BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN TRÂM ANH
PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM DO NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN TRÂM ANH
PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM DO NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Tội phạm học
Mã số: 60380105
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Lý Văn Quyền
12
Bảng 1.5. Cơ cấu của các tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện theo nhóm tội phạm
17
Bảng 1.6. Cơ cấu của các tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện theo tội danh
18
Bảng 1.7. Cơ cấu của các tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện theo loại tội phạm
20
Bảng 1.8. Cơ cấu của các tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện theo biện pháp xử lý được áp dụng
21
Bảng 1.9. Cơ cấu của các tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện theo hình phạt được áp dụng
23
Bảng 1.10. Cơ cấu của các tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện theo mức hình phạt tù đã được áp dụng
Bảng 1.16.Cơ cấu của các tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện theo giới tính
32
Bảng 1.17. Cơ cấu của các tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện theo độ tuổi
33
Bảng 1.18. Trình độ văn hóa của các bị cáo chưa thành niên
34
Bảng 1.19. Cơ cấu của các tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện theo kết cấu gia đình
35
Bảng 1.20. Cơ cấu của các tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện theo đặc điểm nạn nhân
36
Bảng 1.21. Cơ cấu của các tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện theo dạng thiệt hại
37
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
BIỂU ĐỒ
TRANG
Biểu đồ 1.1. So sánh số người phạm tội của tội phạm do người
chưa thành niên thực hiện so với số người phạm tội nói chung
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2015
10
Biểu đồ 1.2. So sánh chỉ số người phạm tội của các tội phạm do
người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh,
Hải Phòng, Hải Dương và toàn quốc
12
Biểu đồ 1.3. Cơ cấu của các tội phạm do người chưa thành
niên thực hiện theo nhóm tội phạm
17
Biểu đổ 1.4. Cơ cấu của các tội phạm do người chưa thành
niên thực hiện theo tội danh
19
Biểu đồ 1.5. Cơ cấu của các tội phạm do người chưa thành
niên thực hiện theo loại tội phạm
niên hay đồng phạm giữa những người chưa thành niên
28
Biểu đồ 1.12. Cơ cấu của các tội phạm do người chưa thành
niên thực hiện theo động cơ phạm tội
30
Biểu đồ 1.13. Cơ cấu theo đặc điểm phạm tội lần đầu, phạm tội
nhiều lần hoặc phạm nhiều tội của người chưa thành niên phạm
tội
31
Biểu đồ 1.14.Cơ cấu của các tội phạm do người chưa thành
niên thực hiện theo giới tính
32
Biểu đồ 1.15. Cơ cấu của các tội phạm do người chưa thành
niên thực hiện theo độ tuổi
33
Biểu đồ 1.16. Trình độ văn hóa của các bị cáo chưa thành niên
34
Biểu đồ 1.23. Diễn biến của các tội phạm do người chưa thành
niên thực hiện phổ biến nhất ở Quảng Ninh giai đoạn 2010 –
2015
46
Biểu đồ 1.24. Diễn biến theo loại tội
48
Biểu đồ 1.25. Diễn biến theo độ tuổi người phạm tội
50
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GS: Giáo sư
PGS: Phó Giáo sư
TS: Tiến sĩ
HSST: Hình sự sơ thẩm
NCTN: Người chưa thành niên
UBND: Ủy ban nhân dân
Nxb: Nhà xuất bản
Tr: Trang
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
trong các chương của BLHS.
1.2.2.2.Diễn biến của các tội phạm do người chưa thành niên thực hiện phổ biến nhất trên địa bàn
44
tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 – 2015
1.2.2.3.Diễn biến theo loại tội
47
Chương 2. NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI PHẠM DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN
54
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2010 – 2015
2.1. Nguyên nhân từ môi trường sống
54
2.1.1. Nhóm nguyên nhân từ phía môi trường gia đình
54
2.1.2. Nhóm nguyên nhân từ phía môi trường nhà trường
57
2.1.3. Nhóm nguyên nhân từ môi trường xã hội
58
2.1.3.1. Mặt trái của nền kinh tế thị trường
59
75
3.2.1.2. Nhóm biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm từ phía nhà trường
77
3.2.1.3. Nhóm biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm từ phía xã hội
79
3.2.2. Biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm xuất phát từ bản thân người chưa thành
84
niên
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
86
KẾT LUẬN
87
12
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Quảng Ninh là tỉnh ven biển vùng Đông Bắc Việt Nam, phía Đông Bắc
giáp với Trung Quốc, phía Nam giáp vịnh Bắc Bộ, phía Tây Nam giáp tỉnh Hải
13
đoạn tinh vi hơn, độ liều lĩnh cao hơn, chiếm đa số là các tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy; tội trộm cắp tài sản, tội cố ý gây thương
tích, tội cướp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trong đó tội phạm về ma túy
có chiều hướng gia tăng. Các tội phạm do NCTN thực hiện tập trung hầu hết ở
các đô thị, các thành phố lớn, các thị xã mới của tỉnh như Móng Cái, Cẩm Phả,
Hạ Long, Quảng Yên,...
Trong những năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ở
Quảng Ninh thu được nhiều kết quả. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt
được, công tác phòng ngừa loại tội phạm do NCTN thực hiện vẫn bộc lộ những
tồn tại nhất định: Chỉ số người phạm tội là NCTN vẫn ở mức cao (chỉ số người
phạm tội giai đoạn này là 6,8 và cao hơn so với cả nước) trong khi xu hướng
NCTN phạm tội ở Quảng Ninh đang giảm xuống một cách đáng kể đặt ra câu
hỏi về công tác phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện ở Quảng Ninh những
năm gần đây có thực sự đạt hiệu quả như phương hướng đã đề ra. Trước thực
trạng trên, việc nghiên cứu một cách đầy đủ tình hình tội phạm do người chưa
thành niên thực hiện trong thời gian gần đây, cũng như tìm ra nguyên nhân của
tình hình tội phạm này vô cùng quan trọng. Từ sự nghiên cứu đó sẽ đặt nền tảng
cho việc đề xuất các biện pháp phòng ngừa hiệu quả tội phạm do người chưa
thành niên thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới, thể hiện ý
nghĩa quan trọng trong việc gìn giữ an ninh, trật tự cho sự phát triển của tỉnh.
Cũng bởi lẽ đó, tác giả đã chọn đề tài “Phòng ngừa tội phạm do người chưa
thành niên thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” để nghiên cứu trong luận
văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trong những năm gần đây, có khá nhiều công trình nghiên cứu về tội
phạm do người chưa thành niên thực hiện dưới góc độ tội phạm học, chủ yếu là
các công trình luận văn thạc sỹ. Đó là các công trình:
hiện.
Tỉnh Quảng Ninh có những đặc trưng riêng về điều kiện địa lý, điều kiện
tự nhiên, dân số, kinh tế - xã hội của vùng duyên hải Bắc Bộ. Mặc dù đã có công
trình nghiên cứu về việc phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực
hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh của tác giả Nguyễn Trung Hoan, song với tình
hình và diễn biến phức tạp trước mắt của tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện, cùng với sự thay đổi của pháp luật hình sự trong thời gian tới đặt ra
yêu cầu cần có công trình nghiên cứu cụ thể về tình hình tội phạm do người chưa
thành niên thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 – 2015 và
những biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tương ứng.
15
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tình hình của tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện, nguyên nhân của tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực
hiện và biện pháp phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện.
- Phạm vi nghiên cứu đề tài: Luận văn đi vào nghiên cứu tội phạm do
người chưa thành niên thực hiện dưới góc độ tội phạm học, trong phạm vi địa
bàn tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2010 – 2015.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích của luận văn là: Luận văn nghiên cứu nhằm đề xuất các biện
pháp phòng ngừa phù hợp với đặc thù riêng của tỉnh Quảng Ninh để ngăn ngừa
thực sự có hiệu quả tội phạm do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn
tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Đánh giá tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2010 – 2015
+ Xác định và lý giải nguyên nhân của tội phạm do người chưa thành niên
thống kê của các cơ quan tư pháp về người phạm tội hiện nay chỉ có số liệu tổng
thể hoặc một số tiêu chí nhất định, không đủ cơ sở để nghiên cứu, đánh giá về cơ
cấu của tội phạm do người chưa thành niên thực hiện theo những tiêu thức khác
nhau và không đủ để giải thích nguyên nhân của tội phạm. Do đó, tác giả tự thu
thập dữ liệu khác qua việc phân tích các dữ liệu trong bản án HSST. Cụ thể, tác
giả lựa chọn một cách ngẫu nhiên 130 bản án HSST có bị cáo là NCTN đã xét
xử có hiệu lực pháp luật trong các năm từ 2010 đến 2015 ở tỉnh Quảng Ninh
+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đối tượng khảo sát là người chưa
thành niên ở tỉnh Quảng Ninh, cụ thể là ở Thành phố Móng Cái, huyện đảo Cô
Tô và huyện Hải Hà. Số phiếu phát ra 400 phiếu, sau khi kiểm tra mức độ hoàn
thành thông tin thì có 18 phiếu không đủ thông tin nên không hợp lệ, tác giả
không đưa vào phân tích số liệu. Số phiếu được sử dụng để phân tích số liệu là
382 phiếu. Mẫu nghiên cứu khi đó là 382 người chưa thành niên.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Chủ yếu luận văn sử dụng phương pháp
thống kê. Một số các đại lượng thống kê đã được sử dụng như: số tuyệt đối, số
trung bình, số mốt, số tương đối, được biểu thị dưới dạng bảng số liệu và biểu đồ
thích hợp để mô tả, đánh giá tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực
hiện ở tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2010 – 2015.
- Ngoài ra, một số phương pháp khác còn được sử dụng kết hợp với các
phương pháp nêu trên trong việc giải quyết các nội dung nghiên cứu của đề tài,
đó là các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh.
17
6. Những kết quả nghiên cứu của luận văn:
Dưới góc độ tội phạm học, luận văn sẽ đi sâu phân tích tình hình tội phạm
do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời gian
từ năm 2010 đến năm 2015, giải thích được một số nguyên nhân cơ bản làm phát
sinh tội phạm này và đề xuất được các biện pháp phòng ngừa phù hợp với đặc
bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 – 2015
“Thực trạng của tội phạm bao gồm thực trạng về mức độ và thực trạng về
tính chất”2. Với khái niệm này, ta hiểu rằng thực trạng của tội phạm được hiểu
theo nghĩa rộng, nghiên cứu về thực trạng của tội phạm tức là nghiên cứu cả đặc
điểm định lượng và đặc điểm định tính của thực trạng của tội phạm. Quan điểm
trên theo tác giả là hợp lý vì nghiên cứu về thực trạng của tội phạm không chỉ
nghiên cứu về số người và số vụ phạm tội phản ánh mức độ của tội phạm đã xảy
ra trong thực tế, mà còn phải nghiên cứu về tính chất của tội phạm phản ánh qua
các cơ cấu của tội phạm cũng như người phạm tội.
Như vậy, thực trạng của tội phạm do người chưa thành niên thực hiện là
tình trạng thực tế của tội phạm do người chưa thành niên thực hiện đã xảy ra
trong đơn vị không gian và thời gian nhất định, xét về cả mức độ và về tính chất.
1.1.1. Thực trạng về mức độ của tội phạm do người chưa thành niên thực
hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 – 2015
“Thực trạng của tội phạm xét về mức độ được phản ánh qua các thông
số: Tổng số các tội phạm đã xảy ra và tổng những người đã phạm tội đó trong
1
2
Giáo trình Tội phạm học, Trường Đại học luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, 2015
Giáo trình Tội phạm học, Trường Đại học luật Hà Nội, , Nxb. Công an nhân dân, 2015, tr.101
19
đơn vị không gian và đơn vị thời gian xác định”3. Con số tổng này chỉ được phản
ánh khách quan và toàn diện qua số liệu về tội phạm rõ và số liệu về tội phạm ẩn.
Sở dĩ phải đánh giá qua hai loại số liệu đó là bởi không phải mọi tội phạm xảy ra
trên thực tế đều bị phát hiện và xử lý về hình sự.
Đánh giá thực trạng về mức độ của tội phạm do người chưa thành niên
20
Bảng 1.1. Số người phạm tội của tội phạm do người chưa thành niên thực hiện
bị xét xử hình sự sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 – 2015
Năm
Số người
phạm tội
Tổng
TB/năm
2010
2011
2012
2013
2014
2015
121
119
95
80
(Nguồn: Phòng tổng hợp Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh)
21
Biểu đồ 1.1. So sánh số người phạm tội của tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện so với số người phạm tội nói chung trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai
đoạn 2010 – 2015
14878
16000
14000
12000
10000
8000
6000
4000
482
2000
0
Tội phạm do
chung
người chưaSốthành
niên
thựctội
hiện
người
Dân số
(Nghìn người)
Chỉ số người phạm
tội là người chưa
thành niên
2010
121
1154900
10,5
2011
119
1167000
10,2
2012
95
1178000
(Nguồn: Phòng tổng hợp Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
Website: )
Số liệu ở bảng trên cho thấy trung bình mỗi năm, cứ 100.000 người dân
thì có khoảng 6,8 người phạm tội là người chưa thành niên.
Bên cạnh đó, để đánh giá được thực trạng tội phạm do người chưa thành
niên thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh cần so sánh chỉ số này với chỉ số
tương ứng của toàn quốc và một số địa phương khác.
Thứ nhất, so sánh chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội của các tội
phạm do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh với toàn
quốc và thành phố liền kề là Thành phố Hải Phòng. Sở dĩ tác giả so sánh với hai
tỉnh, thành phố trên vì Quảng Ninh, Hải Phòng có cấu trúc về hành chính tương
ứng, có sự giao thoa về kinh tế - văn hóa – xã hội nên các điều kiện cũng có sự
tương đồng và mối tương quan nhất định.
23
Bảng 1.4. Chỉ số người phạm tội của các tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng và cả nước
Tỉnh,
thành phố
Quảng Ninh
Hải Phòng
Hải Dương
Cả nước
3
2
1
0
Chỉ số người phạm tội
Quảng Ninh
Hải Phòng
Hải Dương
Toàn quốc
Bảng số liệu và biểu đồ cho thấy trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến
năm 2015 cho thấy chỉ số người phạm tội của các tội phạm do người chưa thành
niên thực hiện của Quảng Ninh cao hơn 1,3 lần chỉ số trung bình của cả nước. So
24
với Hải Phòng, chỉ số người phạm tội của Quảng Ninh cao gấp 1,8 lần. Nguyên
nhân vì số dân của Hải Phòng qua các năm (xem bảng Phụ lục 2) đều gần gấp
đôi số dân ở Quảng Ninh, trong khi số người phạm tội là NCTN ở Hải Phòng
cũng gần tương đương với Quảng Ninh. Chỉ số người phạm tội của Quảng Ninh
cũng cao gấp 1,9 lần so với Hải Dương vì: điều kiện kinh tế - xã hội ở Hải
Dương kém phát triển hơn so với Quảng Ninh, chủ yếu phát triển nông nghiệp
nên sự phân hóa giàu – nghèo không lớn, ít phát sinh tệ nạn xã hội trong khi dân
số Hải Dương đông hơn gần 2 lần so với Quảng Ninh.
phát hiện hay không. Khi tiến hành điều tra, tác giả cam kết giữ bí mật thông tin
nhân thân của các đối tượng. Điều tra 382 người chưa thành niên ở 3 địa bàn
trên, với câu hỏi: “Em đã từng bị cơ quan Công an hoặc cơ quan pháp luật khác
phát hiện về hành vi phạm tội của em chưa?”Kết quả thu được cho thấy trong số
95 em thực hiện hành vi phạm tội thì có 30 phiếu trả lời có bằng 31,6% và 65
phiếu trả lời không bằng 68,4%. Lý do hành vi của em không bị phát hiện? Kết
quả cho thấy có 20% là do bản thân các em tự che giấu, 41,5% do nạn nhân
không báo với cơ quan Công an hoặc cơ quan pháp luật, 29,2% do người khác
không ngăn cản, không báo với cơ quan Công an hoặc cơ quan pháp luật, 9,3%
là lý do khác.
Như vậy, kết quả khảo sát cho thấy người chưa thành niên phạm tội ẩn
chiếm tỉ lệ 68,4% trong tổng số người chưa thành niên.
Ngoài tội phạm ẩn tự nhiên còn loại thứ hai là tội phạm ẩn nhân tạo (tội
phạm ẩn chủ quan) là số lượng tội phạm thực tế đã xảy ra mà các cơ quan chức
năng đã có thông tin xử lý nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau từ phía chủ
thể áp dụng pháp luật, những tội phạm này không bị xử lý hình sự và do vậy
không có trong thống kê tội phạm. Tội phạm ẩn nhân tạo có thể được che đậy
bằng một tội phạm ẩn tự nhiên, nên không bị xử lý theo quy định của pháp luật,
có thể xảy ra trong mọi giai đoạn của tố tụng hình sự.
Tội phạm ẩn thống kê (sai số thống kê) “chỉ tồn tại trong trường hợp số
thống kê là số đúng, tức là người làm thống kê đã áp dụng đúng mọi quy định
đối với công tác thống kê, không sai phạm gì trong tính toán hay thời hạn mà
vẫn còn những tội phạm đã bị xử lý theo pháp luật hình sự lọt ra ngoài số thống
kê ấy”7.
Để xác định số tội phạm do NCTN thực hiện đã bị xử lý về hình sự nhưng
không có trong thống kê về tội phạm, tác giả tiến hành nghiên cứu tội phạm do
người chưa thành niên thực hiện cho thấy 76% bị cáo là người chưa thành niên
phạm tội lần đầu và 24 % bị cáo phạm tội nhiều lần hoặc phạm nhiều tội. Trong
các trường hợp phạm tội nhiều lần có thể thấy điểm nổi bật là người chưa thành
niên phạm tội dưới hình thức bí mật, che đậy hành vi, cùng với thủ đoạn lén lút,