơn
30 tấn/ha, đặc biệt là giống Malaysia có số củ thương phẩm gia tăng hơn gấp đôi so
với một số vụ trồng trước đó (Hình 4.5). Nhiều nghiên cứu cho thấy năng suất
khoai lang rất dễ ảnh hưởng bởi điều kiện thay đổi của môi trường canh tác và chất
lượng giống (Caliskan et al., 2007), vì vậy cần thiết thực hiện việc đánh giá năng
suất và chất lượng của các giống khoai lang ở các điều kiện canh tác và thời điểm
canh tác khác nhau (Tewe et al., 2003; Uwah et al., 2013).


điều kiện mùa khô, do năng suất khoai lang đạt được cao nên đã gia tăng lợi nhuận

22


so với canh tác truyền thống theo nông dân (Bảng 4.12).
Bảng 4.12: Hiệu quả kinh tế của mô hình canh tác 1.000 m 2 so với nông dân
Hạng mục
Năng suất thương phẩm (kg)
Năng suất không thương phẩm (kg)
Tổng thu nhập (1.000 đ)
Chi phí vật tư, phân, thuốc (1.000 đ)
Công lao động (1.000 đ)
Tổng chi phí (1.000 đ)
Lợi nhuận (1.000 đ)
Hiệu quả sử dụng vốn

Canh tác
nông dân
(kết quả
điều tra)
2.500
260
25.780
7.294
6.000
13.294
12.486
7.294


6.543

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
5.1 Kết luận
- Đặc tính sinh trưởng và phẩm chất củ của 10 dòng/giống khoai lang tím sưu
tập được có kết quả khá tương đồng. Mười dòng/giống được phân nhóm di truyền
thành 2 nhóm chính có độ tương đồng về hệ số đồng dạng di truyền ở mức 42% 100%. Ba giống HL491, Nhật Lord và Malaysia có hàm lượng chất khô trong thân
lá, số củ thương phẩm trên m 2 khá cao và năng suất tổng đạt trên 15 tấn/ha.
- Thu hoạch tại thời điểm 140 ngày SKT cho số củ và năng suất thương phẩm
cao nhất đối với ba giống khoai lang tím thử nghiệm mặc dù tổng số củ và năng
suất tổng có xu hướng gia tăng đến 180 ngày SKT. Giống Malaysia có năng suất
tổng (24,9 tấn/ha) và năng suất thương phẩm (24,5 tấn/ha) cao nhất. Về phẩm chất
củ, hàm lượng tinh bột và chất khô gia tăng theo thời gian thu hoạch, riêng hàm
lượng đường tổng số và anthocyanins đạt cao nhất ở 140 và 160 ngày SKT.
- Tại hai điều kiện canh tác ở Vĩnh Long và Sóc Trăng, cả ba giống khoai lang
tím được chọn đều có đặc tính sinh trưởng tốt và có phẩm chất củ không chênh
lệch nhiều. Giống Nhật Lord và Malaysia thích hợp trồng tại Sóc Trăng khi có
năng suất cao, riêng giống HL491 có năng suất rất thấp khi trồng ở vùng đất pha
cát có pH đất thấp tại huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
- Các liều lượng bổ sung kali có ảnh hưởng đến sinh trưởng, năng suất và chất
lượng của ba giống khoai lang tím. Bổ sung kali với liều lượng từ 150 và 200 kg
K2O/ha đã giúp gia tăng hàm lượng diệp lục tố a và b, số lượng củ, năng suất,
flavonoids, anthocyanins, tinh bột, đường tổng số và hàm lượng kali trong thân lá
và thịt củ khoai lang. Bổ sung kali với liều lượng 200 kg K 2O/ha đã giúp gia tăng
một số chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất nhưng không khác biệt so với bổ sung ở
liều lượng 250 kg K2O/ha.
- Sử dụng màng phủ đen trong canh tác giúp gia tăng chỉ số diệp lục tố và gia
tăng diện tích lá của ba giống khoai lang tím, gia tăng năng suất tổng và năng suất
thương phẩm của giống Nhật Lord và Malaysia nhưng chưa làm thay đổi các chỉ
tiêu phẩm chất thịt củ khoai lang.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status