MỤC LỤC
TT
Nội dung
1
MỞ ĐẦU
Tran
g
2
1.1
Lí do chọn đề tài
2
1.2
Mục đích nghiên cứu
2
1.3
Đối tượng nghiên cứu
2
Các giải pháp thực thực hiện
7
2.3
2.4
3
2.3.1. Giải pháp thứ nhất: Xác định một số sai lầm mà học sinh
thường mắc phải khi giải các bài toán về phân số.
2.3.2. Giải pháp thứ hai: Đề xuất cách giải 2 dạng toán cơ bản về
phân số ở dạng tổng quát để học sinh dễ phân biệt và biết cách ra đề
bài tương tự.
7
10
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
19
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
19
Kết luận
Kể từ năm học 1995 – 1996, các vấn đề về phân số, tỉ số đã được chính thức
đưa vào chương trình toán ở bậc tiểu học và trở thành một chủ đề quan trọng trong
chương trình lớp 4 và lớp 5 . Từ đó đến nay các bài toán về phân số luôn luôn xuất
hiện trong trong các kì Giao lưu câu lạc bộ “Em yêu Toán” ở bậc Tiểu học. Vì thế
giải thành thạo các bài toán về phân số là một yêu cầu đối với tất cả các em học
sinh ở cuối cấp bậc tiểu học, đặc biệt là đối với các em học sinh Câu lạc bộ, học
sinh năng khiếu về môn Toán.
Sau một quá trình giảng dạy và bồi dưỡng học sinh câu lạc bộ “Em yêu
Toán”, học sinh năng khiếu về môn Toán tôi thấy học sinh thật không dễ dàng nhận
ra hai dạng toán cơ bản về phân số là tìm giá trị một phân số của một số và tìm một
số biết giá trị phân số của số đó. Làm thế nào để giúp học sinh phận biệt hai dạng
toán đố này là một câu hỏi khiến tôi trăn trở suy nghĩ. Với vốn kiến thức nhỏ bé tôi
xin đưa ra cái gọi là “Kinh nghiệm giúp học sinh phân biệt cách giải hai dạng
toán cơ bản về phân số” dành cho việc tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ toán lớp 5, bồi
dưỡng học sinh năng khiếu về môn Toán. Hi vọng khi đọc sáng kiến này, giáo viên
và học sinh sẽ có thêm một chút kĩ năng nhận dạng bài toán đố về phân số.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
- Hệ thống lại hai dạng toán cơ bản về phân số các em đã được học ở lớp 4,
trên cở sở đó phát triển mở rộng kiến thức về 2 dạng toán này.
- Làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, giáo viên ngành Giáo dục tiểu học
khi dạy học nội dung phân số.
- Giúp học sinh có thêm kĩ năng giải toán phân số, sử dụng thành thạo và vận
dụng một cách linh hoạt các kiến thức được học vào thực tế đời sống.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh lớp 5.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
Tiến hành tìm hiểu, đọc và nghiên cứu, chọn lọc các tài liệu liên quan đến đề
+ Trí tưởng tượng còn chịu tác động nhiều của hứng thú, kinh nghiệm sống
và mẫu vật đã biết. Lứa tuổi tiểu học (6 - 7 tuổi đến 11 – 12 tuổi) là giai đoạn mới
của phát triển tư duy – giai đoạn tư duy cụ thể. Trong một chừng mực nào đó, hành
động trên các đồ vật, sự kiện bên ngoài còn là chỗ dựa hay điểm xuất phát cho tư
duy.
+ Học sinh tiểu học bước đầu có khả năng thực hiện việc phân tích tổng hợp,
trừu tượng hóa – khái quát hóa và những hình thức đơn giản của sự suy luận, phán
đoán. Ở học sinh tiểu học, phân tích và tổng hợp phát triển không đồng đều, tổng
hợp có khi không đúng hoặc không đầy đủ dẫn đến khái quát sai trong hình thành
khái niệm.
+ Các khái niệm toán học được hình thành qua trừu tượng hóa và khái quát
hóa nhưng không thể chỉ dựa vào tri giác bởi khái niệm toán học còn là kết quả của
thao tác tư duy đặc thù.
- Mục tiêu dạy học môn toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh:
+ Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số, số
thập phân, các đại lượng thông dụng, một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản.
+ Hình thành kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải toán có nhiều ứng dụng
thiết thực trong đời sống.
+ Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí và
diễn đạt chúng (nói và viết), cách phát hiện và giải quyết những vấn đề đơn giản,
gần gũi trong cuộc sống, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán, góp
phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học,
chủ động, linh hoạt, sáng tạo.
2.1.2. Vai trò của bài tập toán và ý nghĩa của việc giải toán.
- Vai trò của bài tập toán:
+ Khái niệm bài toán [2,Tr151] Theo Pôlya viết: “Bài toán đặt ra sự cần thiết
phải tìm hiểu một cách có ý thức phương tiện thích hợp để đạt tới một mục đích
trông thấy rõ ràng nhưng không thể đạt được ngay”. Ở đây chúng ta hiểu: Bài toán
là yêu cầu cần có để đạt được một mục đích nào đó.
+ Vai trò của bài tập toán Môn toán có vai trò hết sức quan trọng với sự phát
kiểm tra mình về năng lực, về mức độ tiếp thu và vận dụng kiến thức đã học.
+ Việc giải toán có tác dụng lớn gây hứng thú học tập cho học sinh, phát
triển trí tuệ và giáo dục, rèn luyện con người học sinh về rất nhều mặt.
2.2. thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
- Thực trạng:
+ Đặc điểm tình hình:
Năm học 2017 – 2018, tôi được phận công chủ nhiệm câu lạc bộ toán lớp
5A.
Ngay từ đầu năm học, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng học sinh khối 5,
tôi ra đề kiểm tra có một phần khó để nắm được khả năng học toán của từng học
sinh.
Đề kiểm tra như sau : (Thời gian làm bài 40 phút)
Bài 1: Tính:
a. 3867 + 498 – 867
b. 45348 : 12 + 198
Bài 2: Tìm x :
a. x + 438 = 92 �13
b. 54 �x = 900 – 46 �x
Bài 3: Một lớp học có 28 học sinh, trong đó số em nam bằng
2
số em nữ.
5
Hỏi lớp học đó có bao nhiêu em nữ, bao nhiêu em nam ?
Bài 4: Một hình chữ nhật có chu vi 42 cm. Chiều rộng bằng
Tính diện tích của hình chữ nhật đó.
Bài 5: Tính bằng cách thuận tiện:
a. 37 �6 55 + 44 �376 + 376
Dựa vào kết quả khảo sát, tôi đã định hướng cho học sinh viết đơn tham gia
câu lạc bộ. Kết quả có 18 học sinh tự nguyện tham gia câu lạc bộ toán.
+ Khảo sát chất lượng học sinh câu lạc bộ:
Sau khi cho học sinh ôn tập lại về phần phân số, tôi thấy học sinh câu lạc bộ
cơ bản nắm được kiến thức yêu cầu nhưng vẫn còn lúng túng khi giải toán. Để hiểu
rõ thực trạng này tôi cho học sinh làm bài kiểm tra:
Đề bài:
Bài 1: Một người bán một tấm vải dài 75m. Lần thứ nhất người đó bán được
2
5
tấm vải, lần thứ hai bán tiếp được số vải còn lại. Lần thứ ba bán nốt số vải còn
5
9
lại. Hỏi mỗi lần người đó bán được bao nhiêu mét vải ?.
Bài 2: Một người bán một tấm vải . Lần thứ nhất người đó bán được
vải, lần thứ hai bán tiếp được
2
tấm
5
5
số vải còn lại. Lần thứ ba bán 20m thì vừa hết. Hỏi
9
tấm vải người đó đem bán dài bao nhiêu mét ?.
Thời gian làm bài là 20 phút.
Kết quả thu được như sau:
Số học sinh được
Từ thực trạng trên để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn toán Câu
lạc bộ nói chung, chất lượng bồi dưỡng học sinh năng khiếu về môn Toán nói riêng
và tháo gỡ phần nào những khó khăn của học sinh trong việc phân biệt cách giải 2
dạng toán cơ bản về phân số, tôi tiến hành cải tiến cách dạy theo hướng sau:
2.3. Các giải pháp thực hiện.
Khi được giao nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh câu lạc bộ lớp 5, học sinh năng
khiếu Toán tôi cố gắng sưu tầm tài liệu để tham khảo, tôi thấy hệ thống các chuyên
đề nâng cao rất rộng, trong mỗi chuyên đề lại có nhiều dạng khác nhau. Tuy nhiên
nếu chỉ ôn luyện cho học sinh những bài toán có sẵn trong tài liệu bồi dưỡng thì
chưa đạt được kết quả cao mà người giáo viên phải biết tìm tòi các đặc điểm chung
để phân dạng bài toán rồi sáng tác thêm các đề toán mới dựa trên những cơ sở chắc
chắn về đại số và đề toán có sẵn để kích thích được tính tìm tòi, ham hiểu biết,
khích lệ được niềm say mê giải toán ở học sinh. Nhằm giúp học sinh phân biệt cách
giải hai dạng toán cơ bản về phân số, tôi xin đưa ra một số giải pháp như sau:
- Xác định một số sai lầm mà học sinh thường mắc phải khi giải các bài toán
về phân số.
- Đề xuất cách giải ở dạng tổng quát và đưa ra phương pháp giải một số bài
toán cụ thể thuộc hai dạng đê học sinh hiểu rõ và biết cách ra thêm các đề toán
tương tự.
- Kiểm tra kết quả nhằm khẳng định sự tiếp nhận của học sinh về cách giải
các bài toán về phân số.
2.3.1. Giải pháp thứ nhất: Xác định một số sai lầm mà học sinh thường mắc
phải khi giải các bài toán về phân số.
Học sinh không giải được một bài toán hoặc giải được bài toán nhưng không
đúng kết quả do rất nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân thường được các thầy cô cho
rằng học sinh không chú ý nghe giảng, không chịu làm bài tập ứng dụng dẫn đến
việc nắm kiến thức không vững... Tuy nhiên đó chỉ là những cái khái quát, nhìn sơ
lược từ bên ngoài của các thầy cô giáo, các bậc phụ huynh mà ít ai trực tiếp nghiên
cứu và đi sâu phân tích vấn đề vì sao học sinh không giải được bài toán như vậy.
Với học sinh có năng học toán tham gia câu lạc bộ thì cũng không loại trừ trường
2
2
số học sinh là
của 30 thì học
3
3
sinh tìm ngay ra cách giải đơn giản:
Tính số học sinh namsố học sinh nữ
Tính số phần học sinh nữ trong lớp số học sinh nữ.
- Sai lầm khi giải bài toán học sinh còn nặng về trí nhớ máy móc, tư duy
chưa linh hoạt:
Ví dụ: Một cửa hàng bán gạo, buổi sáng bán được
được
1
số gạo, buổi chiều bán
2
1
số gạo còn lại thì cửa hàng còn 2 tạ gạo. Hỏi cửa hàng có bao nhiêu kg
5
gạo?
Có tới 12 học sinh giải như sau:
Đổi 2 tạ = 200 kg
Phân số chỉ số gạo còn lại là:
1 –(
quãng đường AB dài 12 m. Hỏi quãng đường AB dài bao
10
nhiêu ki – lô - mét (Bài số 3 trang 16 – Toán 5)
Học sinh làm là:
Bài giải:
1 phần quãng đường dài là:
12 : 3 = 4 (km)
Quãng đường AB dài là :
4 x 10 = 40 (km)
Đáp số : 40 km
Mặc dù học sinh có kết quả đúng nhưng cách diễn đạt ở lời giải thứ nhất sai.
Phải nói rõ là
1
quãng đường thì mới đúng. Sai lầm này nếu không được sửa thì
10
sau này ở các bài toán có số phần khác nhau HS sẽ không phân biệt được, lời giải
thiếu chính xác sẽ dẫn tới kết quả sai.
- Sai lầm khi học sinh không phân biệt được phần nào của bài toán thuộc
dạng 1, phần nào của bài toán thuộc dạng 2.
Ví dụ: Một giá sách có 3 ngăn: Số sách ở ngăn thứ nhất bằng
ngăn thứ 3, số sách ở ngăn thứ hai bằng
2
số sách ở
3
Số sách ở ngăn thứ hai: 60 :
Như vậy là các em chưa phân biệt được 2 dạng và thậm chí còn nghĩ trong 1
bài toán không thể áp dụng cả 2 dạng nên cho rằng tìm số sách ở ngăn thứ hai, thứ
ba giống như tìm số sách ở ngăn thứ nhất mà không biết chỉ cần quay lại đề bài và
phân tích thành bài toán tìm
3
3
của 60; tìm của 60 là ra ngay.
4
2
Tóm lại: Trên đây chỉ là một số những sai lầm mà học sinh thường mắc phải.
Tuy nhiên một học sinh có thể mắc sai lầm này, một học sinh lại có thể mắc sai lầm
khác vào lúc này hoặc lúc khác thậm chí có thể sai lầm này đan xen sai lầm khác
làm cho học sinh giải toán sai. Vì thế để giúp học sinh khắc
phục những sai lầm, giáo viên cần đưa ra phương pháp giải thực sự khoa học từ đó
học sinh có thể phân dạng được bài tập để biến những bài toán khó trở thành những
bài toán đơn giản đã biết cách giải và giải được.
Để hiểu rõ hơn điều này, tôi tiếp tục cho học sinh làm bài kiểm tra sau:
(Bài kiểm tra làm trong 20 phút)
Đề bài:
Bài 1: Trong đợt thi đua học tập, ba tổ của lớp 5A đạt được tất cả 120 điểm
10. Trong đó tổ một đạt được
1
22,2%
5. Số bài không sai lầm
2
11,2%
Nhìn vào bảng trên ta thấy số lượng bài mắc sai lầm quá nhiều (88,9%) và đa
số là nhầm lẫn giữa hai dạng toán cơ bản về phân số vì vậy tôi quyết tâm sẽ giúp
HS khắc phục nhược điểm này.
2.3.2. Giải pháp thứ hai: Đề xuất cách giải 2 dạng toán cơ bản về phân số
ở dạng tổng quát để học sinh dễ phân biệt và biết cách ra đề bài tương tự:
a. Các bước giải.
Dù là giải theo phương pháp nào thì việc dạy giải toán của người giáo viên
cũng cần phải tiến hành theo một quy tắc nhất định và tuân theo các bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán: thông qua việc đọc bài toán, yêu cầu
các em đọc kỹ để hiểu rõ đề toán.
- Bài toán cho biết cái gì ?
- Bài toán có điều kiện gì ?
- Bài toán hỏi cái gì ?
Ở bước này, giáo viên cần chú ý đến những từ, những thuật ngữ khó mà học sinh
chưa hiểu rõ thì giáo viên cần hướng dẫn, giải thích để học sinh hiểu, từ đó nắm
vững nội dung của bài toán. Sau khi tìm hiểu nội dung bài toán, cần phải xác định
được bài toán thuộc dạng nào ?
Bước 2: Tìm cách giải bài toán.
Là hoạt động gắn với việc phân tích các dữ kiện, điều kiện và ẩn số của bài
toán nhằm xác lập mối liên hệ giữa chúng, đồng thời tìm ra phép tính số học thích
hợp cho việc giải bài toán. Bước này gồm các thao tác sau:
- Minh họa bài toán bằng tóm tắt đề toán (sơ đồ đoạn thẳng, ngôn ngữ ngắn
gọn, lưu đồ, ký hiệu...)
- Lập kế hoạch giải nhằm xác định trình tự thực hiện các phép tính số học.
A
A
m
m
m
; m phần có giá trị là : � m = A � vậy của số A là : A � .
n
n
n
n
n
2
Ví dụ: Tìm
của 15
3
Nếu chia 15 thành 3 phần thì một phần là : 15 : 3 = 5
Hai phần là : 5 x 2 = 10
Vậy
2
2
của 15 là: 15 x = 10.
3
3
- Dạng tổng quát của bài toán “Tìm một số biết giá trị một phân số của
số đó” (Dạng 2)
3
b. Phương pháp giải một số bài toán cơ bản về phân số:
- Các bài toán dạng “Tìm giá trị phân số của một số”
+ Bài toán cho dưới dạng tìm một giá trị phân số của một số với câu hỏi rõ
ràng
3
17
của .
4
56
17
3
51
x =
56
4
224
Tìm
6
của 2,1.
7
6
2,1 x = 1,8
7
5
4
Tìm 2 của 3
1-
3
2
= (số tiền của hai người)
5
5
Số tiền người thứ hai nhận được là:
360.000 x
2
= 144.000 (đồng)
5
Đáp số: 144.000 đồng
Cách 2: Số tiền người thứ nhất nhận được là:
360.000 x
3
= 216.000 (đồng)
5
Số tiền người thứ hai nhận được là
360.000 - 216.000 = 144.000 (đồng)
Đáp số: 144.000 đồng
Từ bài toán này ta có thể sáng tác thêm các bài toán khác bằng cách thay đổi
các đại lượng:
+ Số người từ 2 đến 3 người
số gạo đó.
5
Sau đó lại bán thêm 370kg gạo nữa. Hỏi cửa hàng còn lại bao nhiêu tạ gạo?
Ví dụ 4: Lãi suất tiết kiệm là 0,5% một tháng. Một người gửi tiết kiệm
5.000.000đồng. Hỏi sau 1 tháng số tiền gửi và số tiền lãi là bao nhiêu?
- Các bài toán dạng “ Tìm một số biết giá trị một phân số của số đó”
+ Bài toán cho dưới dạng tìm một số biết giá trị phân số của số đó với câu
hỏi rõ ràng
3
7
số đó là
5
8
7 3
35
Áp dụng cách làm ở dạng 2 ta có: : =
8 5
24
*Tìm một số biết của
*Tìm một số biết
7
10
số đó là
9
13
quãng
đường dài bao nhiêu ki lô mét ? (Bài 3 đề 40- Tuyển tập đề thi HSG lớp 5)
Hướng dẫn học sinh giải :
Cho HS phân tích yêu cầu của bài toán để các em nhận ra cách giải: mấu
chốt của bài toán là các em xác định được 40 chính là giá trị phân số của một số (
độ dài quãng đường) từ đó các em tìm được cách giải như sau:
Bài giải
Phân số chỉ số phần quãng đường hai ngày xe đã đi là:
2 1 11
( quãng đường)
5 3 15
Phân số chỉ số phần quãng đường đi ngày thứ ba là:
11
4
= ( quãng đường)
15
15
4
Vậy 40 km chính là quãng đường nên quãng đường dài là:
15
4
40 :
= 150 (km)
15
1-
Đáp số : 150 km
Bài 2: Một người mỗi tháng ăn hết
Tiền lương mỗi tháng của người đó là:
600000 :
2
15
= 4500000 ( đồng)
Đáp số : 4500000 đồng
Bài 3: Khối lớp 5 của trường tiểu học có ba lớp. Số học sinh của lớp 5A bằng
3
2
số học sinh của khối, số học sinh của lớp 5B bằng số học sinh của lớp 5A, lớp
8
3
5C có 30 học sinh. Hỏi khối lớp 5 của trường có tất cả bao nhiêu học sinh.
Bài giải:
Phân số chỉ số học sinh của lớp 5B là:
3
2
1
x = (số học sinh của khối)
8
3
4
Phân số chỉ số học sinh của cả 2 lớp 5A và 5B là:
1
số điểm 10 của ba tổ, tổ hai đạt được
3
2
số điểm 10 của hai tổ kia, tổ ba đạt được 32 điểm 10. Tính số điểm 10 cả ba tổ.
5
1
3
Ví dụ 2: Một người bán trứng bán lần thứ nhất
số trứng, lần thứ hai bán
5
8
số trứng thì còn lại 17 quả. Hỏi người đó đem bán bao nhiêu quả trứng và mỗi
+ Các bài toán có cả hai dạng cơ bản về phân số.
Tiêu biểu của các bài toán này là loại bài về công việc làm chung, làm riêng
và các bài toán về tỉ số phần trăm. Trong những bài toán này việc học sinh nắm rõ
và phân biệt hai cách giải là vô cùng quan trọng vì nếu nhầm lẫn ở một phần của
bài toán thì sẽ nhầm tiếp ở các phép tính sau dẫn đến kết quả sai.
Bài 1: Bốn người mua chung một tấm vải. Người thứ nhất mua
vải ba người kia mua, người thứ hai mua
1
3
1
2
2
1
tổng số ba người kia mua tức là người thứ hai
3
1
tấm vải.
4
Người thứ ba mua
mua
1
tổng số ba người kia mua tức là người thứ ba
4
1
tấm vải.
5
Phân số chỉ số phần tấm vải 3 người mua là:
1 1 1 47
(tấm vải)
3 4 5 60
Phân số chỉ 13m vải người thứ tư mua là :
1-
4
1
60 = 12 (m)
5
60
Đáp số: Tấm vải dài 60 m
Người thứ nhất mua 20m ; người thứ hai mua 15m, người thứ ba mua 12m
Bài 2: Nước biển chứa 5% muối. Cần bỏ thêm bao nhiêu ki lô gam nước lã
vào 20 kg nước biển để được dung dịch 2% muối?
Bài giải
Lượng muối trong 20 kg nước biển 5% muối là:
5
= 1 (kg)
100
20
( Dạng 1)
Để có dung dịchnước biển 2% muối thì lượng nước cần là:
1:
2
= 50 (kg)
100
3
5
của m
2
9
Bài 2: Một hình thang có đáy bé dài 12m, đáy lớn bằng
4
đáy bé. Khi kéo dài
3
đáy lớn thêm 5dm thì diện tích hình thang tăng thêm 20dm2. Tìm diện tích
hình thang lúc đầu.
*Hướng dẫn học sinh tính đáy lớn bằng cách tìm
4
của 12
3
Bài 3: Một hồ nước hình chữ nhật dài 8m, rộng 6m. Khi người ta đổ vào hồ
129,6m3 nước thì mực nước lên đến
3
chiều cao của hồ. Tính chiều cao của hồ
5
nước này?
3
chiều cao của hồ là 2,7m,
5
phát trước mấy giờ để đến B cùng lúc với ô tô thứ nhất? Biết quãng đường AB là
150 km.
*Ở bài toán này học sinh có thể giải theo 2 cách sau khi tìm thời gian ô tô
thứ nhất đi, học sinh tìm thời gian ô tô thứ hai đi rồi so sánh để tìm ra thời gian cần
đi trước. Bằng cách này học sinh phải tính vận tốc ô tô thứ hai tức là tìm
3
của
5
60.
Làm theo cách thứ hai sau khi tính thời gian ô tô thứ nhất đi dựa vào mối
quan hệ giữa vận tốc và thời gian tính được tỉ số thời gian là
3
5
, học sinh lại tìm
5
3
của 2,5 giờ
Bài 2: một người đi xe đạp với vận tốc 15km/giờ. Đi từ A lúc 8 giờ 15 phút
và đến B lúc 10 giờ 15 phút. Một người đi xe đạp khác có vận ttóc bằng
2
vận tốc
3
16
1
(Tìm một số biết
số đó là 1)
16
Tính quãng đường một giờ bèo trôi được
Kiểm tra kết quả nhằm khẳng định sự tiếp nhận của học sinh về cách
giải các bài toán về phân số.
Sau khi áp dụng những phương pháp giúp học sinh phân biệt cách giải hai
dạng toán cơ bản về phân số theo hướng đã trình bày, tôi tiến hành cho học sinh
làm bài kiểm tra để biết kết quả:
Đề bài kiểm tra như sau: ( Thời gian làm bài 40 phút)
Bài 1: Tổng số tuổi của ba cha con là 85 ,trong đó tuổi con gái bằng
2
tuổi
5
3
tuổi con gái .Tính số tuổi từng người .
5
1
1
Bài 2: Một người bán dừa bán lần thứ nhất số dừa, lần thứ hai bán số
4
2
cha,tuổi con trai bằng
Chưa hoàn
thành
0
0
Hoàn thành
Hoàn thành tốt
2
11,1
16
61,1%
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
- Đối với bản thân:
Từ thực tế áp dụng phương pháp tích cực trong hướng dẫn học sinh phân
loại bài toán, tôi thấy học sinh đã có nhiều tiến bộ điều này thể hiện rõ ở việc các
em biết tháo gỡ điểm nút của bài toán, tìm cách đưa bài toán về dạng cơ bản hoặc
kết hợp với các tuyến kiến thức khác để tìm cách giải toán. Đa số học sinh đã hiểu
rõ bản chất và phân biệt được cách giải hai dạng toán cơ bản về phân số qua tỉ lệ
học sinh mắc sai lầm đã giám hẳn từ 88,9% xuống còn 11,2%
Cụ thể như sau:
Nguyên nhân sai lầm
Số bài
Tỉ lệ (%)
Thường xuyên theo dõi học sinh khi làm để nhận thấy lỗi của học sinh.
Xác định được nguyên nhân dẫn đến học sinh giải sai để có biện pháp
giúp học sinh khắc phục sai lầm.
Trong khi hướng dẫn học sinh giải toán theo dạng này, có nhiều bài toán
mà học sinh chưa hiểu được nội dung có thể do sự hiểu biết của các em, cũng có
thể do sự thể hiện của bài toán. Giáo viên có thể chuyển bài toán về cách diễn đạt
khác trên cơ sở nội dung và yêu cầu của bài toán đó để giúp học sinh dễ dàng hơn
trong việc nắm được nội dung và phương pháp giải.
Với việc bồi dưỡng học sinh CLB, học sinh năng khiếu ngoài điều kiện là
giáo viên cần nghiên cứu bài thật kĩ để nắm được bản chất của vấn đề để từ đó định
hướng cho học sinh làm bài thì yêu cầu dạy phương pháp học cho học sinh cũng
hết sức quan trọng bởi vì đây là cách tốt nhất phát triển khả năng sáng tạo của các
em để các em học tốt hơn ở những năm tiếp theo.
3.2. Kiến nghị.
* Đối với giáo viên được giao nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh CLB, học sinh
năng khiếu về môn Toán: Tích cực tự học, đọc thêm tài liệu như các sách bồi
dưỡng, tạp chí Toán tuổi thơ,…; thường xuyên thu thập thông tin có liên quan trên
mạng.
* Đối với nhà trường: Nhà trường cần tạo điều kiện về thời gian, trang thiết
bị cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
* Đối với Phòng Giáo dục và đào tạo: Hằng năm duy trì tổ chức tốt các cuộc
giao lưu Câu lạc bộ “Em yêu Toán” để giáo viên và học sinh các trường học tập
kinh nghiệm với nhau .
Để hoàn thành đề tài, bản thân tôi đã có nhiều cố gắng song do trình độ và
kinh nghiệm còn hạn chế nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy
tôi rất mong được sự góp ý, chỉ bảo, giúp đỡ của các bạn đồng nghiệp để đề tài
được hoàn thiện hơn giúp tôi áp dụng vào giảng dạy có hiệu quả.
Tôi xin chân thành cảm ơn!