Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ việt nam đương đại (khảo sát sáng tác của dạ ngân, y ban, lý lan, nguyễn thị thu huệ) - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THÚY HÀ

DIỄN NGÔN VỀ GIỚI NỮ
TRONG VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
(KHẢO SÁT SÁNG TÁC CỦA DẠ NGÂN,
Y BAN, LÝ LAN, NGUYỄN THỊ THU HUỆ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THÚY HÀ

DIỄN NGÔN VỀ GIỚI NỮ
TRONG VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
(KHẢO SÁT SÁNG TÁC CỦA DẠ NGÂN,
Y BAN, LÝ LAN, NGUYỄN THỊ THU HUỆ)

Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 822 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

VÀ CÁC QUAN HỆ XÃ HỘI ...................................................................... 40
3.1. Sự kiến tạo vị thế của người nữ trong gia đình ..................................... 40
3.2. Sự kiến tạo vị thế của người nữ trong đời sống xã hội ......................... 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 80
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 93


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những khuynh hướng, phương pháp nghiên cứu nổi bật trong các
khoa học xã hội hiện đại là lý thuyết diễn ngôn. Diễn ngôn học là một lĩnh vực
nghiên cứu liên ngành. Nghiên cứu diễn ngôn không chỉ có quan hệ mật thiết với
ngôn ngữ học, kí hiệu học mà còn gắn liền với với các thành tựu của văn hóa học,
xã hội học, tri thức luận, sử học… Bàn về triển vọng của lý thuyết thuyết diễn ngôn
đối với khoa học hàn lâm, nhà nghiên cứu O.F.Rusakova khẳng định: “Ngày nay,
lĩnh vực nghiên cứu có tên gọi là ‘lí thuyết diễn ngôn’ là một trong những khuynh
hướng đang phát triển mạnh mẽ nhất trong các khoa học xã hội hiện đại. Chứng cớ
là hàng năm, số lượng các ấn phẩm, các hội thảo khoa học, các giáo trình đại học,
các luận văn, luận án dành cho những lĩnh vực khác nhau trong việc vận dụng các lý
thuyết diễn ngôn và phân tích diễn ngôn đang không ngừng tăng lên”. Lý thuyết
diễn ngôn tương thích với nhu cầu khám phá những cơ chế tạo dựng tri thức, niềm
tin, sự kiến tạo chủ thể, các mối quan hệ quyền lực và sự thực hành xã hội đa
dạng…. Đặc biệt, đối với văn chương, lý thuyết diễn ngôn có thể mở ra một cách
đọc mới, một cách lý giải mới các cơ chế ngầm vận hành văn bản.
Theo chúng tôi, một trong những đối tượng tương thích với thế mạnh của lý
thuyết diễn ngôn là văn xuôi nữ. Ở Việt Nam, từ 1986 trở lại đây, văn xuôi nữ
phát triển mạnh mẽ, trở thành một trong những hiện tượng đáng chú ý, cả về mặt
văn học lẫn bình diện văn hóa, xã hội. Dù sự phát triển nở rộ của văn xuôi nữ là
một “vấn đề” của đời sống văn học đương đại, song hầu hết các nghiên cứu về văn

giải lại về giới nữ. Sáng tác của Y Ban có dấu viết của một thứ diễn ngôn ngoại
biên, thiểu số hướng đến trung tậm. Còn tác phẩm của Dạ Ngân, Lý Lan, Nguyễn
Thị Thu Huệ có dấu vết của thứ diễn ngôn trung tâm hướng ra ngoại biên. Cả Dạ
Ngân, Y Ban, Lý Lan và Nguyễn Thị Thu Huệ đều là các nhà văn nữ, bàn về sự
kiến tạo giới nữ (sự tái định nghĩa nữ tính) của chính các nhà văn nữ có ý nghĩa
đặc biệt, nếu chúng ta thừa nhận rằng ngôn ngữ chính dùng để kiến tạo thế giới lâu
nay vẫn là ngôn ngữ nam giới. Bởi vậy, thực chất việc khảo sát diễn ngôn về giới
nữ của các nhà văn nữ đương đại, là miêu tả sự hình thành một ngôn ngữ riêng của
nhà văn nữ về chính giới nữ trong đối sánh với diễn ngôn nam giới về “kẻ khác”.

2


2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Sự du nhập, giới thiệu lý thuyết diễn ngôn cũng như việc vận dụng nó
trong nghiên cứu văn học Việt Nam cho đến nay có rất ít thành tựu, nếu không
muốn nói còn ở tình trạng sơ khai.
Đời sống học thuật ở Việt Nam ghi nhận, khái niệm diễn ngôn, phân tích diễn
ngôn được đề cập và bàn thảo đầu tiên trong lĩnh vực ngôn ngữ học. Trần Ngọc
Thêm, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Thái Hòa... sớm quan tâm đến
vấn đề này, đặc biệt là Diệp Quang Ban [11], Nguyễn Hòa [43]… là hai tác giả có
nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn. Bên cạnh những
đóng góp của các nhà nghiên cứu vừa kể, còn có những nỗ lực dịch và giới thiệu
đường hướng phân tích diễn ngôn của các giả dịch giả như Hồng Nhâm, Trúc
Thanh, Ái Nguyên, Trần Thuần, Hoàng Văn Vân….
Nhìn sang lĩnh vực xã hội học, văn hóa học, sử học, văn học…. dễ thấy, việc
dịch, giới thuyết về khái niệm này cũng còn khá sơ lược. Riêng trong nghiên cứu
văn học, một số công trình phê bình hoặc biên soạn, tổng thuật, giới thiệu các lý
thuyết văn chương hiện đại, dù có đề cập đến khái niệm này song có thể nói là chưa
đủ để hiểu một cách đúng đắn, có hệ thống về lý thuyết diễn ngôn; chưa đáp ứng

nữ, thơ nữ nói chung làm đối tượng khảo sát, đấy là chưa kể có không ít nghiên cứu
trường hợp.
2.3. Mặc dù cách tiếp cận, cũng như điểm tựa lý thuyết của các nghiên cứu về
văn học nữ rất phong phú. Tuy nhiên, vấn đề giới trong văn học Việt Nam nói
chung, đặc biệt vấn đề giới nữ trong văn xuôi nữ đương đại nói riêng vẫn chưa được
quan tâm thích đáng.
Chúng tôi thấy việc nghiên cứu vấn đề giới trong văn học gần đây được thực
hành chủ yếu bởi các nhà nghiên cứu phê bình thế hệ 7x và 8x. Tiêu biểu là Trần
Văn Toàn, Hồ Khánh Vân, Nguyễn Thị Vân Anh…. Tác giả Trần Văn Toàn trong
các nghiên cứu như Nam tính hóa nữ tính - Đọc Đoạn tuyệt của Nhất Linh từ góc
nhìn giới tính [121], Diễn ngôn về giới tính và thi pháp nhân vật Trường hợp của
Dũng trong Đoạn tuyệt [122]; Nguyễn Thị Vân Anh trong một nghiên cứu thử
nghiệm Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam
[4], Thái Phan Vàng Anh trong Văn xuôi thế hệ các nhà văn nữ sau 1975 - nhìn từ
diễn ngôn giới [6],… cho thấy cốt lõi các diễn giải của họ là xuất phát từ lý thuyết

4


diễn ngôn đan xen với thi pháp học. Nguyễn Đăng Điệp trong Vấn đề phái tính và
âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại [126]; Hồ Khánh Vân trong
Từ lý thuyết phê bình nữ quyền nghiên cứu một số tác phẩm văn xuôi của các tác
giả nữ Việt Nam từ năm 1990 đến nay [147]; Ý thức nữ quyền và sự phát triển bước
đầu của văn học nữ Nam Bộ trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc đầu thế kỉ
XX [148]; Ý thức về địa vị giới thứ hai trong một số sáng tác của các tác giả nữ Việt
Nam và Trung Quốc từ 1980 đến nay [126]; Nguyễn Thị Thanh Xuân trong Vấn đề
phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại (qua sáng tác
của một số nhà văn nữ tiêu biểu) [151]; John C.Schafer trong Đọc Phạm Duy và Lê
Vân tư duy về nam giới và nữ giới [161] cho thấy sự quan tâm đến giới nữ từ nữ
quyền luận đan xen với lý thuyết về giới, đôi chỗ còn trộn lẫn với thi pháp học,

thiết chế xã hội của các diễn ngôn….
- Nhiệm vụ chính của luận văn gồm
Xác lập các hiểu thống nhất về khái niệm nữ tính/nam tính, khái niệm diễn
ngôn cũng như diễn ngôn về giới nữ
Phân tích, lý giải những điểm đặc thù trong diễn ngôn về giới nữ của các nhà
văn nữ Việt Nam đương đại: so sánh với các diễn ngôn về giới nữ trước Đổi mới và
các diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi của các nhà văn nam đương đại, nhằm chỉ
ra sự duy trì và đồng thời là sự giải kiến tạo các diễn ngôn về nữ tính của văn xuôi
nữ Việt Nam đương đại
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các diễn ngôn về giới nữ của
chính giới nữ (các nhà văn nữ), cụ thể bao gồm sự định nghĩa lại nữ tính/sự kiến tạo
hình ảnh nữ giới trong tình yêu – hôn nhân, gia đình và các mối quan hệ xã hội…
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: [văn xuôi nữ Việt Nam đương đại] tập
trung khảo sát các tác phẩm Dạ Ngân, Lý Lan, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ. Luận
văn nhìn nhận sáng tác của các nhà văn này như là các trường hợp tiêu biểu và là
những biểu hiện cụ thể, sinh động của các diễn ngôn đương đại về giới nữ.
5. Cơ sơ lý luận và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu diễn ngôn đòi hỏi sự tiếp cận đa ngành, liên ngành. Do đó, luận
văn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp:

6


- Phương pháp loại hình: luận văn sử dụng phương pháp này để xem xét hiện
tượng văn học nữ [văn xuôi nữ), xác định tính chất loại hình của văn học này cũng
như các diễn ngôn về giới trong nó. Khung phân loại được sử dụng để xác định đặc
điểm chung của hiện tượng văn học nữ ở đây là diễn ngôn: xác định diễn ngôn của
giới nữ và diễn ngôn về giới nữ.
- Phương pháp văn hóa học: phương pháp này trước hết trang bị cho tác giả

với diễn ngôn truyền thống.
7. Kết cấu của luận văn
- Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, Tư liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc gồm
3 chương
Chương 1: Giới nữ như là sản phẩm kiến tạo xã hội
Chương 2: Sự kiến tạo hình ảnh giới nữ trong tình yêu và hôn nhân
Chương 3: Sự kiến tạo vị thế của giới nữ trong gia đình và đời sống xã hội

8


Chương 1
GIỚI NỮ NHƯ LÀ SẢN PHẨM KIẾN TẠO XÃ HỘI
Chương này phân biệt khái niệm giới và giới tính; diễn ngôn về giới nữ của
các nhà văn nữ [chủ thể sáng tạo] và diễn ngôn về giới nữ của các nhà văn nam [chủ
thể sáng tạo].
Đồng thời khẳng định nam tính và nữ tính không phải là tự nhiên, mà là các
sản phẩm kiến tạo về mặt xã hội. Diễn ngôn về giới nữ thay đổi theo từng ngữ cảnh
văn hóa xã hội.
1.1. Khái niệm giới, diễn ngôn và diễn ngôn về giới nữ
Giới (gender) khác với giới tính (sex). Lâu nay trong một số thực hành phê
bình văn học, hai khái niệm này được xem là đồng nghĩa, do đó thường bị dùng lẫn
lộn, thay thế cho nhau.
Theo các nhà xã hội học, giới tính lá khái niệm dùng chỉ sự khác biệt về sinh
lý căn bản giữa đàn ông và đàn bà, “khác biệt về cơ quan sinh dục và những khả
năng sinh sản” [132, tr.17]. Còn khái niệm giới đề chỉ chị sự phân biệt về mặt xã
hội và văn hóa.
Các nhà nhân học xã hội cũng phân biệt, khái niệm “giới là sản phẩm của của
văn hóa liên quan đến những quan niệm và hành vi được xem là phù hợp với mỗi
giới tính” [132, tr.17], giới là “cấu trúc văn hóa - xã hội” [132, tr.20], “giới được tạo

hóa, xã hội.
Khái niệm diễn ngôn của giới nữ khác với diễn ngôn về giới nữ. Khái niệm
thứ nhất đề cập đến giới nữ như một chủ thể, xác định giới nữ có một diễn ngôn
so với giới nam. Diễn ngôn của giới nữ có thể kiến tạo nghĩa cho bất cứ hiện
tượng, đối tượng nào Trong khi đó khái niệm thứ hai, cho thấy, giới nữ là đối
tượng định nghĩa của diễn ngôn, chủ thể của diễn ngôn đó có thể là giới nam
hoặc chính là giới nữ.
1.2. Nữ tính, nam tính như là sự kiến tạo xã hội
Như đã nói ở trên (đồng thời cũng là quan điểm của luận văn này), giới
nam và giới nữ là sản phẩm của sự kiến tạo xã hội. Nam tính và nữ tính trong
phạm vi luận văn không được dùng theo nghĩa sinh học, mà là những kiến tạo xã

10


hội, văn hóa. Nam tính và nữ tính không phải là sản phẩm tự nhiên, mà là sản
phẩm của xã hội.
Thừa nhận, nam tính và nữ tính là sản phẩm văn hóa, thì “tất yếu phải chấp
nhận một thực tế: không có một quan niệm duy nhất, phổ quát cho cái gọi là nam
tính (masculine) hay nữ tính (femininity). Nam tính hay nữ tính biến đổi một cách
đa dạng từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác; và ngay trong một nền văn hóa
thì nam tính và nữ tính cũng luôn biến đổi từ thời kì này sang thời kì khác. Điều này
giải thích vì sao trong những công trình nghiên cứu về giới hiện nay nam
tính hay nữ tính thường được dùng ở dạng số nhiều: những - nam tính
(masculinities) và những – nữ tính (femininities). … những quy phạm về nữ tính và
nam tính không phải là một tồn tại có tính chất tự nhiên mà là sản phẩm của diễn
ngôn được kiến tạo từ một hệ hình tri thức và những tương quan quyền lực của một
thời đại cụ thể.” [121, tr.22].
1.3. Giới nữ trong văn học như là một vấn đề văn hóa - xã hội
"Đàn ông có thể coi văn chương như một thứ say mê, tạo kỳ đài. Còn đàn bà

Cận chi, tắc bất tốn, viễn chi tắc oán” (chỉ có đàn bà và bọn tiểu nhân là khó nuôi
dạy. Hễ ta gần gũi thì khinh nhờn, hễ ta xa cách thì oán ghét). Từ đó nảy sinh tư
tưởng trọng nam khinh nữ, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”… Nhưng cho đến
nay thì sự bất bình ấy không còn nữa, sự học thì không ai kém ai và nền văn học
văn học tương lai là chung cho tất cả đàn bà Việt?”
Thời trung đại, dưới ảnh hưởng của diễn ngôn Nho giáo, phạm vi nam - nữ
được phân chia một cách rạch ròi, vị thế chủ yếu thuộc về nam giới, “phu xướng
phụ tùy”, người đàn ông nắm trong tay quyền quyết định và người phụ nữ là người
phục tùng. Những quan niệm đạo đức chuẩn mực “phụ nhân nan hóa”, “Tam tòng,
Tứ đức” của Nho giáo trở thành cái cùm để giam cầm nữ giới, “đẩy vị trí của họ
xuống hàng kẻ nô lệ, nô lệ không chỉ về kinh tế, chính trị, văn hóa, mà nô lệ cả về
tình cảm và tình dục”, là công cụ áp chế tinh thần người phụ nữ, ăn sâu vào tiềm
thức của họ quán tính: tự mình tu dưỡng, tự mình ràng buộc, tự mình nhược hóa
mình, là rào cản vô hình, hà khắc trói buộc tự do và kìm hãm sự phát triển của
người phụ nữ. Bởi vậy, “thế giới văn học thời trung đại Việt Nam là thế giới của
đàn ông,do đàn ông thống trị. Những lời bàn về thơ văn từ thế kỉ X đến hết thế kỉ
XIX còn lưu giữ, truyền lại phổ biến, tuyết đối chỉ có lời nói của đàn ông, không có
tiếng nói phụ nữ, gần như không bàn về giới nữ”, “phụ nữ chỉ đóng vai trò thực
hành, gìn giữ và làm gia tăng quyền lực của những diễn ngôn nam giới” [171].
Trong văn chương, người phụ nữ rơi vào bi kịch “mất tiếng nói” [126, tr.169], hoặc

13


lời nói không có giá trị. Họ trở thành đối tượng thay vì trở thành chủ thể của văn
chương, họ không tồn tại với tư cách là chủ thể của diễn ngôn, của lời nói. Họ
mượn lời nam giới để diễn đạt văn chương của mình. Hầu hết các tác giả nữ trong
văn học trung đại như Lý Ngọc Kiều, Lê Thị Yến (Ỷ Lan), Ngô Chi Lan, Đoàn Thị
Điểm, Phạm Lam Anh, Lê Ngọc Hân, Trương Thị Trong, Nguyễn Trinh Thận,
Nguyễn Thị Hinh (Bà Huyện Thanh Quan), Nguyễn Tĩnh Hòa, Nguyễn Thị Nhược

nói mới mẻ của giới nữ với sự đóng góp của hàng loạt cây bút nữ tài năng như Lê
Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Lý Lan,
Nguyễn Thị Thu Huệ, Dạ Ngân, Nguyễn Ngọc Tư,…Trong sáng tác của họ, nữ giới
được nhìn như một khách thể thẩm mĩ độc lập, một đối tượng cần được khám phá,
lý giải. Các nhà văn nữ thoải mái phô bày đời sống, tâm tư tình cảm, khát vọng, nhu
cầu của bản thân mà không cần dấu diếm. Phụ nữ sáng tác với vai trò là một chủ thể
- một tác nhân chống lại sự kiến tạo của nam giới về nữ tính và vị thế xã hội của
giới nữ. Văn học nữ là diễn ngôn của giới nữ, là sự tự kiến tạo về giới mình.
Tiểu kết chương
Giới và giới tính, nam tính và nữ tính đều là các kiến tạo văn hóa - xã hội. Sự
khác biệt giữa giới nam và giới nữ không phải do yếu tố sinh học quy định, mà là
do xã hội, văn hóa (ngôn ngữ) tạo nên. Nam tính và nữ tính không tồn tại tự nhiên,
sẵn có, tiên nghiệm mà là những kiến tạo xã hội, có thể thay đổi, uốn nắn; mỗi xã
hội, cộng đồng, mỗi nền văn hóa và từng thời kỳ, … có một cách định nghĩa khác
nhau về nam tính và nữ tính. Không có sự thật nào về nam tính, nữ tính tồn tại bên
ngoài các diễn ngôn văn hóa.
Nói đến diễn ngôn là nói đến ngôn ngữ trong thực hành chức năng của chúng.
Diễn ngôn, tri thức, quyền lực gắn bó với nhau. Diễn ngôn tạo ra các niềm tin, niềm
tin tạo ra tri thức, tri thức tạo ra quyền lực. Đến lượt mình quyền lực chi phối sự
kiến tạo, diễn giải.
Khái niệm diễn ngôn về giới nữ xác định giới nữ như một chủ đề, đối tượng
của sự kiến tạo. Chủ thể của những sự định nghĩa, diễn giải này, trong phạm vi xem
xét của luận văn, là chính giới nữ. Giới nữ định nghĩa, diễn giải về bản sắc nữ tính
của chính họ.

15


Chương 2
SỰ KIẾN TẠO HÌNH ẢNH GIỚI NỮ TRONG TÌNH YÊU


chồng không nhìn thành ra bơ vơ nên phải giữ trinh. Phan Khôi cũng cho rằng chữ
trinh có hai đường: nết và tiết. Cái nết nghĩa là cái nết đoan chính và chính chuyên
của người phụ nữ, đoan chính là có ý giữ mình nghiêm nghị không cho ai được
phạm đến, chính chuyên là buộc mình duy nhất với một người chồng mà thôi. Phụ
nữ vì cái ý chí phẩm giá của mình mà giữ trinh chứ không phải vì chồng hay vì ai
cả. Như thế, trinh là một cái nết, về sau người ta uốn nắn nó thành ra một cái tiết.
“Tiết là một cái dấu tỏ ra mình đã làm hết bổn phận của mình đối với người mà
mình thuộc về”. [57, tr.53]. Luật bắt đàn bà thủ tiết là do lòng ích kỷ của đàn ông
mà sâu xa hơn là do cái thuyết thủ tiết của Tống Nho. Dưới cái trị quyền theo học
thuyết Tống Nho, phụ nữ ta cũng đã bị ngược đãi mà chịu thiệt nhiều bề. Pháp luật
ta không cấm hẳn người đàn bà cải giá nhưng cũng cướp hết quyền lợi của người
đàn bà cải giá. Hạ người đàn bà cải giá xuống, tung người đàn bà thủ tiết lên. Phan
Khôi cho rằng ngày nay trong xã hội ta “cái hay của nết trinh chừng như còn lại
không được bao lăm, mà cái dở của nết trinh vẫn còn đè lên đầu hết một phần nữ
giới. Đó là kết quả của sự chuộng tiết hơn nết” [57,tr.57]. Cuối bài viết “Chữ trinh:
cái tiết với cái nết”, Phan Khôi đặt chữ trinh trong thời buổi cái thói dâm ô tràn
ngập cả thiên hạ, đàn bà con gái muốn giữ lấy nhân cách trên nền tự do độc lập thì
cần phản đối cái tiết trinh, trau dồi lấy cái nết trinh [57, tr.57]. Như thế trinh tiết
trong xã hội được nâng lên thành một chuẩn mực thiêng liêng, một áp lực phẩm
hạnh của riêng người phụ nữ nhưng lại bị biến thành “của cải xã hội” được đặt dưới
“cái nhìn công cộng” và sự phán xét công khai của cả cộng đồng, bị đặt dưới sự
diễn giải, kiến tạo, điều chỉnh và phán xét của diễn ngôn nam giới. Trinh tiết, như
vậy, trở thành một ám ảnh về phẩm tính, một sợi dây trói buộc nữ giới theo đạo đức
nam quyền, một mặc cảm quy thuộc tự biến thân thể mình thành thứ ‘đồ vật’ chịu
quyền sở hữu từ duy nhất một người đàn ông. Ý thức hệ Nho giáo đã định cho
người nữ truyền thống phải có đủ tứ đức “Công - Dung - Ngôn - Hạnh”. Trinh tiết
là một phạm trù đạo đức thuộc phạm vi nghĩa của từ “Hạnh”. Một trong những diễn
ngôn tạo nghĩa cho chữ trinh là: “Chữ trinh đáng giá ngàn vàng”. Diễn ngôn này đã
xác định vị trí của chữ trinh đối với cuộc sống, cuộc đời người nữ, trinh giữ vai trò

oan cho một tấm lòng trinh bạch mà chính là sự thừa nhận vị trí quan trọng của tiết
hạnh, trinh tiết trong đời sống của người nữ, và xét cho cùng là thừa nhận sức mạnh
nam quyền. Người nữ trong xã hội ấy không có ý thức phản kháng, họ thụ động,

18


trông chờ sự minh oan, sự công nhận đức hạnh từ người đàn ông. Cái chết của Vũ
Nương và cả “phần thưởng”, sự hóa thân của nàng dường như củng cố thêm tầm
quan trọng của chuyện tiết hạnh, chứ chưa phải là giải oan. Sự giải oan cho nàng chỉ
có được khi Trương Sinh xuất hiện công nhận tiết hạnh của Vũ Nương lúc sống.
“Chuyện người con gái Nam Xương” thực chất là chuyện về tiết hạnh, đức hạnh
của người nữ trong xã hội phong kiến. Trong gia đình Nho giáo, phụ nữ phải giữ
gìn được sự trinh trắng đến khi về nhà chồng. Khi theo chồng, trinh là biểu hiện của
đạo làm vợ: “Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu”. Đó là yếu tố tiên quyết cuộc
sống hôn nhân của họ.
Một cô gái mất trinh vì bất cứ lý do gì (chủ quan hay khách quan) đều bị coi là
không có phẩm tiết, không đức hạnh, là “gái hư”. Phải chăng vì nỗi sợ hãi, nỗi ám
ảnh trong tiềm thức này mà trinh tiết đã trở thành một trong những mối quan tâm
đặc biệt trong sáng tác của nữ giới. Trinh tiết được quy chiếu trong diễn ngôn về
văn hóa của cộng đồng đã khiến cho các nhà văn nữ Việt Nam đưa vấn đề trinh tiết
thành một sự kiện quan trọng trong cuộc đời của các nhân vật nữ. Trong văn xuôi
nữ Việt Nam đương đại, các nhà văn Phạm Thị Hoài, Đoàn Lê, Dạ Ngân, Võ Thị
Xuân Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Đoàn Minh Phượng,… đều nói về trinh tiết.
Khảo sát hơn 30 tập truyện ngắn, tiểu thuyết, tạp văn của 4 nhà văn nữ Dạ
Ngân, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ, chúng tôi nhận thấy các nhà văn này
dành khá nhiều tâm huyết cho hệ vấn đề trinh tiết của nhân vật nữ như giá trị của
trinh tiết, nỗi sợ hãi đau đớn ám ảnh bị cưỡng đoạt trinh tiết, đặc biệt là sự lên tiếng
của người nữ trước tình trạng bị cưỡng đoạt trinh tiết, thái độ đấu tranh để đạp đổ
quan niệm trinh tiết trong tư tưởng nam quyền. Đồng thời các nhà văn cũng thể hiện

gì, không thể nói gì được. Cha Tho đem Tho vô bệnh viện để khám. Tho cũng
không rõ bằng cách nào, nhưng ông kiếm được một cái giấy chứng nhận Tho bị té,
rách màng trinh. Ông bảo mẹ Tho cất cái giấy đó cho Tho. Nó sẽ là bùa bảo hộ hạnh
phúc của Tho sau này. ” [64, tr.5].
Sự cưỡng đoạt trinh tiết đã gây ra cho người nữ một sự chấn thương tâm lý và
đau đớn thân thể tột cùng. Họ uất nghẹn khi nhớ lại về bản thân mình bị chiếm
dụng, chà đạp, thay vì một tồn tại được yêu và được trân trọng. Điều này khiến cho
họ luôn mang tâm lý “sợ đàn ông”, đề phòng đàn ông, không dám nghĩ đến chuyện

20


yêu đương, thậm chí không dám để người đàn ông nào đụng chạm vào thân thể, hay
để lời tán tỉnh của đàn ông lọt vào tai của họ:
“Từ lâu lắm rồi, Tho không bao giờ để cho bất cứ người đàn ông nào đụng đến
thân thể của mình. Cũng không để bất cứ một lời tán tỉnh nào của đàn ông lọt vào
tai mình.” ” [64, tr.10]
“Tho lại càng không màng chuyện yêu đương. Một lần bị cưỡng hiếp, một lần
bị ruồng rẫy, đủ để Tho ớn đàn ông suốt đời. Hôm nọ, Tho thức giấc giữa khuya,
tiếng thở hỗn hễn như dội ra từ ký ức làm Tho cứng đờ trên giường, rồi như một kẻ
bị dìm dưới đáy nước ngoi lên theo bản năng sinh tồn, Tho vùng vẫy, nhào ra khỏi
giường, chạy xuống cầu thang, mở đèn lên. …. Tho tắt đèn, chạy trở lên lầu, ói òng
ọc vô bồn cầu. Khi điều hòa lại nhịp thở, Tho lên giường nằm, cổ họng vẫn nghèn
nghẹn, nước mắt cứ trào ra. Chuyện hai mươi mấy năm xưa, Tho tưởng không còn
nhớ gì nữa, nhưng hóa ra cái tiếng thở hỗn hễn dồn dập ấy vẫn còn ám Tho khiếp sợ
và uất ức đến đờ đẩn như ngày còn thơ.” [64, tr.9].
Dưới ảnh hưởng của diễn ngôn truyền thống về trinh tiết, không chỉ người nữ
mà đàn ông trong văn xuôi đương đại cũng quan niệm trinh tiết là “bảo bối” đảm
bảo hạnh phúc gia đình: “Anh yêu em nhưng anh không thể hôn em. Chẳng để làm
gì khi xảy ra chuyện đó. Rồi mình sẽ ân hận. Em còn lấy chồng, em phải giữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status