Một số biện pháp giáo dục rèn luyện giúp học sinh cá biệt, học sinh khó khăn phát triển toàn diện - Pdf 51

MỤC LỤC

Mục
1.

Nội dung
MỞ ĐẦU

1.1.

Lí do chọn đề tài

1.2.

Mục đích nghiên cứu.

1.3.

Đối tượng nghiên cứu

1.4.

Phương pháp nghiên cứu.

2.

NỘI DUNG

2.1.

Cơ sở lí luận

trọng. Bậc tiểu học là bậc học nền tảng, vì nó là bậc học đầu tiên có nhiệm vụ
phải xây dựng toàn bộ nền móng cho hệ thống giáo dục quốc dân để đặt cơ sở
vững chắc cho sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam trong thời kì tiến
nhanh và hội nhập. Nếu học sinh không đạt kết quả tốt ở bậc Tiểu học thì khó
tiến bộ được trong những năm tiếp theo. Để đáp ứng được yêu cầu đổi mới của
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì ngành giáo dục, nhất là bậc
Tiểu học đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển con
người.
Việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện là yêu cầu cần thiết của giáo
dục hiện nay. Trong xã hội ngày càng phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt, nhiệm
vụ của công tác giáo dục đứng trước những đòi hỏi mới. Nhằm góp phần vào
việc thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục toàn diện, hình thành cho học sinh
những yếu tố nhân cách của con người; cũng là để góp phần vào việc thực hiện
tốt công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng đọ tuổi. Tuy nhiên, mỗi học sinh
được sinh ra trong một hoàn cảnh, điều kiện khác nhau điều đó có ảnh hưởng rất
lớn đến việc nhận thức cũng như học tập của từng em. Bởi vì không phải phụ
huynh nào cũng may mắn có được những đứa con thông minh, khỏe mạnh, giỏi
giang, có tư chất tốt và hoàn toàn đủ điều kiện cả về sức khỏe thể chất lẫn sức
khỏe tinh thần để hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập. Thực tế hiện nay, ngày càng
có nhiều học sinh gặp các vấn đề khó khăn trong học tập nhất là đối với học sinh
đang theo học ở vùng đặc biệt khó khăn.
Công tác rèn luyện giáo dục học sinh cá biệt trong độ tuổi tiểu học là việc
làm thiết thực nhằm giúp những học sinh đó có nề nếp hoạt động, hòa nhập với
các bạn cùng trang lứa, tạo được niềm tin, tích cực học tập và rèn luyện ở các
em. Góp phần hình thành những kĩ năng sống cơ bản ban đầu phù hợp với lứa
tuổi, phù hợp với đặc điểm từng em góp phần tạo điều kiện tốt cho các em học
lớp trên và phát triển nền tảng nguồn nhân lực có chất lượng sau này. Thực hiện
nâng cao chất lượng toàn diện, trong đó có việc giáo dục học sinh cá biệt, học
sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là công việc chung của gia đình, nhà trường
và xã hội.

1.3. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp giáo dục, rèn luyện học sinh cá biệt, học sinh có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn phát triển toàn diện ở lớp 4A2 - Trường Tiểu học Minh Tiến
II.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã vận dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến giáo
dục, rèn luyện học sinh cá biệt, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin.: Điều tra thực
trạng, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến học sinh cá biệt, học sinh có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn. Qua quá trình giảng dạy trên lớp, qua các buổi sinh hoạt chuyên
môn tổ, bản thân đã thu thập các thông tin để nghiên cứu.
- Phương pháp thực nghiệm: nhằm đối chiếu kết quả, áp dụng các biện pháp
giáo dục học sinh cá biệt, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
- Phương pháp phân tích – tổng kết kinh nghiệm: Phân tích các yếu tố và
tổng kết kinh nghiệm, đề xuất các biện pháp thực hiện đề tài.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
Vấn đề đặt ra “Biện pháp giáo dục, rèn luyện học sinh cá biệt, học sinh có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn phát triển toàn diện” như thế nào ? Có thể nói giáo
viên chủ nhiệm lớp là cầu nối giữa nhà trường với gia đình. Để giáo dục học
3


sinh có hiệu quả thì việc tìm hiểu, nắm vững đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, hoàn
cảnh gia đình, phân loại học sinh lớp chủ nhiệm là việc làm rất quan trọng và
cần thiết. Mỗi học sinh có một hoàn cảnh khác nhau, các em sống trong môi
trường với nhiều mối quan hệ; quan hệ với cha mẹ, anh chị; với thầy cô, bạn bè;
với nhiều người xung quanh, các em sẽ có những ảnh hưởng bởi nhiều tác động.

sinh đến trường còn thiếu sách vở đồ dùng học tập. Học sinh về nhà không ôn
bài, không được kèm cặp, nhắc nhở. Có một số ít phụ huynh rất quan tâm nhưng
họ gặp hạn chế trong việc hướng dẫn, kèm cặp con cái học tập.
b) Đặc điểm tình hình nhà trường.
Trường Tiểu Minh Tiến II là một Trường thuộc xã đặc biệt khó khăn. Trường
gồm có hai điểm (một điểm chính, một điểm lẻ). Năm học 2017-2018, nhà
trường gồm có 212 học sinh, trong đó số học sinh khối 4 gồm có 46 học sinh

4


biên chế trên 3 lớp (2 lớp ở khu chính, 1 lớp ở khu lẻ). Trong quá trình thực hiện
công tác giáo dục, nhà trường có những thuận lợi, khó khăn sau:
* Thuận lợi:
- Đối với giáo viên:
+ GV giảng dạy khối 4 của nhà trường là những giáo viên trẻ, khoẻ, nhiệt tình
yêu nghề và có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn.
+ GV có đầy đủ các tài liệu tham khảo có liên quan và đồ dùng dạy học, biết
sử công nghệ thông tin trong dạy học một cách thành thạo.
+ Được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường qua việc dự giờ, góp ý,
cũng như chỉ đạo có hiệu quả về công tác chuyên môn.
- Đối với học sinh:
+ Ngoan ngoãn, lễ phép, biết vâng lời ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo.
+ Chấp hành tốt các nội quy trường lớp.
* Khó khăn:
- Đối với giáo viên:
Một số giáo viên còn lúng túng, máy móc trong việc quan tâm đúng mức đến
hoàn cảnh của học sinh. Nhiều giáo viên còn dập khuân theo kế hoạch chủ
nhiệm một cách chủ quan, chưa linh hoạt, sáng tạo trong từng tình huống cụ thể.
- Đối với học sinh:


2

5

3

2.3. Các biện pháp thực hiện
Biện pháp 1. Tìm hiểu hoàn cảnh cụ thể từng học sinh cá biệt.
Giáo viên chủ nhiệm điều tra nắm vững những đặc điểm về cá tính, năng lực,
hoàn cảnh gia đình của học sinh cụ thể từng trường hợp như sau.
Các em thường mắc lỗi do gặp phải những khó khăn bẩm sinh như: do khiếm
khuyết một chức năng nào đó đem lại, khó nghe, khó đọc, nói ngọng, khó viết,
khả năng tiếp thu chậm…, cũng có thể do những khó khăn về hoàn cảnh gia
đình (nhà nghèo, gia đình xung đột, đơn độc, mồ côi, …). Có gia đình con cái
học hành thế nào cũng không hay, phó mặc việc học của con em mình cho thầy
cô, nhà trường. Vì vậy nó tác động nhiều đến tâm lí của các em là học hành theo
lối thả lỏng, buông trôi.
Ví dụ : Cụ thể các gia đình kinh tế đặc biệt khó khăn(Bình, Chung, Bá Sơn,
Bùi Sơn, Linh), cha mẹ không hòa thuận hay xung đột (Linh, Bá Sơn) bị lãng
tai, phát âm khó (Chung).
Do vậy việc tìm hiểu những trở ngại trong học tập và những khó khăn về hoàn
cảnh gia đình, về tâm lí của học sinh để chia sẻ và giúp các em tháo gỡ. Vậy làm
thế nào để biết được nguyên nhân của những thái độ, hành vi lệch chuẩn ở học
sinh ? Khắc phục những khó khăn đó ra sao ? Thường gặp trong lớp 4A2 để góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở học sinh như thế nào ?
+ Học sinh thiếu khả năng tập trung: hiếu động thái quá, khó chú ý tập trung
vào một việc cụ thể, vụng về. Giáo viên cần thân thiện, nhẫn nại, biết nhận ra
những mặt mạnh, công nhận sự cố gắng của học sinh để các em có thể đạt được
kết quả trong hoạt động học tập.

học sinh cá biệt theo từng tuần, tháng, chủ điểm và căn cứ vào thực tế của sự
biến đổi của từng học sinh. Tham gia sinh hoạt chuyên môn về chuyên đề bàn về
công tác chủ nhiệm lớp giáo dục học sinh gặp khó khăn trong học tập.
Việc giáo dục học sinh cá biệt có thể mỗi người có một cách khác nhau. Theo
tôi việc giáo dục học sinh cá biệt có thành công hay không thì phụ thuộc vào
người thầy phải là người có “tâm”. Tôi muốn nói ở đây không chỉ là sự yêu thương vô bờ đối với học sinh mà còn là tâm huyết với nghề. Giáo viên chuẩn
mực đến từng hoạt động nhỏ nhất của mình từ lời ăn tiếng nói, ăn mặc, từng cử
chỉ của mình vì trong mắt học sinh thầy cô luôn là “thần tượng”.
Sau khi đã tìm hiểu học sinh cá biệt, biết em đó thuộc loại “cá biệt” nào.
Người giáo viên phải tìm hiểu nguyên nhân làm cho học sinh của mình trở thành
học sinh cá biệt như vậy. Đây là một công việc không hề đơn giản nó đòi hỏi rất
nhiều công phu. Người giáo viên chủ nhiệm phải điều tra tỉ mỉ, gặp gỡ nhiều
người để tìm ra nguyên nhân sâu xa bên trong và có biện pháp hữu hiệu nhất để
giáo dục các em. Giáo dục từng bước, chậm rãi từ những công việc nhỏ.
Về cách xưng hô, không gọi các em là học sinh cá biệt, đặc biệt là trước lớp,
trước mặt người khác. Các em chỉ là những “học sinh chưa ngoan”, những “học
sinh có hoàn cảnh đặc biệt”. Chúng ta gọi các em là “học sinh cá biệt” vậy vô
hình dung chúng ta đã cố tách học sinh đó ra khỏi tập thể lớp. Nhiệm vụ của
giáo viên là giáo dục các em học sinh “chưa ngoan” này trở thành học sinh
ngoan ngoãn, chăm học, vâng lời thầy cô, … Rõ ràng: “Nếu bạn nhìn ai đó với
ánh mắt yêu thương, bạn sẽ không nhìn thấy những nét xấu mà bạn sẽ chỉ nhìn
thấy toàn những nét đẹp mà thôi”.

8


Giáo viên chủ nhiệm ân cần hướng dẫn từng học sinh học tập.
Giáo viên chủ nhiệm tin tưởng giao công việc tập thể phù hợp với khả năng
của các em. Đây là việc làm mang tính hai mặt, đòi hỏi giáo viên phải thường
xuyên giám sát, kiểm tra và động viên kịp thời khi học sinh đạt được thành tích

biệt.
- Giáo viên chủ nhiệm lên kế hoạch thống nhất với kế hoạch của tổng phụ
trách, phối hợp với tổng phụ trách để thực hiện tốt các hoạt động. Trong các
buổi chào cờ giáo viên trực ban nói lên ý nghĩa của hoạt động Đội, Sao nhi đồng
để các em thấy rõ và thực hiện tốt.
- Mỗi giáo viên chủ nhiệm tích cực tham gia phụ trách công tác đội, phấn đấu
xây dựng chi đội mạnh. Phối hợp với tổng phụ trách đội tổ chức cho các em
tham gia các hoạt động thiết thực và bổ ích như: Đại hội liên đội, lao động chăm
sóc vườn hoa cây cảnh trong vườn trường.,....
9


Một số hoạt động Đội trong nhà trường.
- Giáo viên kết hợp với hội cha mẹ học sinh để cùng giúp đỡ trong việc giáo
dục học sinh, không để tình trạng học sinh bỏ học, trốn học..Ngay từ đầu năm
giáo viên tổ chức họp phụ huynh bầu ban đại diện cha mẹ học sinh, chọn những
phụ huynh tiêu biểu làm ban đại diện, nhằm nêu cao tinh thần trách nhiệm chăm
lo việc học hành cho con em mình, tạo sự lan tỏa đến các phụ huynh khác cùng
chung tay chăm lo.
- Ban giám hiệu nhà trường luôn sát sao chăm lo cho về mọi mặt nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục học sinh. Chính vì thế ban giám hiệu nhà trường luôn
năng nổ trong mọi hoạt động và dành được nhiều sự quan tâm ưu ái của các cấp
lãnh đạo cả về vật chất lẫn tinh thần. Đặc biệt trong mùa đông vừa qua học sinh
toàn trường đã được nhận hơn hai trăm chiếc áo ấm từ Thành Đoàn Thành phố
Thanh Hóa lên trao tặng tận tay cho các em.

Hình ảnh học sinh nhận áo ấm đồng phục.
- Tham mưu với Đoàn thanh niên kết hợp cùng nhà trường vận động trẻ em
bỏ học ra lớp và giáo dục trẻ em chưa ngoan nhằm làm tốt công tác phổ cập giáo
dục đúng độ tuổi, đồng thời giúp nhà trường tổ chức tốt các hoạt động xã hội.

- Giáo viên định hướng cho học sinh giải từng bước như sau:
+ Ta thấy đề bài chỉ cho ta biết về số liệu cụ thể của ngày đầu. Vậy ta cần
phải tìm được số vải của ngày thứ hai và ngày thứ ba dựa vào số vải của ngày
đầu
+ Tóm tắt đề bài bằng sơ đồ đoạn thẳng một cách hợp lý nhất. Theo sơ đồ
sau:
Ngày thứ hai :
120m
Ngày thứ nhất:
Ngày thứ ba:
+ Nhìn vào sơ đồ ta tiến hành giải bài toán như sau: Học sinh lên bảng trình
bày bài làm.
Bài 2 (SGK – Trang 48): Tuổi chị và tuổi em cộng lại được 36 tuổi. Em kém
chị 8 tuổi. Hỏi chị bao nhiêu tuổi, em bao nhiêu tuổi? [1].
- Đối với dạng bài toán này phải giúp học sinh hiểu rõ và xác định được đâu
là số lớn, đâu là số bé.
- Vẽ sơ đồ và cần phải giải bài toán theo cách vẽ sơ đồ. Vậy giải bài toán
như sau:
? tuổi
Tuổi của em là:
Tuổi em:
(36 – 8) : 4 = 14 (tuổi)
8 tuổi 36 tuổi
Tuổi của chị là:
Tuổi chị:
36 – 14 = 22 (tuổi)
? tuổi
(hoặc 14 + 8 = 22
(tuổi))
Đáp số: Em: 14 tuổi

dạy học theo nhóm đối tượng. Theo đó, giáo viên đứng lớp sẽ phải phân loại lớp
học thành các nhóm đối tượng học sinh để có phương pháp hướng dẫn, giao bài
tập và kiểm tra phù hợp. Trong tiết dạy phải chia nhóm theo đối tượng, có từng
dạng câu hỏi phù hợp cho từng nhóm đối tượng học sinh và quan tâm nhiều hơn
các em chưa hoàn thành. Nên để các em có cơ hội thảo luận, được phát biểu,
được thể hiện ý kiến của mình trước lớp. Qua đó học sinh chưa hoàn thành sẽ tự
làm bài, tự thực hành các kĩ năng, từ đó giúp các em hoạt động tích cực hơn,
ham học hơn.
Trong quá trình dạy, tôi không dạy theo dạng ra hệ thống bài tập rồi chữa bài,
mà dạy học theo từng dạng bài.
Ví dụ: Dạy Toán dạng bài Luyện tập chung, từng buổi học tôi chỉ hướng dẫn
học sinh chưa hoàn thành cách cộng trừ, nhân, chia các số có ba chữ số như thế
nào, sau đó tôi cho học sinh chủ yếu làm từng bài tập trên bảng và giấy nháp, để
dễ kiểm soát được học sinh, làm thành thục nhiều lần như vậy, các em sẽ nắm
chắc được dạng toán, sẽ biết cách ước lượng một cách nhanh nhất. Khi đã nắm
chắc dạng toán này, lúc đó tôi mới cho học sinh làm vào giấy kiểm tra để xem
các em nắm kiến thức đến mức độ nào. Hôm sau tôi mới cho học sinh chuyển
sang học các dạng khác.
Dạy học phân loại theo nhóm đối tượng trong cùng một lớp có nhiều đối
tượng khác nhau có thể làm cho giáo viên có thể vất vả hơn vì vừa dạy cho đối
tượng học sinh hoàn thành tốt, hoàn thành vừa phải dành thời gian nhiều để rèn
các em chưa hoàn thành. Bước đầu kết quả dạt được đáng khích lệ như sau:

12


Hình ảnh cô Vương Thị Hằng - Hiệu trưởng cùng các học sinh đạt giải Nhất
Rung chuông vàng trong kì Giao lưu CLB “Em yêu Toán Và Tiếng Việt” cấp
huyện năm học 2017 - 2018.
Để có được kết quả như vậy ở những tiết dạy tăng buổi, thông thường tôi

Để thực hiện được thành công, giáo viên cần có những việc làm cụ thể để cho
học sinh thấy được tình cảm yêu thương của mình đối với học sinh. Như: Cô gọi
điện hỏi thăm khi em bị ốm, cô giáo có thể cắt tóc cho em, đính khuy áo cho em,
sửa tà áo, cái khăn quàng đỏ cho em…
Trong giờ ra chơi hay sinh hoạt 15 phút đầu giờ cô giáo thường trò chuyện để
nắm bắt tâm tư nguyện vọng của từng học sinh, tìm ra nguồn gốc nảy sinh
khuyết điểm của học sinh. Khi chiếm được niềm tin của trò, giáo viên hướng
13


cho học sinh thực hiện hoạt động tích cực một cách linh hoạt gợi mở. Lúc nào
thì nghiêm nghị nhắc nhở, lúc nào thi gần gũi, lúc nào thì động viên kịp thời, lúc
nào thì phê bình nhẹ nhàng súc tích, ngắn gọn, có lúc thì phải liên hệ tới việc em
đang làm với một tấm gương hay một điển hình tiến bộ. Giáo viên cần có
phương pháp giáo dục, bền bỉ, kiên nhẫn.
Trong những buổi sinh hoạt cuối tuần giáo viên gây hứng thú cho học sinh
bằng những câu chuyện đạo đức. Cho các em một điểm tựa niềm tin. Đối xử với
các em bằng sự bao dung của người cha, sự nhân từ của người mẹ, sự cảm thông
của người anh người chị và sự thân thiết của người bạn. “Trong tất cả sự chia sẻ
thì sự chia sẻ tinh thần là quý giá nhất”. Giúp học sinh cảm nhận được “Mỗi
ngày đến trường là một ngày vui” . Tạo cho các em có được tâm thế thích học và
thích được đến trường đi học.
Biện pháp 6: Giáo dục học sinh thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp.
- Tổ chức cho tập thể lớp quan tâm tận tình giúp đỡ, như các bạn đến nhà động
viên giúp đỡ bạn, động viên cùng bạn chơi, trao đổi nội dung bài học dưới mọi
hình thức như: thăm hỏi, Đôi bạn cùng tiến. “Sức mạnh mãnh liệt nhất, phi
thường nhất trên thế gian này chính là sức mạnh của tình yêu và sự cảm thông ".
- Thường thì những học sinh cá biệt lại hay có sự tự ti, không giám hoạt động,
hay có những học sinh có thói quen nghịch ngợm trong giờ học, sinh hoạt,...
Vậy làm thế nào để những học sinh này ham thích hoạt động. Giúp học sinh hiểu

Ở địa phương nơi tôi công tác, trình độ dân trí còn thấp, nhiều phụ huynh
chưa thật sự tìm hiểu về kiến thức giáo dục con em mình. Hơn nữa, nhiều gia
đình có hoàn cảnh éo le, con cái để thuận theo tự nhiên, được thế nào hay thế đó.
Chưa kể một số gia đình khác, con để cho ông bà già, bố mẹ làm ăn xa.
Để giáo dục học sinh gặp khó khăn trong học tập là vấn đề khó đòi hỏi sự
kiên trì tỉ mỉ và sự hợp tác của nhiều người, trong đó sự cần thiết là phải phối
hợp với cha mẹ học sinh - người trực tiếp nuôi nấng các em. Để làm tốt điều
này, trước hết giáo viên phải làm tốt công tác tuyên truyền để các bậc phụ huynh
nhận thức đầy đủ về các biên pháp giáo dục học sinh. Trong buổi họp phụ huynh
đầu năm, tôi xây dựng kế hoạch giáo dục học sinh cá biệt thông qua trước phụ
huynh cùng thống nhất phương pháp để thực hiện. Thông qua các cuộc trao đổi
trò chuyện với phụ huynh, tuyên truyền vận động phụ huynh tham gia vào việc
giáo dục con em mình.
Ví dụ: Trường hợp học sinh Vũ Hoàng Mạnh không chăm lo học hành, hay
có hành vi múa máy, đánh các em nhỏ hay các bạn; giáo viên nhắc nhở chỉ bảo
mãi vẫn không thay đổi là bao, vừa hứa xong lại đâu vào đấy, tay chân, mồm
miệng không để yên. Tôi suy nghĩ, sẽ có nguyên nhân nào đó mà chưa tìm ra
được. Tôi đến nhà gặp ông bà của em, ông bà nói rằng nó không nghe lời mà tối
ngày xem phim đánh nhau, chơi gem hành động, phim hoạt hình mà không chịu
học bài. Đầu óc em lúc nào cũng lơ mơ. Tôi đề nghị ông bà không cho em xem
ti vi tùy tiện nữa. Lúc đầu em tỏ ra khó chịu nhưng sau rồi em đã hiểu và có ý
thức học tập tốt hơn.
Có thể trao đổi qua việc đến thăm gia đình học sinh. Thường học sinh cá biệt
thì lại có phụ huynh cá biệt; một là không quan tâm đến việc học của con em,
hoặc không dám đối diện với sự thật về những sai phạm của con mình...thường
những phụ huynh này ít tham gia vào các cuộc họp chung kể cả những lúc có
giấy mời riêng cùng không đến. Đối với đối tượng này giáo viên cần nhiệt tình
hơn, có thể đến thăm gia đình để tìm hiểu điều kiện sinh hoạt của gia đình và
nắm được tình hình của các em ở nhà. Giáo viên tránh nêu một loạt khuyết điểm
của học sinh thì phụ huynh sẽ có sự mặc cảm, hoặc nảy sinh sự tiêu cực, buông

nhiều hình thức khác nhau: Khen trực tiếp học sinh, khen trước lớp, cuối một
giai đoạn, có thể là giữa kì, cuối kì hay sau một đợt thi đua. Giáo viên tổ chức
bình bầu, khen thưởng các em những món quà mà các em thích. Những món quà
tuy nhỏ nhưng cũng là nguồn động viên kịp thời khích lệ học sinh. Đó cũng là
cách ghi nhận sự tiến bộ của các em. Giúp học sinh tự tin với bản thân và
khuyến khích các em nhìn nhận những mặt tích cực của bạn khác.
- Mọi học sinh đều rất thích thú và có nhu cầu được khen thưởng, khuyến
khích, động viên. Học sinh sẽ có cách xử sự tích cực, những hành vi tốt của các
em được củng cố và phát huy.
Lãnh đạo địa phương cùng với BGH nhà trường trao thưởng cho HS
Như chúng ta đã biết việc động viên khuyến khích học sinh tích cực được
thực hiện bằng nhiều hình thức như: một nụ cười, một lời khen ngợi, sự công
nhận trước bạn bè, sự biểu dương trước lớp học hay một phần thưởng;.... Chế độ
khen thưởng tích cực sẽ đạt hiệu quả cao khi gắn với quyền lợi đặc biệt, đầy ý
nghĩa, dành cho những học sinh có những cách cư xử tốt. Ngược lại, những
quyền lợi đó sẽ bị tước bỏ khi học sinh đó có cách cư xử xấu. Vì thế, giáo viên
cần động viên, khuyến khích các em có thái độ hay hành vi tích cực, không bỏ
qua cơ hội khen trước lớp khi học sinh thể hiện tinh thần hợp tác, tiến bộ.
Bản thân học sinh cũng như các bậc phụ huynh càng phấn khởi hơn khi các
em nhận được giấy khen, phần thưởng vào cuối năm học được nhà trường trao

16


tặng. Đây là một thành quả, nỗ lực của cô trò đến ngày được gặt hái thành
công. Tạo thêm động lực để các em tiến xa hơn trong các năm học tiếp theo.
2.4. Kết quả đạt được
Trên đây là tám biện pháp mà tôi đã đúc rút vận dụng để giáo dục, rèn luyện
cho học sinh cá biệt, học sinh có hoàn cảnh khó khăn trong thời gian qua. Với
sự nổ lực vươn lên không ngừng của bản thân mà các em học sinh cá biệt lớp


Kết quả cho thấy việc giáo dục rèn luyện học sinh cá biệt của lớp 4A2 có hiệu
quả cao. Từ đó, chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao rõ rệt. Thực hiện
tốt chỉ tiêu đăng kí giáo dục toàn diện với nhà trường.
3. KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT
3.1. Kêt luận
Qua quá trình thực hiện đề tài này tôi rút ra được một số kinh nghiệm như:
- Giáo dục tích cực sẽ đem đến cho học sinh nhiều điều tốt đẹp như: Các em
có nhiều cơ hội chia sẻ, bày tỏ, được mọi người quan tâm, tôn trọng và lắng
nghe ý kiến; tích cực chủ động hơn trong học tập và rèn luyện; tự tin trước mọi
người; khả năng của học sinh được phát huy.
- Tôi thấy rằng về lâu dài giúp học sinh cảm nhận được môi trường sống hoà
bình, sống vì mọi người, được tôn trọng lẫn nhau, giải quyết được các xung đột
hay mâu thuẫn thông qua thương lượng.

17


- Nhận thấy việc giáo dục tích cực học sinh trong đó có giáo dục học sinh cá
biệt, học sinh có hoàn cảnh khó khăn trong môi trường thân thiện cần tiến hành
đồng bộ từ các cấp quản lí; từ những giáo viên chủ nhiệm thì học trò sẽ được
vận hành trong mội trường giáo dục tích cực thân thiện. Từ đó học sinh thích
học tập, ham hoạt động; dần hình thành kĩ năng sống cho các em.. Hình thành
những con người có nhân cách mới, ứng xử tiến bộ với môi trường sống, với xã
hội. Chúng ta sẽ thành công và đạt hiệu quả cao trong công tác giáo dục.
3.2. Đề xuất
- Đối với nhà trường: Cần tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, các
chuyên đề để phổ biến các kinh nghiệm có chất lượng trong công tác giáo dục,
rèn luyện học sinh cá biệt để giáo viên trong nhà trường học hỏi và vận dụng
vào thực tiễn công tác chủ nhiệm lớp, để góp phần nâng cao chất lượng giáo





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status