1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Các chuyên gia về dạy trẻ đã từng nói: Yêu con trẻ - yêu tương lai! Ta có
thể khẳng định rằng trẻ mầm non nếu nói về thời gian, đây là bước đi đầu tiên
vào cuộc đời mỗi con người, là bước đi quan trọng nhất của cả một đời người.
Thế nhưng không phải tất cả trẻ sinh ra đều được khỏe mạnh phát triển bình
thường, đã có không ít trẻ ngay từ nhỏ mang trong mình một sự khiếm khuyết về
cấu trúc cơ thể, suy giảm các chức năng, hạn chế khả năng hoạt động, khó khăn
trong sinh hoạt học tập, vui chơi và lao động.
Hiện nay tự kỷ là một vấn đề nóng trên toàn thế giới, Việt Nam cũng
không nằm ngoài xu hướng này. Tự kỷ là một dạng khuyết tật đang có xu hướng
gia tăng nhanh chóng trong giai đoạn hiện nay. Trẻ tự kỉ rất cần được hưởng mọi
quyền lợi như những trẻ bình thường, được học trong môi trường bình thường,
vui chơi cùng bạn bình thường. Đó là việc làm mang tính nhân đạo thể hiện
quyền bình đẳng mà công ước quốc tế, luật bảo vệ chăm sóc bà mẹ trẻ em thừa
nhận.
Trẻ tự kỷ có khiếm khuyết trong ba lĩnh vực: Tương tác xã hội, giao tiếp
xã hội và tưởng tượng. Hành vi và sở thích bị thu hẹp và lặp lại. Tự kỷ có năm
thể khác nhau trong đó có nhiều trẻ tự kỷ liên quan đến vấn đề sức khỏe (rối
loạn ngủ, tiêu hóa, động kinh…). Chính những điều này làm cản trở và giảm
hiệu quả của việc nuôi dưỡng, giáo dục và phát triển của trẻ tự kỷ.
Vì vậy, việc giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong trường mầm non hiện
nay là việc làm quan trọng và cần thiết. Hòa nhập xã hội đối với trẻ tự kỷ là nền
tảng vững chắc cho sự phát triển và giáo dục đối với trẻ trong tương lai của trẻ.
Chúng ta cần thiết phải nhìn nhận trẻ tự kỷ là một đứa trẻ bình thường và hoàn
toàn có thể thay đổi tiến bộ được. Để giáo dục trẻ tự kỷ có thể hòa đồng được
với cuộc sống xã hội là cả một quá trình tác động lâu dài. Giáo dục giúp trẻ hòa
nhập không phải là việc đơn giản. Chính vì vậy cần phải có sự tác động kiên trì,
tâm huyết từ thầy cô, bạn bè, cha mẹ và những người thân xung quanh trẻ.
Mặc dù được các cấp lãnh đạo và Ban giám hiệu nhà trường quan tâm chỉ
đạo sát sao nhưng với tôi đây là một vấn đề rất mới mẻ, hết sức khó khăn. Với
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của chúng ta đã có một câu
nói nổi tiếng: “Tàn mà không phế ”, đó cũng chính là thái độ của Đảng, chính
phủ và nhân dân Việt Nam đối với bộ phận người tàn tật.
Kế thừa truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân tộc Việt Nam “Thương
người như thể thương thân”, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến những
người khuyết tật trong xã hội, nhất là đối với trẻ em. Trong điều kiện đất nước
gặp nhiều khó khăn, kinh tế còn chậm phát triển, chúng ta đã từng bước xây
dựng, thực hiện chính sách và biện pháp nhằm giúp đỡ người khuyết tật nói
chung, nhất là giúp đỡ trẻ em bị khuyết tật về vật chất và tinh thần, vượt qua khó
khăn riêng để hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng.
Thực hiện Quyền về cơ hội giáo dục trẻ khuyết tật, theo Chỉ thị số 012006/CT-TTg, ngày 6-1-2006 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào
tạo được giao nhiệm vụ: Biên soạn và trình Thủ tướng Chính phủ Chiến lược và
kế hoạch hành động giáo dục trẻ khuyết tật giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng
đến năm 2015. Mục tiêu của chiến lược giáo dục trẻ khuyết tật là đến năm 2015
hầu hết trẻ khuyết tật Việt Nam có cơ hội bình đẳng trong tiếp cận một nền giáo
dục có chất lượng và được trợ giúp để phát triển tối đa tiềm năng, tham gia và
đóng góp tích cực cho xã hội, trong đó mục tiêu cụ thể là đến năm 2010 bảo đảm
cho 70% trẻ khuyết tật được đi học [6].
2
Bộ Giáo Dục và Đào tạo đã ra quyết định số 23/2006/QĐ- BGDDT ngày
22/5/2006: Ban hành quy định về giáo dục hòa nhập dành cho người tàn tật,
khuyết tật. Trong quyết định này nêu rất rõ mục tiêu giáo dục hòa nhập cho
người khuyết tật: "Giúp người khuyết tật được hưởng quyền học tập bình đẳng
như những người học khác". Điều 12: Xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân dành
cho người khuyết tật: " Mỗi người khuyết tật đều được lập hồ sơ giáo dục cá
thương trẻ. Có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng.
Lớp học rộng rãi, thoáng mát. Nhà trường đầu tư về cơ sở vật chất, trang
thiết bị cần thiết cho các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ tại trường tương đối
đầyđủ.
Phụ huynh rất quan tâm đến công tác chăm sóc giáo dục trẻ, hiểu, thông
cảm và chia sẻ với những khó khăn thực hiện các hoạt động chăm sóc giáo dục
trẻ tự kỷ học hòa nhập tại lớp.
Trẻ trong lớp có nề nếp ngoan, thông minh nhanh nhẹn, ham hiểu biết.
Đối với trẻ tự kỷ:
Thể chất: Trẻ có hình dáng, tầm vóc, chiều cao, cân nặng bình thường.
Trẻ có khả năng thực hiện được các kĩ năng vận động thô, vận động tinh.
Nhận thức: Trẻ có khă năng học tập, làm theo hướng dẫn, yêu cầu của cô.
Trẻ có kỹ năng tự phục vụ: Tự xúc cơm ăn, tự uống nước khi thấy khát,
tự đi vệ sinh.
Ngôn ngữ: Trẻ có khă năng nghe, hiểu, biểu đạt ngôn ngữ đơn giản, ngắn
gọn, dễ hiểu.
Giao tiếp và hành vi: Trẻ có khả năng giao tiếp, bắt chước hành vi của
người lớn, thực hiện theo yêu cầu của người lớn
b. Khó khăn:
Cơ sở vật chất cho giáo dục trẻ khuyết tật còn kém về chất lượng và thiếu
về số lượng, chủng loại. Các cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật chưa có những trang
thiết bị tối thiểu cần thiết để dạy trẻ khuyết tật như sách giáo khoa và đồ dùng
dạy học đặc thù cho từng loại trẻ khuyết tật.
Giáo viên dạy trẻ khuyết tật chưa được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu đủ
về số lượng và chất lượng để tìm ra phương pháp hướng dẫn cho trẻ khuyết tật
hòa nhập một cách có hiệu quả nhất
4
Một số phụ huynh chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và trách nhiệm của xã
+_
+_
+_
2
Trẻ biết tự rửa tay.
_
_
+_
+_
3
Trẻ biết tự ăn uống.
_
_
+_
+_
+
+
+
7
Biết chơi cùng nhau.
+_
+_
+_
+_
8
Biết phát âm, nói rõ câu, từ…
+_
+_
+_
+_
+_
+_
+_
+_
12
Thực hiện các vận động thô.
+_
+_
+_
+_
5
13
Thực hiện vận động tinh trong
giờ tạo hình.
_
nhu cầu cần thiết dành cho trẻ. Trẻ cần được tạo điều kiện học tập và sinh hoạt,
sự quan tâm và chăm sóc, thái độ của giáo viên và trẻ bình thường đối với trẻ
khuyết tật bệnh tự kỷ học hòa nhập. Cụ thể:
Phòng bệnh và dinh dưỡng hợp lí đảm bảo sức khỏe cho trẻ.
Cho trẻ cơ hội phát triển khả năng vận động theo độ tuổi.
Tiếp tục rèn kĩ năng phối hợp tay mắt: Cắt đường tròn vẽ sẵn, tô chữ cái,
chữ số.
Trưng bày sản phẩm tạo hình của trẻ tại lớp hoặc cho trẻ mang tranh về
tặng người thân gia đình như một món quà với mong muốn được khuyến khích
động viên giúp trẻ mạnh dạn tự tin vào khả năng của mình.
Sử dụng những đồ vật có màu sắc hoặc âm thanh mà trẻ thích để hướng
trẻ nhìn, nghe.
Cho trẻ nhìn đối mặt với đối tượng quan sát.
Cho trẻ tham gia vào các nhóm chơi, tập cho trẻ làm những phần việc đơn
giản cùng bạn bè trong nhóm chơi.
6
Khi trẻ có những biểu hiện cảm xúc khác lạ giáo viên cần quan tâm xử lí
kịp thời, điều chỉnh hành vi bằng cách thay thế và hướng trẻ đến một hoạt động
khác.
Cho trẻ tham gia các hoạt động bằng nhiều hình thức, trò chuyện vui vẻ,
cởi mở.
Giải thích với trẻ về sự thay đổi thông qua hình ảnh và sử dụng hình ảnh
lặp đi lặp lại mỗi khi thay đổi.
Sử dụng hệ thống gợi ý bằng hính ảnh trực quan đi cùng với lời nói, tiếp
xúc trực tiếp giữa cô - trẻ, trẻ - trẻ.
Xây dựng hệ thống giao tiếp bằng hình ảnh. Tạo cơ hội cho trẻ tham gia
hoạt động trong các không gian khác nhau.
2.3.2. Nghiên cứu kỹ chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non.
Biết giữ gìn sức khỏe và tránh một số vật dụng nơi nguy hiểm, nơi không
an toàn.
* Kỹ năng tự phục vụ:
7
Ăn uống: Biết tự xúc cơm ăn, tự uống nước khi thấy khát.
Vệ sinh: Biết tự đi vệ sinh đúng nơi quy định, biết rửa tay bằng xà
phòng, lau mặt, chải răng.
Tập cho trẻ rửa tay theo các bước giống như hình ảnh các bước rửa tay
sạch sẽ. Cất gọn gàng đồ dùng cá nhân, đồ chơi đúng nơi quy định.
* Phát triển ngôn ngữ và kỹ năng giao tiếp:
Tăng vốn từ vựng cho trẻ
Phát âm rõ các tiếng trong tiếng Việt chuẩn. Đọc thơ, kể chuện theo
tranh.
Sử dụng cử chỉ/ lời nói/ hành động để chào, chia tay, cảm ơn, xin lỗi, yêu
cầu, từ chối, đưa ra những thông tin trả lời câu hỏi. Yêu cầu trẻ sử dụng nhiều
bằng lời nói trong giao tiếp.
Cô luôn gần gũi bên trẻ, trò chuyện cởi mở với trẻ, nhìn vào mắt trẻ khi
giao tiếp, yêu cầu trẻ nhìn vào mắt cô khi bày tỏ những nhu cầu hoặc giáo tiếp.
Khen trẻ khi trẻ thực hiện được yêu cầu và khuyến khích trẻ cố gắng thực hiện.
Luôn tạo cho trẻ cảm giác cô và các bạn luôn sẵn sàng giao tiếp giúp đỡ trẻ. Trẻ
thấy tự tin hơn trong giao tiếp.
* Phát triển khả năng nhận thức:
Rèn khả năng tập trung chú ý vào các nhiệm vụ cụ thể, vào sự chỉ dẫn,
vào các đồ vật, sự vật, hiện tượng xung quanhtrong một thời gian nhất định để
hiểu và học tập.
Rèn khả năng ghi nhớ có chủ định, vận dụng được kiến thức đã học vào
trong sinh hoạt, vui chơi.
Trong khi tổ chức các hoạt động học, cô dành thời gian hướng dẫn riêng
* Chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng:
Đảm bảo chế độ chăm sóc sức khỏe cho trẻ.
Thiết lập và giúp trẻ hướng tới sự phát triển tâm lí và nhân cách cá nhân
theo đúng như khung tâm lí của trẻ bình thường.
Giúp trẻ tiếp xúc, giao tiếp, thiết lập mối quan hệ, tình cảm với những
người xung quanh như ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè...
Dạy trẻ cách nói chuyện, phát triển ngôn ngữ phù hợp với khả năng của
trẻ.
Tập cho trẻ có ý thức về bản thân và tự khẳng định bản thân.
Từ mục tiêu năm học, tôi xây dựng kế hoạch chủ đề cụ thể. Những nội
dung đưa ra phù hợp với khả năng của trẻ tự kỷ học hòa nhập tại lớp tôi phụ
trách. Ở mỗi nội dung tôi đưa ra biện pháp thực hiện, theo dõi ghi lại kết quả đạt
được từ đó có đánh giá và điều chỉnh.
Ví dụ: Ở chủ đề: Bản thân. Tôi xây dựng kế hoạch chủ đề như sau:
Thời
Nội dung
Biện pháp thực Người Kết quả
Đánh giá
gian
hiện
thực
Điều chỉnh
hiện
Phát triển
thể chất:
- Thực hiện - Cho trẻ tham gia - GV: - Trẻ thực - Cho trẻ tham
bài tập phát vào hoạt động, Lê
hiện được gia học hòa
triển
chung giáo viên làm Thị
bàn
tay, kết hợp lời nói
đến các cử động
ngón tay chậm cho trẻ
ngày của bàn tay,
vẫn còn làm theo. Động
14/
ngón tay, phối
lóng
viên trẻ kịp
10/
hợp tay mắt,
ngóng,
thời khi trẻ có
9
2016 vẽ,xé, cắt giấy
theo yêu cầu.
Phát triển
ngôn ngữ và
giao tiếp:
- Rèn kĩ năng
nghe qua việc
nghe cô đọc
thơ, kể
chuyện về chủ
đề bản thân.
- Rèn kĩ năng
noi:
- Cho trẻ ngồi đối
diện với cô.
- Cho trẻ xem
tranh truyện, trò
chuyện, đàm thoại
về nội dung tranh.
- Cô đọc trước và
trẻ đọc theo.
- Yêu cầu trẻ sử
dụng lời nói để
giao tiếp với mọi
người
xung
quanh, hạn chế
dùng cử chỉ.
- Giao tiếp bằng
mắt.
- Cho trẻ được trả
lời nhiều, khuyễn
khích trẻ đặt câu
hỏi về nguyên
nhân, so sánh, tại
sao, nhận xét
điểm giống và
khác nhau
- Cho trẻ tham gia
vào hoạt động, cô
hướng dẫn cho trẻ
bắt chước và làm
mạnh dạn
tự tin vào
bản thân.
- Trẻ nóii
còn
ngọng,
phát âm
chưa
chuẩn.
- Tổ chức các
hoạt động học
cả lớp.
- Gần gũi nhìn
vào mắt trẻ và
yêu cầu trẻ
nhìn cô, nhìn
vào mắt đối
tượng gia tiếp.
- Luyện phát
âm cho trẻ
nhiều.
- Quan tâm và
khuyến khích
trẻ tham gia
hoạt động
10
năng tự phục
vụ:
- Rửa tay
bằng
xà
phòng trước
khi ăn cơm,
sau khi chơi
đồ chơi, đi vệ
sinh.
- Trẻ tự xúc
cơm ăn, tự
uống
nước
khi khát.Tự đi
vệ sinh đúng
nơi quy định.
Phát triển kĩ
năng xã hội:
- Thực hiện
một số qui
định của lớp
- Cho trẻ tham gia
vào hoạt động, cô
hướng dẫn cho trẻ
bắt chước và làm
theo; cho trẻ được
thực hành làm
trong vở giúp bé
- Sắp xếp vị trí
ngồi học cho
trẻ thuận lợi
nhất.
- Cho trẻ được
trả lời nhiều,
tham gia hoạt
động
nhóm,
hoạt động tập
thể.
- Động viên và
khích lệ trẻ kịp
thời.
- Cô hướng dẫn,
làm mẫu, nhắc
nhở và yêu cầu trẻ
thực hiện.
- GV:
Lê
Thị
Thu
Hằng
- Trẻ thực
hiện còn
lóng
ngóng,
bạn.
11
trường: Cất
đồ chơi gọn
gàng
ngăn
nắp đúng nơi
qui định sau
khi chơi; Bỏ
rác vào thùng
rác, để đồ
dùng
gọn
gàng đúng nơi
qui định.
- Tham gia
vào các trò
chơi đóng vai
theo chủ đề.
- Hợp tác với
bạn trong các
hoạt động.
- Quan tâm
tới bạn.
Phục hồi
chức năng:
- Luyện phát
âm rõ ràng.
rõ ràng, chính
xác, trẻ bắt chước
theo.
- Ngồi đối diện
với trẻ. Hướng trẻ
chú ý vào nhiệm
vụ và lắng nghe
hiểu được hướng
dẫn . Yêu cầu trẻ
sử dụng ngôn
ngữ, ánh mắt khi
giao tiếp.
- Hướng dẫn trẻ
chơi, động viên
các bạn trong lớp
cùng chơi.
Khả
năng
luyện phát
âm tiến bộ
hơn.
- Trẻ chơi
cạnh bạn
chứ chưa
thật
sự
hợp
tác
cùng bạn .
chuyện
cùng trẻ về chủ
đề học.
- Động viên trẻ
tham gia các
hoạt động cùng
bạn.
- Phối hợp với
phụ huynh về
những
biện
pháp chăm sóc,
giáo dục phù
hợp
2.3.3. Tạo môi trường thân thiện thông qua tham gia các hoạt động
với bạn bè.
Môi trường học thân thiện với trẻ là môi trường học tập hòa nhập giúp trẻ
cảm thấy thoải mái, hứng thú, giúp trẻ phát triển tự nhiên, lành mạnh. Tạo mối
12
quan hệ gần gũi, thân thiện và hợp tác: Đó là các mối quan hệ giữa giáo viên giáo viên, giáo viên- trẻ, trẻ - trẻ, giáo viên - nhà trường - phụ huynh - cộng
đồng. Tôi cũng đã áp dụng phương pháp điều chỉnh môi trường học tập phù hợp
cho bé Đạt đảm bảo các yêu cầu: An toàn, dễ tiếp cận, hòa nhập và thân thiện.
Để tạo được môi trường đó tôi đã tập trung làm tốt những vấn đề sau:
Xây dựng môi trường vật chất: Tôi xây dựng các góc hoạt động, tận dụng
các nguyên vật liệu đa dạng, đồ dùng sẵn có đề làm phương tiện dạy học. Dành
thời gian hướng dẫn cho bé Đạt cùng các bạn trong lớp làm đồ dùng đồ chơi.
Khi trẻ tham gia các hoạt động tập thể tôi hướng dẫn trẻ tham gia chi tiết
và theo dõi chặt chẽ hành động của trẻ, tránh để trẻ rơi vào tình trạng cô lập
hoặc gây những hành động ảnh hưởng đễn bạn khác.Tôi cho bé Đạt tham gia
mọi hoạt động với các bạn như: Thể dục sáng, tham gia vào các giờ học chung
cùng cả lớp, đi dạo chơi sân trường, chăm sóc vườn hoa, tham quan các lớp
trong trường, giao tiếp với tất cả các cô, các bạn của các lớp khác, chơi các trò
chơi dân gian. Đó là các hoạt động rất cần cho sự thay đổi hành vi không tương
tác đặc trưng của chứng tự kỷ. Ví dụ trò chơi " Mèo đuổi chuột", bé nhìn thấy
các bạn chơi rất vui, bé liền xung phong chơi đóng vai mèo, một bạn khác làm
chuột, các bạn còn lại làm hang. bé thấy các bạn luôn chơi cùng bé, giúp bé
mạnh dạn và tự tin. Hay cho trẻ dạo chơi sân trường, chăm sóc góc thiên nhiên
của lớp, giúp bé cùng bạn biết cách chăm sóc cây, bảo vệ môi trường.
(Bé Đạt tham gia giờ thể dục sáng, học môn giáo dục âm nhạc cùng các bạn)
14
(Bé Đạt chăm sóc cây ở góc thiên
nhiên và tham gia trò chơi "Mèo đuổi chuột")
Tôi luôn nhắc nhở và khích lệ trẻ trong lớp phải gần gũi với bạn, thường
xuyên rủ bạn chơi cùng, giúp đỡ bạn, tránh bắt nạt và xa lánh bạn. Tôi cho trẻ đi
tham quan dạo chơi nơi công cộng, giúp trẻ được làm quen với môi trường nơi
công cộng, dạy trẻ có hành vi ứng xử phù hợp như để dồ vật đúng chỗ, bỏ rác
vào thùng đúng nơi quy định...
Trẻ tự kỷ sống nội tâm là chủ yếu. Trẻ gặp khó khăn trong nhận thức,
ngôn ngữ và tương tác xã hội. Vì vậy tôi luôn cố gắng tìm hiểu những sở thích,
thói quen của cháu Đạt: Cháu thích ăn gì? không thích ăn gì? Đồ dùng gì? hoạt
động nào của lớp mà cháu thích tham gia nhất?... Khi trẻ tham gia vào hoạt động
tôi luôn gần gũi, quan tâm, khuyến khích trẻ kịp thời để trẻ có thể tiếp thu bài
chậm cho trẻ dễ quan sát, dễ làm theo. Tôi gợi mở để trẻ có thể vận dụng các kỹ
năng đã học vào thực hiện.
Ví dụ: Vẽ ngôi nhà, trẻ chấm 4 điểm, nối các điểm đó lại với nhau tạo
thành hình chữ nhật làm tường nhà, chấm lên phía trên 1 điểm sao cho cân đều 2
bên và nối thành nét xiên vào tường nhà để làm mái nhà, vẽ của ra vào là hình
chữ nhật, của sổ là hình vuông.
Đối với hoạt động nhận thức: Tôi hạ mức yêu cầu cho trẻ dễ học, tạo điều
kiện cho trẻ được khám phá những con vật, đồ vật, cây cối gần gũi quen thuộc
với trẻ, cho trẻ trải nghiệm để phát triển các giác quan cho trẻ. Khi trẻ học toán,
tạo mọi tình huống để trẻ học ở mọi lúc mọi nơi, giúp trẻ có kỹ năng học toán.
Tôi đặc biệt chú ý việc kết hợp lời nói với thao tác toán để hướng dẫn trẻ cụ thể
và cho trẻ thực hành, trải nghiệm.
Hoạt động làm quen với văn học, làm quen với chữ cái. Đây là hoạt động
giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. Tôi hướng dẫn trẻ và chú ý nhiều đến phát âm của
trẻ, sửa sai cho trẻ, luôn giao tiếp bằng mắt, khuyến khích trẻ nói, đọc, kể.
Hoạt động giáo dục âm nhạc: Đây là hoạt động thu hút trẻ, làm giảm bớt
các hành vi bất lợi cho trẻ. Giúp trẻ thư giãn, tự do, sáng tạo với với các động
tác hình thể theo nhịp điệu, trẻ học ngôn ngữ qua âm nhạc, chơi trò chơi âm
nhạc... nên trong giờ hoạt động âm nhạc, tôi khuyến khích trẻ hát và vận động
theo nhạc cùng các bạn, tạo sự gần gũi cũng bạn bè.
Khi tổ chức các tiết học hòa nhập, tôi luôn cho trẻ ngồi ở vị trí thuận lợi
nhất giúp trẻ tập trung hơn. Giao tiếp với trẻ nhiều hơn, đề nghị trẻ nói lên ý
kiến của mình. Khi trẻ ngang bướng, không nghe lời, để giúp trẻ kiềm chế cảm
xúc tôi cho trẻ ra ngoài chơi với góc thiên nhiên để tạo cảm giác yên tĩnh và trao
đổi nhẹ nhàng về hành vi của trẻ để trẻ hiểu và định hướng trẻ thay đổi. Từ đó
giúp trẻ tự kỷ tham gia học và có ý thức học tốt, trẻ trả lời và thực hiện được các
16
yêu cầu của cô, trẻ mạnh dạn tự tin hơn, được lôi cuốn vào các hoạt động tập
Một số hoạt động cuộc sống thực tế có thể sử dụng tại gia đình như
"Hướng dẫn và cho trẻ tự xúc cơm ăn, tự đánh răng, tự mặc quần áo, đi dép, lau
bàn, gấp quần áo, cùng người lớn nhặt rau, nấu ăn, lấy bát ăn cơm, chăm tưới
cây, chăm sóc con vật nuôi trong gia đình, cất dọn đồ dùng đồ chơi sau khi
dùng, cho trẻ mua đồ ở cửa hàng tạp hóa, đi thăm hỏi những người thân, đi dạo
chơi, chơi cùng bạn trong xóm, đi thăm quan...
Dạy trẻ chào hỏi mọi người khi gặp, nói lời cảm ơn khi được nhận qùa
hoặc đồ vật từ người khác, hay khi được giúp đỡ, biết xin lỗi khi mình mắc lỗi.
Nói chuyện trong tập thể và tạo mối quan hệ thân thiện. Những hành vi ứng xử
phù hợp trong cuộc sống, sẵn sàng giúp đỡ bạn bè người thân nếu có thể, biết
xếp hàng thứ tự và chờ đợi. Sử dụng đồ dùng ăn uống và cách bảo vệ đồ dùng.
Sử dụng đồ dùng hàng ngày và đảm bảo an toàn cho mình và cho người khác.
Tận dụng các buổi đưa đón, trả trẻ để trao đổi với phụ huynh về tình hình
của bé Đạt trong ngày. Xây dựng góc tuyên truyền thông báo những nội dung
17
học của bé Đạt hàng tuần, hàng tháng và yêu cầu phụ huynh phối hợp rèn luyện
thêm cho bé tại nhà.
2.4. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân,
đồng nghiệp và nhà trường.
2.4.1. Đối với hoạt động Giáo dục:
Sau một thời gian áp dụng các biện pháp giáo dục kỹ năng dành cho bé
Đạt tôi thấy bé đã có sự thay đổi một cách rõ rệt, cụ thể như sau:
Kết quả khảo sát tháng vào thời điểm tháng 3 năm học 2016- 2017
Stt Sự tiến bộ của trẻ theo tiêu chí
Tuần 1 Tuần 2 Tuần 3
+_
+_
+
+
4
Biết súc miệng chải răng.
+
+
+
+
5
Biết tự mặc quần áo.
+
+
+
+_
+_
+_
+
9
Biết đi lại 1 mình, biết cầm nắm
các đồ dùng.
+
+
+
+
10 Biết tô màu, cầm bút…
+
+
+
+
+
14 Tuân theo các qui định của lớp.
+_
+_
+
+
Ghi chú:
Rõ rệt: + ; Chưa rõ rêt: +_ ; Chưa đạt: _
2.4.2. Đối với bản thân.
18
Bằng những biện pháp giáo dục trẻ tự kỷ học hòa nhập tại lớp mẫu giáo 5
– 6 tuổi trường mầm non Vĩnh Tiến, sau một năm áp dụng tôi đã đạt được một
số kết quả đáng khích lệ như sau:
Bản thân đã có thêm kinh nghiệm và kỹ năng giáo dục trẻ tự kỷ học hòa
nhập: Thu hút được sự tập trung chú ý, thiết lập mối quan hệ gần gũi, thân mật
giũa giáo viên và các trẻ khác với trẻ tự kỷ. Hướng dẫn và giải thích nội dung
học tập trực quan từng bước một rõ ràng thống nhất. Khuyến khích trẻ sử dụng
ngôn ngữ và giao tiếp bằng nhiều cách khác nhau.
Biết cách lập kế hoạch giáo dục cá nhân trẻ tự kỷ học hòa nhập phù hợp
với đặc điểm riêng của trẻ và điều kiện thực tế của trường lớp.
Có nhiều kinh nghiệm làm đồ dùng, đồ chơi sáng tạo phục vụ cho các góc
trẻ tham gia các hoạt động tập thể, nhiệt tình sáng tạo trong việc làm đồ dùng,
đồ chơi phục vụ các góc phù hợp với chủ đề, phù hợp với đặc điểm của trẻ tự kỷ
tai lớp.
19
Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, giáo viên cũng cần tìm tòi
những nội dung và những thông tin cần thiết để tổ chức tốt các hoạt động giáo
dục trẻ tự kỉ học hòa nhập.
Một yếu tố cũng rất quan trọng đó là ta cần phối hợp cùng với phụ huynh
để thống nhất cùng quan điểm giáo dục trẻ. Làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục
vì việc chăm sóc giáo dục trẻ không chỉ riêng có trách nhiệm của nhà trường mà
cần có sự phối kêt hợp của gia đình và xã hội.
Tham mưu tốt với Ban giám hiệu để tăng cường cơ sở vật chất, đồ dùng,
đồ chơi cho lớp, tài liệu về phương pháp day trẻ tự kỷ.
3.2. Kiến nghị
3.2.1 Đối với nhà trường:
Nhà trường phối hợp với chuyên môn xây dựng nhiều tiết thực hành về
giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập cho giáo viên được dự giờ. Bồi dưỡng
chuyên môn về giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập, đặc biệt đối với trẻ
khuyết tật bệnh tự kỷ.
Đầu tư mua sắm thêm trang thiết bị cần thiết phục vụ cho các hoạt động
chăm sóc và giáo dục trẻ.
Mỗi giáo viên Mầm non phải tự trang bị cho mình những kiến thức, kỹ
năng trong việc tổ chức hoạt động giáo dục trẻ tự kỷ học hòa nhập tốt trong môi
trường giáo dục bình thường.
3.2.2 Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo:
Phòng giáo dục tiếp tục tổ chức các hoạt động chuyên đề Giáo dục trẻ tự
kỷ ở các trường điểm, lớp điểm để nhiều giáo viên trong trường và các trường
bạn tham dự.
quy định về giáo dục nhập dành cho người tàn tật, khuyết tật.
2. Phụ lục (Kèm theo công văn số 6818/BGD&ĐT-GDMN ngày 28 tháng 9 năm
2009)
3. Module 44: Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong giáo dục mầm non
4.Thông tư 23/2010 Quy định về Bộ Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi ( PTTE5T).
5. Trang web của liên hợp quốc nói về tự kỷ - Nguồn internet
6. Chỉ thị số 01-2006/CT-TTg, ngày 6-1-2006 của Thủ tướng Chính phủ.
21