Đánh giá hiện trạng tài nguyên ốc cạn ở khu du lịch sinh thái tràng an, tỉnh ninh bình - Pdf 51

3

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN ỐC CẠN Ở KHU
DU LỊCH SINH THÁI TRÀNG AN, TỈNH NINH BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGUYỄN PHƯƠNG ANH

HÀ NỘI, NĂM 2018

Hà Nội - Năm 20..


4

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

NGUYỄN PHƯƠNG ANH

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN ỐC CẠN Ở KHU
DU LỊCH SINH THÁI TRÀNG AN, TỈNH NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 8440301


TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Phương Anh


ii

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến
Ban lãnh đạo trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, các thầy cô
giáo, các cán bộ trong khoa Môi trường đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS. Hoàng Ngọc Khắc đã trực
tiếp hướng dẫn, truyền đạt kiến thức thực tế, phương pháp luận, quan tâm, đôn
đốc kiểm tra trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn.
Ngoài ra, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới thầy cô trung tâm nghiên cứu
Động Vật Đất trường Đại học Sư phạm Hà Nội, người thân, bạn bè và cán bộ,
người dân khu du lịch sinh thái Tràng An, đặc biệt là gia đình ông Nguyễn Đăng
Khoa ở xã Gia Sinh, tỉnh Ninh Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp những
tài liệu, thông tin, cơ sở vật chất cần thiết cho tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 17 tháng 9 năm 2018
Học viên

Nguyễn Phương Anh


iii

MỤC LỤC

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 16

2.2

Địa điểm nghiên cứu .................................................................................. 16

2.3

Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 18

2.3.1 Sơ đồ nghiên cứu ....................................................................................... 18
2.3.2 Thiết bị nghiên cứu ................................................................................... 18
2.3.3 Phương pháp điều tra xã hội học............................................................... 19
2.3.4 Phương pháp thu thập tài liệu.................................................................... 19
2.3.5 Phương pháp nghiên cứu thực địa............................................................. 19
2.3.6 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm .................................... 21
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................ 24
3.1

Đa dạng sinh học loài tại khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình ......24

3.1.1 Cấu trúc thành phần loài ốc cạn ................................................................ 24


iv

3.1.2 Độ đa dạng sinh học loài tại khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình .......33
3.2

Đặc điểm phân bố loài ốc cạn theo sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu........ 38

Luận văn “Đánh giá hiện trạng tài nguyên ốc cạn ở khu du lịch sinh thái
Tràng An, tỉnh Ninh Bình” với mục tiêu xác định được thành phần loài, phân bố,
hiện trạng tài nguyên ốc cạn và đề xuất biện pháp quản lý, bảo tồn, phát triển đa
dạng sinh học của ốc cạn ở khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình. Mẫu
ốc cạn được thu định tính và định lượng từ tháng 4/2018 đến tháng 6/2018 chia
làm 3 đợt (31/3 -1/4; 30/4 – 1/5; 1/6 – 2/6) ở khu vực xã Gia Sinh, huyện Gia
Viễn và xã Ninh Xuân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình trong 3 sinh cảnh: nhân
tác, rừng tự nhiên trên núi đất và rừng tự nhiên trên núi đá vôi. Qua phân tích
2001 cá thể ốc cạn đã xác định được 61 loài và phân loài thuộc 34 giống, 14 họ,
3 bộ và 2 phân lớp; trong đó có 7 taxon chưa xác định được tới tên khoa học đến
loài (Cyclophorus sp., Pterocyclus sp., Pupina sp., Microcystina sp., Camaena
sp., Haploptychius sp, Zingis sp.). Phân lớp Có phổi có 33 loài (chiếm 56,25%)
đa dạng hơn phân lớp Mang trước có 28 loài (chiếm 43,75%), họ Cyclophoridae
có nhiều loài nhất (18 loài), giống Macrochlamys chiếm ưu thế trong tất cả các
sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cũng đã xác định được 15
loài có giá trị như làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi gia cầm gia súc, làm
nguyên liệu trong y dược, mỹ phẩm và 9 loài gây hại phá hoại cây trồng của
người dân. Qua tính toán từ số liệu phỏng vấn người dân và quản lý, chúng tôi
ước tính trữ lượng tức thời của loài ốc cạn khu vực nghiên cứu là 86.648 kg và
sản lượng khai thác ốc cạn trong một năm là 11.340 kg/năm. Với trữ lượng ước
tính tức thời cùng với sản lượng khai thác hàng năm thì có thể người dân sẽ
không thể khai thác nhiều và liên tục với cách thức khai thác trực tiếp từ tự
nhiên như hiện nay trong nhiều năm tới vì thế cần có các biện pháp quản lý việc
khai thác, duy trì đa dạng sinh học ốc cạn khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh
Ninh Bình. Đặc biệt quan tâm tới việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh
thái học của các loài ốc cạn có giá trị kinh tế cao để phát triển gây nuôi phục vụ
bảo tồn và phát triển bền vững.


vi

Bảng 2.1 Các vị trí lấy mẫu ................................................................................. 17
Bảng 3.1 Thành phần các loài ốc cạn tại khu vực nghiên cứu............................ 24
Bảng 3.2 Cấu trúc ốc cạn ở khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình ..... 27
Bảng 3.3 Mật độ, tần số bắt gặp và độ phong phú của các loài ốc cạn tại khu du
lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình ............................................. 34
Bảng 3.4 Đặc điểm sinh cảnh ở vị trí lấy mẫu .................................................... 39
Bảng 3.5 Kết quả phỏng vấn người dân .............................................................. 43
Bảng 3.6 Kết quả phỏng vấn cán bộ ................................................................... 44
Bảng 3.7 Danh sách các loài ốc có giá trị và gây hại .......................................... 45
Bảng 3.8 Trữ lượng tài nguyên ốc tức thời tại khu du lịch sinh thái Tràng An,
tỉnh Ninh Bình ..................................................................................... 53


viii

DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ tổng quan khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình ......... 4
Hình 1.2 Sơ đồ cấu tạo vỏ ốc cạn .......................................................................... 9
Hình 2.1 Các vị trí lấy mẫu tại khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình 18
Hình 2.3 Xây dựng các ô tiêu chuẩn ................................................................... 20
Hình 3.1 Sơ đồ cấu trúc phân loại ốc cạn ở khu vực nghiên cứu ....................... 28
Hình 3.2 Số lượng thành phần của các bộ ốc cạn ở khu du lịch sinh thái Tràng
An, tỉnh Ninh Bình ................................................................................ 30
Hình 3.3 Tỷ lệ (%) các giống ốc cạn thuộc phân lớp Mang trước tại khu vực
nghiên cứu ............................................................................................. 31
Hình 3.4 Tỷ lệ (%) các giống ốc cạn thuộc phân lớp Mang trước tại khu vực
nghiên cứu ............................................................................................. 31
Hình 3.5 Số lượng loài các họ ốc cạn thuộc phân lớp Mang trước ở khu du lịch
sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình ...................................................... 32
Hình 3.6 Số lượng loài các họ ốc cạn thuộc phân lớp Có phổi ở khu du lịch sinh

sống của ốc cạn.
Ở Việt Nam đã có những dẫn liệu về thành phần loài, giá trị thực tiễn của
ốc cạn như của các tác giả Nguyễn Thanh Bình, Hoàng Ngọc Khắc, Hoàng Văn
Ngọc (2017) ở khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, tỉnh Thái
Nguyên [2]; Nguyễn Thanh Bình (2015) ở khu vực xã La Hiên, huyện Võ Nhai,
tỉnh Thái Nguyên [3], Nguyễn Văn Bé (2015) ở các đảo thuộc huyện Kiên Hải
tỉnh Kiên Giang [4]. Những năm gần đây xu hướng sử dụng đặc sản của các


2

vùng ngày càng cao như các loài ốc cạn ở trên núi đá vôi vì chúng có nguồn
thức ăn sạch, tự nhiên, không hóa chất nên rất được ưa chuộng. Cũng chính vì
thế nhu cầu khai thác của con người cũng tăng theo, loài ốc cạn đang bị khai
thác rất nhiều ở các khu vực núi ở khắp nơi như Sơn La, Điện Biên,... và đặc
biệt đặc sản ốc núi Bà Đen đang đứng trước nguy cơ tận diệt vì hành vi khai
thác quá mức của con người [5].
Các nghiên cứu về ốc cạn tại khu vực tỉnh Ninh Bình và khu vực lân cận
được các tác giả trong và ngoài nước chú ý đến như Vermeulen and Masseen
(2003) [1]; Đỗ Văn Nhượng, Đỗ Ngọc Huyền, Bùi Thùy Linh, Phạm Thị Ngân,
Đỗ Đức Sáng (2016) [6]; dẫn liệu về ốc cạn ở khu vực Tràng An Cổ, Trường
Yên, Hoa Lư bước đầu đã có của Đỗ Văn Nhượng, Lưu Thị Thanh Hương, Đỗ
Ngọc Huyền (2014) gồm 59 loài thuộc 23 họ, 41 giống, 2 phân lớp [6], tuy
nhiên chưa có nhiều dẫn liệu về ốc cạn ở khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh
Ninh Bình hay các nghiên cứu cụ thể về hiện trạng tài nguyên ốc cạn ở Việt
Nam cũng như ở khu vực nghiên cứu. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi
chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng tài nguyên ốc cạn ở khu du lịch sinh thái
Tràng An, tỉnh Ninh Bình”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được đa dạng thành phần loài, phân bố, hiện trạng tài nguyên ốc

- Sông Vo ở phía Nam
- Sông Mới ở phía Đông
- Sông Đáy ở phía Tây


4

Hình 1.1 Sơ đồ tổng quan khu du lịch sinh thái Tràng An, tỉnh Ninh Bình
(Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Trang_An-Model.jpg)
 Địa hình:
Địa hình được chia làm hai vùng rõ rệt: vùng núi đá vôi và vùng đồng
bằng.
- Vùng đồng bằng: có diện tích không nhiều, địa hình tương đối bằng phẳng,
đất đai khá màu mỡ nhưng lại xen kẽ nhiều đồi núi thấp trũng do đó chỉ có thể
canh tác một vụ lúa một năm.
- Vùng núi đá vôi: bao gồm những dải núi đá vôi chủ yếu nằm ở phía Tây
Nam huyện Hoa Lư và Đông Bắc huyện Gia Viễn. Địa hình phức tạp có nhiều
dãy núi đá vôi vách dựng đứng ôm trọn cả thung lũng, dưới chân các dãy núi đá
vôi có rất nhiều hàm ếch, cửa hang là dấu tích sự xâm thực của nước biển [7].
 Địa chất

Các nhà địa chất khẳng định khu Tràng An xưa là một vùng biển cổ, qua
quá trình vận động địa chất mà kiến tạo nên. Tràng An minh chứng cho các giai
đoạn cuối cùng của quá trình tiến hóa karst trong môi trường khí hậu nhiệt đới


5

ẩm. Sự đa dạng địa chất địa mạo hiện diện tại khu du lịch Tràng An là kết quả từ
các hoạt động địa chất liên tục qua hàng trăm triệu năm từ kỷ Trias đến Đệ Tứ.

- Hệ sinh thái trên núi đá vôi: các dãy núi đá vôi được tạo thành qua nhiều

thế kỉ. Trên thung có các hốc đá và khe đá tạo thành nơi chứa nhiều mùn để cho
các loại thực vật bám rễ và phát triển. Điều kiện của khu du lịch sinh thái Tràng
An rất thuận lợi cho các loài thực vật sống trên núi đá vôi. Thảm thực vật bao
gồm tràng cây bụi thứ sinh trên núi đá vôi, tràng cây bụi thứ sinh trên đất dày.
Thảm thực vật tự nhiên ở Hoa Lư là rừng trên núi đá vôi và rừng thường
xanh trên đất thấp ở các thung lũng đan xen giữa các vùng đá vôi. Do đặc điểm
môi trường tự nhiên, khu du lịch sinh thái Tràng An có hệ động, thực vật phong
phú, tính đa dạng sinh học cao, theo kết quả điều tra của Viện Điều tra Quy
hoạch Rừng (FIPI) và Chi cục Kiểm lâm Ninh Bình thống kê được 577 loài thực
vật trong đó có 10 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam cần được bảo vệ. Đặc biệt


6

tài nguyên cây thuốc ở đây đa dạng, quý hiếm đã có 311 loài có thể dùng làm
thuốc, thực vật làm cây cảnh có 76 loài. các cây gỗ quý như kiềng kiềng, đinh,
sến, lát rất ít và ở những nơi khó đến, còn lại hiện nay trên núi đá vôi là những
thực vật ít giá trị về kinh tế. Động vật thuỷ sinh trong vùng ngập nước Tràng
An tương đối phong phú, bao gồm 30 loài động vật nổi, 40 loài động vật đáy,
đặc biệt là rùa cổ sọc (Ocadia sinensis) được coi là động vật quý hiếm cần
được bảo vệ [8].
 Động vật trên cạn:

Tuy chưa có thống kê đầy đủ nhưng hiện nay nhân dân địa phương đôi khi
cả khách du lịch vẫn còn gặp những bầy khỉ, sơn dương, tắc kè, mèo rừng, vọoc,
trăn, rắn; các loài chim như sáo, vẹt, khiếu, cò, đặc biệt là phượng hoàng đất –
một loài chim quý hiếm sống thành bầy đàn.
1.1.2 Kinh tế xã hội

324,0 tỷ đồng, tăng 15,2%; doanh thu ăn uống 643,3 tỷ đồng, tăng 15,7%;
doanh thu vận chuyển khách du lịch đạt 248,9 tỷ đồng, tăng 28,9%; doanh
thu bán hàng đạt 242,4 tỷ đồng, tăng 25,1%; doanh thu dịch vụ khác 278,4
tỷ đồng, tăng 14,3% [11].
Người dân tại các khu vực khu du lịch sinh thái Tràng An có thêm những
nguồn thu nhập từ ngành du lịch bên cạnh ngành thu nhập chính là nông nghiệp.
Điều này có thể làm giảm sự tác động tới đa dạng sinh học tại khu du lịch sinh
thái Tràng An do các hoạt động sinh kế của người dân nơi đây.
- Các giá trị văn hóa

Khu du lịch sinh thái Tràng An không chỉ có giá trị về mặt sinh thái tự
nhiên, các giá trị khảo cổ học mà còn chứa đựng nhiều yếu tố văn hóa, tâm linh.
Mỗi hang động có một tên riêng gắn liền với một truyền thuyết riêng.
- Lễ hội:
Do được hình thành trong một không gian văn hóa lại nằm trên một mảnh
đất truyền thống hàng ngàn năm lịch sử - Cố đô Hoa Lư nên khu du lịch sinh
thái Tràng An là nơi chứng kiến và có nhiều lễ hội truyền thống gắn với các di
tích lịch sử có ý nghĩa như [7]:
+ Lễ hội Cố đô Hoa Lư (Lễ hội Trường Yên): được tổ chức từ mùng 8 đến
13/3 hàng năm tại xã Trường Yên. Đây là một lễ hội truyền thống được mở ra để
suy tôn công lao các vị anh hùng dân tộc đã xây dựng kinh đô Hoa Lư lập ra nhà
nước Đại Cồ Việt thế kỉ X mà tiêu biểu là hai vị vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại
Hành. Lễ hội diễn ra tại quảng trường trung tâm khu di tích cố đô Hoa Lư và các
di tich. Đây là một lễ hội truyền thống hướng về cội nguồn của dân tộc
+ Lễ hội chùa Bái Đính: lễ hội được tổ chức từ mùng 6 tháng Giêng đến hết


8

tháng ba âm lịch hàng năm, khởi đầu cho những cuộc hành hương về mảnh đất


9

gọi là đường xoắn (suture). Một vài loài vỏ mỏng có đường thứ sinh hay một
đường rộng (broad), thêm vào một dãy mờ đục (opaque) bên cạnh đường xoắn
như đường xoắn kép. Hầu như trong các mẫu vỏ, vòng xoắn rộng nhất là vòng
xoắn cuối (last whorl). Đỉnh của vòng xoắn (apex), đối diện với đáy (base). Phần
mở ra bên ngoài của vỏ gọi là miệng vỏ (aperture) [12].

Chiều cao vỏ

Chiều cao miệng vỏ
Vành miệng
Chiều rộng vỏ

Hình 1.2 Sơ đồ cấu tạo vỏ ốc cạn
(Nguồn: http://thesistut.com/snail-anatomy-diagram.html)
- Vỏ ốc (Shell): là một ống rỗng dài chứa cơ thể ốc, cuộn vòng quanh một

trục tạo nên các vòng xoắn, khởi đầu từ đỉnh vỏ và kết thúc ở miệng vỏ. Hình
dáng vỏ rất đa dạng có thể là hình cầu, hình nón, dạng tháp xoắn, hình trụ, dạng
con quay, dạng xoắn dài, dạng cuộn trong… Vỏ có màu sắc rất đa dạng, mỗi
loài, thậm chí mỗi cá thể trong loài có màu sắc khác nhau.
Thông thường vỏ cuộn có các dạng như: Dạng chóp dài, dạng hình trụ,
dạng nón ovan, dạng ovan dài, dạng xoắn ốc dẹt, dạng xoắn ốc, dạng xoắn ốc
nón [13].
- Đỉnh vỏ (apex): là điểm khởi đầu của các vòng xoắn, là nơi hình thành các

vòng xoắn đầu tiên của vỏ (còn gọi là vòng xoắn phôi), các vòng xoắn này


thể phân biệt các dạng lỗ rốn: dạng đóng, dạng vết lõm và dạng mở [12].
1.2.2 Đặc điểm sinh học và sinh thái học
Các loài ốc cạn phân bố rộng ở nhiều dạng địa hình và sinh cảnh khác nhau.
Trên môi trường cạn, ốc và sên trần thường ưa sống ở những nơi ẩm ướt, giàu mùn
bã thực vật, rêu và tảo. Trong số các môi trường sống, rừng tự nhiên, rừng trên núi
đá vôi có nhiều yếu tố thuận lợi cho ốc cạn sinh sống như tầng thảm mục dày, độ
ẩm cao, có nhiều khe đá ẩm ướt, hàm lượng canxi cao giúp hình thành lớp vỏ.


11

Vào mùa mưa, các hoạt động kiếm ăn, sinh sản của ốc cạn diễn ra mạnh hơn.
Trong khi đó, với mùa lạnh và khô, do môi trường sống không thuận lợi (về nhiệt
độ, độ ẩm, thức ăn...) chúng có thời kỳ ngừng hoạt động (ngủ đông). Nhiều loài
trong nhóm ốc có phổi, lỗ miệng không có nắp miệng được bít kín bằng một
màng được làm bằng chất nhày do chúng tiết ra [14].
Trong tự nhiên, các loài ốc cạn thường hoạt động mạnh vào ban đêm vì
thời tiết ẩm ướt, mát mẻ nên nên khi trời mưa, trời nhiều mây hoặc vào ban đêm
sẽ có thể dễ dàng tìm thấy ốc cạn. Ở vùng núi, phần lớn các loài ốc cạn tập trung
phân bố (cả số lượng loài và số lượng cá thể trong mỗi loài) ở khu vực chân núi
và sườn núi, tính đa dạng giảm rõ rệt ở khu vực đỉnh núi do điều kiện tự nhiên
không thuận lợi [15].
Các sinh cảnh tự nhiên như núi đá vôi, hang động... có rất nhiều yếu tố
thuận lợi cho ốc cạn sinh sống. Bên cạnh đó, môi trường tác nhân do các hoạt
động sinh kế của con người theo hướng bất lợi cho sinh vật đã làm giảm tính đa
dạng sinh học, nhiều đặc tính của môi trường bị biến đổi. Phân bố của ốc cạn
giữa sinh cảnh tự nhiên và nhân tác có sự khác nhau rõ rệt. Sự phát tán của ốc
cạn thường mang tính chủ động, chúng di chuyển và mở rộng khu vực sống tìm
môi trường thích hợp để sinh sống.
Ốc cạn có giá trị thực tiễn đối với con người cũng như hệ sinh thái. Một số

Đầu thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XXI là thời kỳ phát triển mạnh của ngành
khoa học nghiên cứu cơ bản về sinh vật nói chung và ốc cạn nói riêng. Hầu hết
các phát hiện trong giai đoạn này có số lượng lớn, được công bố bởi nhiều nhà
khoa học, tiến hành trên phạm vi rộng khắp thế giới, tiêu biểu có các công trình
có ý nghĩa và có giá trị khoa học cao thuộc các tác giả: Pfeiffer (1848-1877);
Fischer và Dautzenberg (1904); Mabille (1887)… Giai đoạn này nhiều bảo tàng
trên thế giới đã thu thập được một số khối lượng mẫu lớn, các tác giả đã công bố
được các mô tả chi tiết hơn về hình thái và giải phẫu. Quá trình nghiên cứu trong
giai đoạn này đã tạo đà nghiên cứu sâu và rộng hơn về ốc cạn trên toàn thế giới.
Tuy nhiên vì kết quả nghiên cứu và các công bố trước đây (cả mẫu vật và tài liệu
in ấn) chỉ tập trung ở một số bảo tàng lớn trên thế giới nên việc tiếp cận và sử
dụng các tài liệu này còn hạn chế và không phổ biến [20],[21],[22].
Khu hệ ốc cạn của các nước lân cận Việt Nam cũng được quan tâm nghiên
cứu nhưng ở các mức độ khác nhau giữa các quốc gia. Khu hệ Thân mềm Chân
bụng Trung Quốc được công bố bởi nhiều tác giả, tiêu biểu như Moellendorff


13

(1882, 1885, 1886), Fischer và Dautzenberg (1904), Teng Chieng Yen (1939,
1941, 1948), Shannon’s & Weiner, 1963 [18],[23],[24],[25].
Năm 2009, dẫn liệu có tính tổng quan về khu hệ ốc cạn của Thái Lan được
công bố bởi Panha và ctv [26].
Crosse và Fischer công bố lần đầu về dẫn liệu về ốc cạn của Lào và
Campuchia năm 1863 cùng với dẫn liệu về nhóm trai ốc nước ngọt, những
nghiên cứu ban đầu này là những hoạt động khảo sát chung trong cả vùng Đông
Dương [26]. Thành phần loài được tìm thấy và công bố trong các công trình
nghiên cứu chung về trai ốc nước ngọt, ở cạn và ở biển của vùng Đông Dương
từ đầu thế kỷ XIX tới năm 1900 đã được tổng hợp trong công trình tổng quan
của Fischer (1891) về danh mục và phân bố địa lý của ốc ở cạn, nước ngọt và ốc

thiên nhiên Pù Luông (Thanh Hóa), vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình),
Phủ Lý (Hà Nam), một số đảo thuộc Vịnh Hạ Long, dãy núi đá vôi khu vực Cẩm
Phả (Quảng Ninh) và ở đảo Cát Bà của Vermeulen và Maassen (2003) trong
chương trình khoa học quốc tế FFI (Flora and Fauna International). Thời gian và
địa bàn khảo sát còn hạn chế, tuy nhiên công trình đã công bố 259 loài và phân
loài thuộc 23 họ, 77 giống [32].
Trong giai đoạn 2007 đến 2013, một số công trình nghiên cứu trên diện
rộng từ miền Trung ra miền Bắc như: Nghiên cứu khu hệ ốc cạn miền Bắc Việt
Nam của nhóm nghiên cứu Ohara, Okubo, Otani, Lương Văn Hào (2008) phát
hiện được 107 loài thuộc 17 họ; Ohara, Okubo, Ishibe, Nakahra, Otani, Lương Văn
Hào, Phạm Văn Sáng (2007 - 2013) với số lượng loài tới gần 200 loài thuộc 20 họ
được thực hiện là một số công trình nghiên cứu có sự kết hợp chặt chẽ giữa Việt
Nam và nước ngoài [33].
Năm 2011, Schileyko đã tu chỉnh toàn bộ các loài ốc ở cạn thuộc bộ
Stylommatophra, phân lớp ốc Có phổi (Pulmonata) được các tác giả trước thu thập
và nghiên cứu tại Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến thế kỷ XX [34].
Từ năm 2009 đến năm 2014, Đỗ Văn Nhượng và nhóm nghiên cứu thuộc
Trung tâm Động vật đất, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã có hàng loạt công bố
về thành phần loài ở một số khu vực phía Bắc Việt Nam như: 36 loài ở núi Voi
(An Lão, Hải Phòng) thuộc 28 giống, 14 họ và 4 bộ trong đó họ Ariophantidae (7
loài, 6 giống), Camaenidae (6 loài, 5 giống), Subulinidae (6 loài, 4 giống),
Cyclophoridae (6 loài, 2 giống) chiếm ưu thế về thành phần loài; 54 loài và phân
loài ở khu vực Tây Trang, tỉnh Điện Biên thuộc 35 giống, 15 họ, 3 bộ và 2 phân



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status