Lễ hội truyền thống của người m’nông preh huyện krông nô, tỉnh đăk nông trong xã hội đương đại - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Lê Khắc Ghi

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI M’NÔNG PREH
HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐĂK NÔNG
TRONG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA DÂN GIAN

Hà Nội - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Lê Khắc Ghi

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI M’NÔNG PREH
HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐĂK NÔNG
TRONG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI
Chuyên ngành: Văn hóa dân gian
Mã ngành: 9229041
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA DÂN GIAN

Chương 2: PHỤC HỒI LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI M’NÔNG PREH
Ở HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐĂK NÔNG ................................................................... 55
2.1. Các lễ hội truyền thống ..................................................................................55
2.2. Chủ thể và khách thể với lễ hội ......................................................................94
2.3. Tình hình tổ chức phục hồi lễ hội truyền thống ở huyện Krông Nô, tỉnh
Đắk Nông ............................................................................................................107
Tiểu kết ................................................................................................................113
Chương 3: NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ PHỤC HỒI LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TRONG
XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI ........................................................................................................ 115
3.1. Những vấn đề xung quanh việc phục hồi lễ hội ...........................................115
3.2. Nguyên nhân của sự thay đổi của lễ hội ......................................................133
3.3. Hệ quả của quá trình thay đổi của lễ hội ......................................................153
3.4. Giá trị văn hóa lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội đương đại ..........157
3.5. Xu hướng phát triển của lễ hội M’Nông Preh trong thời gian tới....................160
3.6. Vấn đề bảo tồn, phát huy lễ hội truyền thống ..............................................166
Tiểu kết ................................................................................................................170
KẾT LUẬN ........................................................................................................................... 173
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ............................... 177
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 178
PHỤ LỤC............................................................................................................................... 194


iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lễ hội truyền thống M’Nông Preh là sinh hoạt cộng đồng tiêu biểu và
quy mô nhất của cư dân tại chỗ. Đây là những hoạt động mang tính tổng hợp
của tín ngưỡng tâm linh, sinh hoạt văn hóa, trao truyền kỹ năng sống, hoạt
động vui chơi, giải trí; đồng thời xây dựng tinh thần cố kết cộng đồng, giữ
cho cộng đồng tồn tại và phát triển qua hàng ngàn đời. Những thành tố văn
hóa trong lễ hội đã biểu hiện rõ sắc thái văn hóa của dân tộc, minh chứng cho
sức sống mãnh liệt của văn hóa cộng đồng làm nên sự khác biệt khó trộn lẫn.
Lễ hội thường tổ chức là: Mừng mùa (Bư brah bă), Sum họp cộng đồng
(R’nglăp bon), Cúng bến nước (Bư brah dơrâm dăk), Cầu mưa (Bư brah qual
mih), Cầu an (Tăm blang m’prang bon). Tuy mỗi lễ hội có sự khác nhau,
nhưng nhìn chung đó là sinh hoạt lớn của cộng đồng gồm nhiều yếu tố như:
các nghi thức tế lễ, lễ vật, trưng bày cây nêu, trồng cây blang, ẩm thực và hoạt
động vui chơi, giải trí. Phải thấy rằng, lễ hội giữ vai trò quan trọng trong đời
sống cộng đồng, là sự tái hiện các hoạt động sáng tạo, nơi biểu diễn, giới
thiệu nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc; là môi trường học hỏi đa diện
các kỹ năng sống, sản xuất và sáng tạo văn hóa nghệ thuật; tôn trọng lẫn nhau,
tôn trọng cuộc sống và biết ơn ông bà, những thế hệ đi trước bằng lối ứng xử
văn hóa giữa con người với con người, con người với môi trường tự nhiên và
con người với thần linh.
Từ góc độ của người quản lý và làm công tác nghiên cứu khoa học
trong quá trình điền dã và thực tế tôi nhận thấy trước sự thay đổi mau chóng
của đời sống xã hội, kinh tế phát triển đã tác động đến cuộc sống sinh hoạt
của người M’Nông Preh. Hoạt động văn hóa truyền thống bản địa nơi đây
ngày một phai nhạt dần, các lễ hội cũng thưa thớt và không còn quy mô, đầy
đủ như trước. Các bài bản nghi thức lễ hội, phương cách trình diễn, môi




3

cảm thấy bối rối và tiếc nuối cho di sản cha ông ngày càng mai một. Tại sao
những lễ hội truyền thống tồn tại từ ngàn đời lại nhanh chóng bị mai một,
thay đổi và lãng quên trên chính mảnh đất đã sinh ra loại hình sinh hoạt văn
hóa giàu bản sắc? Những tồn tại của quá trình phục hồi lễ hội các dân tộc tại
chỗ đã tác động tiêu cực đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống, đặt ra những thử thách mới trong việc hài hòa giữa bảo tồn và
phát triển. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến phong trào “xây dựng đời sống
văn hóa ở cơ sở”, giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp trong cộng đồng, cố kết bằng
sức mạnh truyền thống và ý thức công dân trong thời đại mới; tạo điều kiện
phát triển kinh tế-xã hội. Trong nhiều vấn đề quan tâm ngày nay, những vấn
đề tồn tại kéo dài, tiêu cực, khó kiểm soát của lễ hội các dân tộc bản địa đặt ra
phải có sự nhìn nhận đánh giá thực tế để xây dựng chương trình hành động
trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống bằng các hành động thiết thực, bằng
công việc cụ thể như: tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn, tổ chức phục dựng,
tái hiện, giới thiệu, quảng bá hình ảnh các lễ hội đặc sắc này thông qua các đề
án, dự án, chương trình hỗ trợ cộng đồng, trong đó gắn lễ hội với du lịch.
Cộng đồng hưởng lợi trong các hoạt động lễ hội và cộng đồng là người quyết
định giữ gìn loại hình văn hóa độc đáo này. Đó là những vấn đề thực tế đặt ra
cho tác giả luận án quan tâm, nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tổng kết các công trình nghiên cứu về lễ hội truyền thống
của người M’Nông Preh cư trú tại huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông, chúng tôi
giới thiệu, phân tích và đưa ra kiến giải của riêng mình. Luận án có mục đích
cụ thể:
- Thông qua việc giới thiệu tổng quan lễ hội truyền thống người
M’Nông Preh huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông nhằm chỉ ra tổng thể hình ảnh




5

3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: là không gian lễ hội của cộng đồng M’Nông Preh
thuộc huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông; trong đó tập trung khảo sát kỹ tại một
số bon trên mười tám bon có những điều kiện kinh tế xã hội khác nhau như
bon KTăh xã Quảng Phú; bon Ol, Giang Trum xã Đăk Rô; bon Ja Răh, R’Cập
xã Nâm Nung; bon Jor Linh, Dru, Brói thị trấn Đăk Mâm. Qua đó so sánh, đối
chiếu để làm rõ những yếu tố thay đổi của lễ hội trong đời sống cộng đồng.
Phạm vi thời gian: tập trung nghiên cứu thực tế tổ chức lễ hội truyền
thống M’Nông Preh huyện Krông Nô từ năm 2004 (sau khi thành lập tỉnh
Đăk Nông), ít nhiều có đề cập đến thời gian trước và sau năm 1975 khi Tây
Nguyên được giải phóng, đất nước thống nhất để nhìn thấy quá trình chuyển
biến trong việc tổ chức lễ hội truyền thống.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Từ những mục đích, nội dung đặt ra như trên luận án sẽ đưa ra các giả
thuyết nghiên cứu như sau:
-Sự cởi mở, đổi thay của điều kiện kinh tế xã hội có sự tác động đến
đời sống cộng đồng. Tuy nhiên với lối sống không còn gắn bó với rừng, từ
canh tác nương rẫy sang canh tác cây công nghiệp, sinh hoạt tôn giáo mới đã
ảnh hưởng tiêu cực đến tín ngưỡng dân gian dẫn đến thay đổi sinh hoạt văn
hóa cộng đồng làm thay đổi lễ hội truyền thống.
- Sự hạn chế của tổ chức lễ hội truyền thống hoặc những thay đổi của lễ
hội đã tác động tiêu cực và ảnh hưởng đến sinh hoạt văn hóa cộng đồng các
dân tộc Tây Nguyên nói chung và người M’Nông Preh nói riêng trong việc
bảo tồn văn hóa truyền thống góp phần phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo
an ninh ở địa phương.
- Lễ hội truyền thống người M’Nông Preh là sinh hoạt cộng đồng hết

trong quá trình triển khai tổ chức lễ hội. Từ việc chuẩn bị triển khai lễ hội cho


7

đến các nghi lễ, các sinh hoạt văn hóa, trò chơi dân gian và hoạt động vui
chơi, giải trí của cộng đồng. Trong đó chúng tôi tiến hành gặp gỡ, trao đổi,
phỏng vấn cộng đồng đặc biệt là già làng, trưởng bon, lãnh đạo chính quyền
xã, huyện, tỉnh vì họ là những cán bộ quản lý, tổ chức, người con của bon
làng và thực hành lễ hội. Với việc tham gia lễ hội, tôi là cán bộ công tác lâu
năm trong ngành văn hóa, là người sống và làm việc ở địa phương được quan
sát nhiều lễ hội, chứng kiến quá trình tổ chức chúng tôi đã ghi hình, ghi âm,
ghi chép, cụ thể thời điểm nơi hành lễ và hoạt động lễ hội. Bên cạnh đó, là
những cuộc phỏng vấn sâu với các đối tượng có chủ đích, nhất là cộng đồng.
Tuy nhiên, tôi cũng gặp những khó khăn do phần lớn nghệ nhân cao tuổi,
không nói rành tiếng phổ thông, nghệ nhân giỏi đã mất; thế hệ sau chưa tiếp
nhận hết những tinh túy của văn hóa truyền thống. Với nguồn tư liệu này sẽ là
cơ sở quan trọng để giúp chúng tôi nhận diện rõ hơn về quá trình hình thành,
quá trình tổ chức và thực hành lễ hội với những thay đổi trong bối cảnh phát
triển kinh tế xã hội như hiện nay, đặc biệt là bảo tồn văn hóa truyền thống của
cư dân M’Nông.
6.2. Nghiên cứu tư liệu đã xuất bản
Tư liệu liên quan đến đề tài rất quan trọng, giúp cho việc nghiên cứu
được thuận lợi có hệ thống, có cơ sở, cứ liệu để dẫn chứng, tham khảo. Trước
khi tiến hành nghiên cứu thực tế, các lễ hội được tổ chức tại huyện Krông Nô
với các đối tượng khác nhau với các bon làng trong cộng đồng, chúng tôi đã
tiến hành tìm kiếm các tài liệu, công trình đã công bố, thu thập thông tin, phân
loại, sắp xếp, phân tích các kết quả nghiên cứu, trong đó bao gồm các sách
chuyên khảo, các tài liệu thống kê, các báo cáo, các đề tài khoa học, các dự án
từ trung ương đến địa phương, các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến

hội truyền thống của người M’Nông Preh ở huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông
trên nhiều nguồn thông tin khác nhau:


9

Thứ nhất, phân tích các quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoạt động
lễ hội từ năm 1986 đến nay.
Thứ hai, phân tích những quan điểm học thuật của những học giả đi
trước về những vấn đề tổ chức lễ hội, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng có
ảnh hưởng đến sinh hoạt lễ hội, đặc biệt là những năm sau giải phóng miền
Nam thống nhất đất nước năm 1975, những năm 2000 thời điểm Tây Nguyên
có những biến chuyển dữ dội như: di dân tự do, hoạt động mạnh của tôn giáo,
mở rộng sản xuất phát triển kinh tế, trồng cây công nghiệp, xung đột về đất
đai.
Thứ ba, phân tích những luận điểm khoa học và lý thuyết đề tài.
Thứ tư, tìm hiểu và phân tích, lý giải của cộng đồng trong việc tổ chức
và bảo tồn văn hóa truyền thống nhất là lễ hội, đặc biệt là vào thời điểm phục
hồi sau những năm dài không tổ chức lễ hội.
Thứ năm, dựa vào các cuộc phỏng vấn, các băng ghi hình, ảnh chụp với
việc kết hợp đa dạng những tài liệu điền dã, những tâm tư, tình cảm của cộng
đồng bon làng, các quan điểm học thuật giúp cho việc phân tích, lý giải những
vấn đề nghiên cứu một cách khoa học để từ đó đưa ra những kết quả nghiên
cứu mới.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Trên cơ sở cái nhìn tổng quát về lễ hội truyền thống của người
M’Nông Preh huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông và việc phục hồi trong xã hội
đương đại của một loại hình sinh hoạt văn hóa nguyên hợp; nó thể hiện thế
giới quan, nhân sinh quan của cộng đồng M’Nông Preh, luận án góp phần tìm
hiểu tư tưởng, nguyện vọng của cộng đồng trong điều kiện xã hội mới.

Henri Maitre với khảo cứu đồ sộ Rừng người Thượng: Vùng rừng núi cao
nguyên miền Trung Việt Nam. Có thể nhận thấy các công trình này chủ yếu
phác thảo và giới thiệu khái quát về người M’Nông trong cộng đồng các dân
tộc thiểu số cao nguyên miền Trung Việt Nam; chủ thể văn hóa của những
vùng cao nguyên rộng lớn này.
Sau năm 1954, có một số công trình nổi bật như Minority group in the
Republic of Viet Nam (Các nhóm thiểu số ở Việt Nam cộng hòa) (Shrock II
and others) hay Son of the mountains; Ethnohistory of the Vietnamese Central
Highlands to 1954 (Những người con của núi rừng: lịch sử tộc người ở Cao
Nguyên Việt Nam đến năm 1954). Đáng chú ý là công trình của G. C. Hickey
Free in the forest: Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands 1954 1976 (Tự do trong rừng: lịch sử tộc người ở Cao Nguyên Việt Nam 19541976)... Đặc biệt là công trình nghiên cứu về người M’Nông Gar của Georges
Condominas Nous avons mangé la forêt xuất bản năm 1974 lần đầu tiên ở
Pháp. Vào năm 2003 và năm 2008 Ở Việt Nam, công trình được Nhà xuất bản
Thế giới ấn hành với tựa đề Chúng tôi ăn rừng đá - Thần Gôo và tiểu tựa (Hii
saa Brii Mau-Yaang Gôo), Biên niên sử về làng Sar Luk của người M’Nông
Gar (Bộ tộc tiền Đông Dương trên cao nguyên miền Trung Việt Nam). Bên
cạnh đó, với cách tiếp cận liên ngành xã hội học, dân tộc học và ngôn ngữ học


12

Georges Condominas đã rất thành công trong các bài biên khảo ở Việt Nam
và Đông Nam Á từ năm 1953 đến năm 1976 được ấn hành năm 1978 với tên
gọi L’Espace social. A propos de l’Asie du Sud-Est, cho đến năm 1997 công
trình này được dịch ra bản tiếng Việt với tựa đề Không gian xã hội vùng Đông
Nam Á được đánh giá khá cao, là tư liệu khảo cứu có giá trị.
Trước năm 1975, những học giả, nhà khoa học ở miền Nam Việt Nam
cũng có một số công trình nghiên cứu về người M’Nông như Đồng bào các
sắc tộc thiểu số Việt Nam; nguồn gốc và phong tục (1970) của Nguyễn Trắc
Dĩ; một số bài báo của Nghiêm Thẩm in trên Nguyệt san Quê Hương năm

nội dung liên quan đến luận án, chúng tôi phân thành hai nhóm vấn đề sau:
* Những công trình nghiên cứu về văn hóa M’Nông
Việc nghiên cứu lễ hội truyền thống người M’Nông Preh tỉnh Đắk
Nông, kể cả những công trình nghiên cứu chuyên sâu về người M’Nông còn
hạn chế. Những công trình bài viết của các tác giả, nhà nghiên cứu chủ yếu đề
cập đến đời sống tinh thần của cư dân M’Nông, trong đó có tộc người
M’Nông Preh được tập hợp trong nhóm này để có cái nhìn chung, nhằm đánh
giá toàn diện về sinh hoạt văn hóa tinh thần của người M’Nông.
Địa phương chí tỉnh Quảng Đức do Tòa hành chính tỉnh Quảng Đức
phát hành năm 1960 sau khi đơn vị hành chính tỉnh Quảng Đức được thành
lập theo Sắc lệnh số 24 NV ngày 23/01/1959 của Tổng thống Việt Nam Cộng
hòa Ngô Đình Diệm ký; toàn tỉnh có 03 quận gồm: Khiêm Đức, Kiến Đức và
Đức Lập với 215 buôn Thượng của các sắc dân M’Nông, Mạ, Ê Đê, K’ho,
dân tộc Thượng ở tỉnh Quảng Đức chiếm gần 2/3 dân số toàn tỉnh, khoảng
20.000/30.792 người, trong đó Bộ lạc M’Nông chiếm đa số. Tuy nhiên, về
phía Bắc quận Đức Lập có một số người M’Nông Preh tiến bộ hơn. Về việc
sản xuất, đồng bào Thượng chuyên sống về nông nghiệp họ không biết cày
cấy như đồng bào Kinh mà chỉ biết chuyên làm rẫy trên các ngọn đồi.


14

Về phong tục tập quán, cũng như đồng bào Thượng thuộc các Bộ lạc
khác, Bộ lạc M’Nông và Mạ trong tỉnh có phong tục, tập quán rất phức tạp
nặng tính chất mê tín dị đoan. Về tín ngưỡng, đồng bào Thượng tại tỉnh
Quảng Đức không theo tôn giáo nào mà trái lại thờ nhiều thần: thần trời, thần
đất, thần nông, thần núi, thần lửa. Tuy nhiên, họ tín ngưỡng trên các vị thần
ấy có một vị thần nhân là Đấng tối cao như thượng đế vậy, do tin tưởng nhiều
thần nên đồng bào Thượng thường cúng tế quanh năm. Địa phương chí tỉnh
Quảng Đức là một tài liệu có giá trị, tuy mang tính khái lược giới thiệu về

Năm 2007, tác giả Trương Bi cho ra mắt công trình Văn hóa mẫu hệ
M’Nông, đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về một lĩnh vực của cư dân
M’Nông. Tuy nhiên, việc nhận định, đánh giá và phân tích về văn hóa mẫu hệ
M’Nông từ gia đình, dòng họ cho đến cộng đồng trong các mối quan hệ xã
hội phức tạp. Bên cạnh đó, các hoạt động xã hội, các hoạt động cộng đồng
như tín ngưỡng, lễ hội của người M’Nông là cơ sở để chi phối về loại hình
văn hóa đặc biệt này. Tác giả Trương Bi đã nhấn mạnh dấu ấn thiết chế mẫu
hệ trong đời sống cộng đồng M’Nông xưa và nay, như một mặt để khẳng định
những giá trị văn hóa đó đã làm nên nền tảng đời sống cộng đồng và duy trì
cho đến ngày nay; mặt khác tác giả đã cung cấp cho bạn đọc, những người
nghiên cứu những kiến thức bổ ích.
Công trình Phong tục tập quán cổ truyền của một số dân tộc thiểu số
Tây Nguyên (2007) nhà xuất bản Văn hóa dân tộc của tác giả Ngô Đức Thịnh,
Lê Văn Kỳ. Tuy chỉ tập trung nghiên cứu phong tục tập quán của tộc người Ê
Đê và M’Nông nhưng cho thấy sự đóng góp mới của lĩnh vực nghiên cứu đã
có một số tác giả đề cập với sự thuận lợi của Viện Văn hóa lúc bấy giờ, hai
tác giả đã có dịp tiếp cận và nghiên cứu sâu về hai tộc người có một nền di
sản văn hóa hết sức độc đáo và phong phú. Qua công trình nghiên cứu đã cho
thấy các hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng, trong đó có các phong tục,
tập quán và sinh hoạt lễ hội, nghi lễ có những lý giải sâu sắc và nhiều kết luận


16

xác đáng với những đóng góp mới cho vấn đề nghiên cứu về tộc người và đặc
biệt là vùng đất Nam Tây Nguyên.
Nhạc cụ dân gian Ê Đê, M’Nông do Nhà Xuất bản Văn hóa Dân tộc,
xuất bản năm 2010 của Vũ Lân và Trương Bi. Đây là một công trình văn hóa
tập trung nghiên cứu chuyên sâu về nhạc cụ dân gian của người M’Nông và Ê
Đê. Trên cơ sở đời sống xã hội, những phong tục tập quán, tín ngưỡng, nhạc

Vũ. Công trình nghiên cứu mang tính chất tổng họp những vấn đề liên quan
đến đời sống cộng đồng và di sản văn hóa truyền thống cũng như những thực
trạng của nó trong việc bảo tồn và phát huy. Công trình cũng đã tập trung
nghiên cứu và giới thiệu một số nghi lễ về nông nghiệp, vòng đời người được
phân tích và giới thiệu kỹ, cung cấp nhiều thông tin bổ ích về vấn đề đặc
trưng của vùng đất và con người M’Nông, Ê Đê, với sự quan tâm của độc giả
và những người nghiên cứu. Nhìn chung, công trình chỉ hướng đến định
hướng về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người
M’Nông và Ê Đê. Bên cạnh đó, cũng cung cấp một số dữ liệu quan trọng để
làm cơ sở nghiên cứu.
Năm 2011, tác giả Vũ Ngọc Khánh đã công bố công trình Người
M’Nông ở Việt Nam, do Nhà xuất bản Thông tấn ấn hành. Đây là công trình
nghiên cứu của tập thể do Vũ Ngọc Khánh chủ biên, là tập sách ảnh nghiên
cứu tổng quan về người M’Nông, trên cơ sở khái quát vấn đề tổ chức xã hội,
đời sống cộng đồng, trong đó đề cập đến sản xuất và sinh hoạt văn hóa truyền
thống của người M’Nông, đặc biệt là các nghi lễ và lễ hội được giới thiệu và
đưa ra một số nhận xét cơ bản về tín ngưỡng dân gian cũng như nghi lễ và lễ
hội của người M’Nông. Đây là công trình song ngữ Việt - Anh, do đó tập sách
mang nhiều ý nghĩa nhằm giới thiệu những kiến thức nhất định về người
M’Nông ở Việt Nam với đầy đủ những hình ảnh minh họa hết sức độc đáo và
mới lạ.


18

Công trình Địa chí Đắk Nông do Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân tỉnh Đắk Nông chỉ đạo biên soạn, được Nhà xuất bản Từ điển
Bách khoa xuất bản năm 2011, đây là công trình nghiên cứu tổng hợp có tính
quy mô lớn nhất của tỉnh Đắk Nông từ trước đến nay, là một bộ sách tổng hợp
mang tính bách khoa thư của địa phương được ghi chép một cách toàn diện,

Chúng tôi ăn Rừng Đá - Thần Gôo của Georges Condoninas nhà dân
tộc học người Pháp trong hai năm 1948, 1949 đã cùng ăn, cùng ở, cùng sinh
hoạt với cộng đồng M’Nông Gar ở bon Sar Luk. Biên niên sử về bon Sa Luk
đã phản ảnh chân thật và sinh động về sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, nghi lễ
cũng như lễ hội của cộng đồng M’Nông Gar hết sức cụ thể. Trong lời dẫn
nhập ông đã chỉ ra:
Cuốn sách về một cộng đồng M’Nông Gar này chủ yếu là một sưu
tập thô thu nhặt được rút ra từ các sổ tay ghi chép của chúng tôi
trong thời gian sống tại Sar Luk huyện Lăk. Trước khi dựng lên một
mô hình về cấu trúc xã hội M’Nông, chúng tôi thấy cần trình bày
những khía cạnh khác nhau trong đời sống của nhóm người này
bằng những thí dụ cụ thể rút ra từ thực tế hàng ngày. Chẳng hạn, ở
đây chúng tôi không đưa ra một Lễ Tăm Bôh M’Nông Gar lý thuyết
mà trình bày một lễ trao đổi hiến sinh trâu cụ thể, có ngày tháng và
được đặt trong bối cảnh cuộc sống thường ngày [40, tr.12].
Condominas đã mô tả một lễ cúng rất lớn của người M’Nông Gar gọi
là Niditdong của Bon Sala cách Bon Salut 04km về phía thượng nguồn. Lễ
hội này tục cúng tế cực kỳ “xa hoa”(chữ dùng của Condominas). Họ giết tới
11 con trâu; riêng khách mời đã đến 120 người gồm 9 bon làng lân cận mà
cộng đồng làng chỉ có 80 người. Chúng tôi ăn Rừng Đá - Thần Gôo đã có
tiếng vang lớn trong giới học thuật Phương Tây, là nguồn tư liệu quý giá cho
các nhà nghiên cứu văn hóa người M’Nông Gar, đặc biệt là văn hóa các tộc
người Tây Nguyên. Đối với văn hóa M’Nông nó đã đánh dấu một khởi đầu
với nhiều giá trị về nghiên cứu tộc người M’Nông trước năm 1954. Cuốn sách


20

là cơ sở, nguồn tài liệu viện dẫn, so sánh, đối chiếu cho các nhà nghiên cứu về
văn hóa M’Nông sau này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status