VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÚY HÀ
DIỄN NGÔN VỀ GIỚI NỮ
TRONG VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
(KHẢO SÁT SÁNG TÁC CỦA DẠ NGÂN,
Y BAN, LÝ LAN, NGUYỄN THỊ THU HUỆ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÚY HÀ
DIỄN NGÔN VỀ GIỚI NỮ
TRONG VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
(KHẢO SÁT SÁNG TÁC CỦA DẠ NGÂN,
Y BAN, LÝ LAN, NGUYỄN THỊ THU HUỆ)
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 822 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
3.2. Sự kiến tạo vị thế của người nữ trong đời sống xã hội.........................68
KẾT LUẬN.................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................80
PHỤ LỤC.......................................................................................................93
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những khuynh hướng, phương pháp nghiên cứu nổi bật trong các khoa
học xã hội hiện đại là lý thuyết diễn ngôn. Diễn ngôn học là một lĩnh vực nghiên cứu
liên ngành. Nghiên cứu diễn ngôn không chỉ có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ học, kí
hiệu học mà còn gắn liền với với các thành tựu của văn hóa học, xã hội học, tri thức
luận, sử học… Bàn về triển vọng của lý thuyết thuyết diễn ngôn đối với khoa học hàn
lâm, nhà nghiên cứu O.F.Rusakova khẳng định: “Ngày nay, lĩnh vực nghiên cứu có tên
gọi là ‘lí thuyết diễn ngôn’ là một trong những khuynh hướng đang phát triển mạnh mẽ
nhất trong các khoa học xã hội hiện đại. Chứng cớ là hàng năm, số lượng các ấn phẩm,
các hội thảo khoa học, các giáo trình đại học, các luận văn, luận án dành cho những lĩnh
vực khác nhau trong việc vận dụng các lý thuyết diễn ngôn và phân tích diễn ngôn đang
không ngừng tăng lên”. Lý thuyết diễn ngôn tương thích với nhu cầu khám phá những
cơ chế tạo dựng tri thức, niềm tin, sự kiến tạo chủ thể, các mối quan hệ quyền lực và sự
thực hành xã hội đa dạng…. Đặc biệt, đối với văn chương, lý thuyết diễn ngôn có thể
mở ra một cách đọc mới, một cách lý giải mới các cơ chế ngầm vận hành văn bản.
Theo chúng tôi, một trong những đối tượng tương thích với thế mạnh của lý
thuyết diễn ngôn là văn xuôi nữ. Ở Việt Nam, từ 1986 trở lại đây, văn xuôi nữ phát
triển mạnh mẽ, trở thành một trong những hiện tượng đáng chú ý, cả về mặt văn học lẫn
bình diện văn hóa, xã hội. Dù sự phát triển nở rộ của văn xuôi nữ là một “vấn đề” của
đời sống văn học đương đại, song hầu hết các nghiên cứu về văn xuôi nữ Việt Nam thời
gian gần đây, đều chọn điểm xuất phát từ một vài khung tri thức quen thuộc: khám phá,
đánh giá, lý giải từ đặc trưng thi pháp thể loại hay phong cách học,…. Những phương
pháp này rõ ràng đã đem lại nhiều khám phá mới mẻ và hấp dẫn về phương diện nghệ
đứng ở trung tâm, giữa những ràng buộc
giải lại về giới nữ. Sáng tác của Y Ban có dấu
viết của một thứ diễn ngôn ngoại biên, thiểu số hướng đến trung tậm. Còn tác phẩm của
Dạ Ngân, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ có dấu vết của thứ diễn ngôn trung tâm hướng
ra ngoại biên. Cả Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan và Nguyễn Thị Thu Huệ đều là các nhà văn
nữ, bàn về sự kiến tạo giới nữ (sự tái định nghĩa nữ tính) của chính các nhà văn nữ có ý
nghĩa đặc biệt, nếu chúng ta thừa nhận rằng ngôn ngữ chính dùng để kiến tạo thế giới
lâu nay vẫn là ngôn ngữ nam giới. Bởi vậy, thực chất việc khảo sát diễn ngôn về giới
nữ của các nhà văn nữ đương đại, là miêu tả sự hình thành một ngôn ngữ riêng của nhà
văn nữ về chính giới nữ trong đối sánh với diễn ngôn nam giới về “kẻ khác”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Sự du nhập, giới thiệu lý thuyết diễn ngôn cũng như việc vận dụng nó
trong nghiên cứu văn học Việt Nam cho đến nay có rất ít thành tựu, nếu không
muốn nói còn ở tình trạng sơ khai.
Đời sống học thuật ở Việt Nam ghi nhận, khái niệm diễn ngôn, phân tích diễn
ngôn được đề cập và bàn thảo đầu tiên trong lĩnh vực ngôn ngữ học. Trần Ngọc Thêm,
Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Thái Hòa... sớm quan tâm đến vấn đề này,
đặc biệt là Diệp Quang Ban [11], Nguyễn Hòa [43]… là hai tác giả có nghiên cứu
chuyên sâu đầu tiên về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn. Bên cạnh những đóng góp của
các nhà nghiên cứu vừa kể, còn có những nỗ lực dịch và giới thiệu đường hướng phân
tích diễn ngôn của các giả dịch giả như Hồng Nhâm, Trúc Thanh, Ái Nguyên, Trần
Thuần, Hoàng Văn Vân….
Nhìn sang lĩnh vực xã hội học, văn hóa học, sử học, văn học…. dễ thấy, việc dịch,
giới thuyết về khái niệm này cũng còn khá sơ lược. Riêng trong nghiên cứu văn học,
một số công trình phê bình hoặc biên soạn, tổng thuật, giới thiệu các lý thuyết văn
nữ, thơ nữ nói chung làm đối tượng khảo sát, đấy là chưa kể có không ít nghiên cứu
trường hợp.
2.3. Mặc dù cách tiếp cận, cũng như điểm tựa lý thuyết của các nghiên cứu về
văn học nữ rất phong phú. Tuy nhiên, vấn đề giới trong văn học Việt Nam nói
chung, đặc biệt vấn đề giới nữ trong văn xuôi nữ đương đại nói riêng vẫn chưa được
quan tâm thích đáng.
Chúng tôi thấy việc nghiên cứu vấn đề giới trong văn học gần đây được thực
hành chủ yếu bởi các nhà nghiên cứu phê bình thế hệ 7x và 8x. Tiêu biểu là Trần
Văn Toàn, Hồ Khánh Vân, Nguyễn Thị Vân Anh…. Tác giả Trần Văn Toàn trong
các nghiên cứu như Nam tính hóa nữ tính - Đọc Đoạn tuyệt của Nhất Linh từ góc
nhìn giới tính [121], Diễn ngôn về giới tính và thi pháp nhân vật Trường hợp của
Dũng trong Đoạn tuyệt [122]; Nguyễn Thị Vân Anh trong một nghiên cứu thử
nghiệm Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam
[4], Thái Phan Vàng Anh trong Văn xuôi thế hệ các nhà văn nữ sau 1975 - nhìn từ
diễn ngôn giới [6],… cho thấy cốt lõi các diễn giải của họ là xuất phát từ lý thuyết
diễn ngôn đan xen với thi pháp học. Nguyễn Đăng Điệp trong Vấn đề phái tính và
âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại [126]; Hồ Khánh Vân trong
Từ lý thuyết phê bình nữ quyền nghiên cứu một số tác phẩm văn xuôi của các tác
giả nữ Việt Nam từ năm 1990 đến nay [147]; Ý thức nữ quyền và sự phát triển bước
đầu của văn học nữ Nam Bộ trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc đầu thế
kỉ XX [148]; Ý thức về địa vị giới thứ hai trong một số sáng tác của các tác giả nữ
Việt Nam và Trung Quốc từ 1980 đến nay [126]; Nguyễn Thị Thanh Xuân trong
Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại (qua
sáng tác của một số nhà văn nữ tiêu biểu) [151]; John C.Schafer trong Đọc Phạm
Duy và Lê Vân tư duy về nam giới và nữ giới [161] cho thấy sự quan tâm đến giới
nữ từ nữ quyền luận đan xen với lý thuyết về giới, đôi chỗ còn trộn lẫn với thi pháp
học, phong cách học. Trần Nho Thìn trong Từ thực tiễn Việt Nam, góp thêm một
tiếng nói phương pháp luận vào cuộc thảo luận quốc tế về vấn đề Nho giáo và nữ
nữ Việt Nam đương đại: so sánh với các diễn ngôn về giới nữ trước Đổi mới và các
diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi của các nhà văn nam đương đại, nhằm chỉ ra sự
duy trì và đồng thời là sự giải kiến tạo các diễn ngôn về nữ tính của văn xuôi nữ Việt
Nam đương đại
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các diễn ngôn về giới nữ của
chính giới nữ (các nhà văn nữ), cụ thể bao gồm sự định nghĩa lại nữ tính/sự kiến tạo
hình ảnh nữ giới trong tình yêu – hôn nhân, gia đình và các mối quan hệ xã hội…
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: [văn xuôi nữ Việt Nam đương đại] tập
trung khảo sát các tác phẩm Dạ Ngân, Lý Lan, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ. Luận
văn nhìn nhận sáng tác của các nhà văn này như là các trường hợp tiêu biểu và là
những biểu hiện cụ thể, sinh động của các diễn ngôn đương đại về giới nữ.
5. Cơ sơ lý luận và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu diễn ngôn đòi hỏi sự tiếp cận đa ngành, liên ngành. Do đó, luận văn
sử dụng phối hợp nhiều phương pháp:
- Phương pháp loại hình: luận văn sử dụng phương pháp này để xem xét hiện
tượng văn học nữ [văn xuôi nữ), xác định tính chất loại hình của văn học này cũng
như các diễn ngôn về giới trong nó. Khung phân loại được sử dụng để xác định đặc
điểm chung của hiện tượng văn học nữ ở đây là diễn ngôn: xác định diễn ngôn của
giới nữ và diễn ngôn về giới nữ.
- Phương pháp văn hóa học: phương pháp này trước hết trang bị cho tác giả
luận văn quan điểm: đặt văn học vào trong hệ thống văn hóa, lý giải văn học từ văn
hóa. Cụ thể việc nghiên cứu diễn ngôn về giới nữ sẽ được đặt vào cái bối cảnh văn
hóa truyền thống và đương đại đê nhìn nhận, mô tả và lý giải nó, xem diễn ngôn đó
như là sản phẩm của sự kiến văn hóa.
- Phương pháp xã hội học: luận văn nhìn nhận diễn ngôn như là sản phẩm kiến
tạo xã hội, diễn ngôn về giới nữ là sản phẩm của tư tưởng hệ, của một thời kỳ lịch
sử, xã hội; diễn ngôn được kiến tạo, thực hành và bị kiểm soát theo một trật tự diễn
Chương 1
GIỚI NỮ NHƯ LÀ SẢN PHẨM KIẾN TẠO XÃ HỘI
Chương này phân biệt khái niệm giới và giới tính; diễn ngôn về giới nữ của các
nhà văn nữ [chủ thể sáng tạo] và diễn ngôn về giới nữ của các nhà văn nam [chủ thể
sáng tạo].
Đồng thời khẳng định nam tính và nữ tính không phải là tự nhiên, mà là các sản
phẩm kiến tạo về mặt xã hội. Diễn ngôn về giới nữ thay đổi theo từng ngữ cảnh văn hóa
xã hội.
1.1. Khái niệm giới, diễn ngôn và diễn ngôn về giới nữ
Giới (gender) khác với giới tính (sex). Lâu nay trong một số thực hành phê bình
văn học, hai khái niệm này được xem là đồng nghĩa, do đó thường bị dùng lẫn lộn, thay
thế cho nhau.
Theo các nhà xã hội học, giới tính lá khái niệm dùng chỉ sự khác biệt về sinh lý
căn bản giữa đàn ông và đàn bà, “khác biệt về cơ quan sinh dục và những khả năng sinh
sản” [132, tr.17]. Còn khái niệm giới đề chỉ chị sự phân biệt về mặt xã hội và văn hóa.
Các nhà nhân học xã hội cũng phân biệt, khái niệm “giới là sản phẩm của của văn
hóa liên quan đến những quan niệm và hành vi được xem là phù hợp với mỗi giới tính”
[132, tr.17], giới là “cấu trúc văn hóa - xã hội” [132, tr.20], “giới được tạo thành không
chỉ trong gia đình hoặc trong quan hệ giữa các cá nhân mà còn trong cấu trúc của tất cả
các thiết chế xã hội chủ yếu, bao gồm trường học, tôn giáo, kinh tế và chính trị; những
thiết chế này định hướng cho tất cả chúng ta nam giới hay phụ nữ, những thành viên
trong một xã hội cụ thể” [132, tr.21]. Giới tính là thuật ngữ chỉ “những đặc điểm nhận
dạng bên ngoài phân biệt một người nam với một người nữ, cần thiết cho sự tái sản xuất
sinh học của con người” [132, tr.17]. Trong khi giới tính là một đặc trưng sinh học thì
giới là một đặc trưng xã hội-văn hóa. Vì là đặc điểm sinh học nên giới tính có tính
bẩm sinh, đồng nhất, phổ quát và không thay
đổi; cũng như vậy, do là đặc trưng văn hóa-xã hội nên giới có là sản phẩm xã hội hóa,
có tính đa dạng, đặc thù cho từng thời kỳ, văn hóa, xã hội và có thể thay đổi.
một thực tế: không có một quan niệm duy nhất, phổ quát cho cái gọi là nam tính
(masculine) hay nữ tính (femininity). Nam tính hay nữ tính biến đổi một cách đa dạng
từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác; và ngay trong một nền văn hóa thì nam tính
và nữ tính cũng luôn biến đổi từ thời kì này sang thời kì khác. Điều này giải thích vì
sao trong những công trình nghiên cứu về giới hiện nay nam tính hay nữ tính
thường được dùng ở dạng số nhiều: những - nam tính (masculinities) và những – nữ
tính (femininities). … những quy phạm về nữ tính và nam tính không phải là một tồn
tại có tính chất tự nhiên mà là sản phẩm của diễn ngôn được kiến tạo từ một hệ hình tri
thức và những tương quan quyền lực của một thời đại cụ thể.” [121, tr.22].
1.3. Giới nữ trong văn học như là một vấn đề văn hóa - xã hội
"Đàn ông có thể coi văn chương như một thứ say mê, tạo kỳ đài. Còn đàn bà viết
văn xưa nay phần nhiều là để trải lòng. Viết cho mình. Viết bằng thứ bản năng mách
bảo thần thánh nhiều hơn là viết bằng trí khôn. Thế nên, đàn ông viết văn nhiều khi viết
bằng cái thông minh lồng lộng, còn đàn bà thường viết bằng tình yêu, bằng trái tim giàu
trắc ẩn". Nếu coi văn chương là lĩnh vực của sự sáng tạo, sự độc đáo, nơi cá tính được
tôn vinh thì việc phụ nữ cầm bút làm văn chương xác nhận nhu cầu khẳng định giới
tính của mình. Bởi vậy, dù họ đề cập tới những vấn đề vĩ mô hay nhỏ bé, xa xôi hay gần
gụi thì văn chương vẫn bộc lộ sự tinh tế, những góc nhìn riêng của đặc trưng giới tính.
“Xưa nay bất kỳ nước nào cũng vậy, văn học là phần đàn ông, đàn ông là trung tâm của
văn học” [57, tr.423], văn chương ở xứ ta bao đời nay dường như vẫn chỉ dành riêng
cho vài đấng nam nhi thi thố. Phụ nữ “như đã bị ruồng đuổi ra ngoài bờ cõi văn học”
[57, tr. 432], một vài gương mặt phụ nữ hiếm hoi xuất hiện được coi là hiện tượng đặc
biệt, là hiện tượng của văn chương. Tác phẩm của họ được xem như là những tiếng nói
than thân, phản kháng chế độ nam quyền, là lời kêu gọi sự ban ơn của nam giới. Nhưng
người phụ nữ hiện
đại chọn viết văn để “sống một cuộc sống khác” (lời tự bạch của Xuân Quỳnh), họ viết
văn bằng tri thức, bằng thái độ kiêu hãnh tự tin khẳng định bản lĩnh giới mình và giá trị
văn chương của mình. Họ dùng văn chương để “tấn công vào những quan niệm đầy
đời sống văn hóa, người phụ nữ luôn bị coi và tự coi là “phái yếu. Chữ “tài”, chữ “trí”
chỉ gắn liền với người quân tử, kẻ trượng phu. Phụ nữ bị xếp chung hàng với hạng tiểu
nhân. Họ không có quyền đi học hay tham gia thi cử, không có mặt trong bộ máy quản
lí làng xã hay có bất kì tiếng nói nào trong những vấn đề “nghị sự”. Khổng Tử cho
rằng: “Duy nữ tử dữ tiểu nhân, vi nan dưỡng dã. Cận chi, tắc bất tốn, viễn chi tắc oán”
(chỉ có đàn bà và bọn tiểu nhân là khó nuôi dạy. Hễ ta gần gũi thì khinh nhờn, hễ ta xa
cách thì oán ghét). Từ đó nảy sinh tư tưởng trọng nam khinh nữ, “nhất nam viết hữu,
thập nữ viết vô”… Nhưng cho đến nay thì sự bất bình ấy không còn nữa, sự học thì
không ai kém ai và nền văn học văn học tương lai là chung cho tất cả đàn bà Việt?”
Thời trung đại, dưới ảnh hưởng của diễn ngôn Nho giáo, phạm vi nam - nữ được
phân chia một cách rạch ròi, vị thế chủ yếu thuộc về nam giới, “phu xướng phụ tùy”,
người đàn ông nắm trong tay quyền quyết định và người phụ nữ là người phục tùng.
Những quan niệm đạo đức chuẩn mực “phụ nhân nan hóa”, “Tam tòng, Tứ đức” của
Nho giáo trở thành cái cùm để giam cầm nữ giới, “đẩy vị trí của họ xuống hàng kẻ nô
lệ, nô lệ không chỉ về kinh tế, chính trị, văn hóa, mà nô lệ cả về tình cảm và tình dục”,
là công cụ áp chế tinh thần người phụ nữ, ăn sâu vào tiềm thức của họ quán tính: tự
mình tu dưỡng, tự mình ràng buộc, tự mình nhược hóa mình, là rào cản vô hình, hà
khắc trói buộc tự do và kìm hãm sự phát triển của người phụ nữ. Bởi vậy, “thế giới văn
học thời trung đại Việt Nam là thế giới của đàn ông,do đàn ông thống trị. Những lời bàn
về thơ văn từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX còn lưu giữ, truyền lại phổ biến, tuyết đối chỉ
có lời nói của đàn ông, không có tiếng nói phụ nữ, gần như không bàn về giới nữ”, “phụ
nữ chỉ đóng vai trò thực hành, gìn giữ và làm gia tăng quyền lực của những diễn ngôn
nam giới” [171]. Trong văn chương, người phụ nữ rơi vào bi kịch “mất tiếng nói” [126,
tr.169], hoặc
lời nói không có giá trị. Họ trở thành đối tượng thay vì trở thành chủ thể của văn
chương, họ không tồn tại với tư cách là chủ thể của diễn ngôn, của lời nói. Họ mượn
lời nam giới để diễn đạt văn chương của mình. Hầu hết các tác giả nữ trong văn học
trung đại như Lý Ngọc Kiều, Lê Thị Yến (Ỷ Lan), Ngô Chi Lan, Đoàn Thị Điểm, Phạm
với sự đóng góp của hàng loạt cây bút nữ tài năng như Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài,
Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ, Dạ Ngân,
Nguyễn Ngọc Tư,…Trong sáng tác của họ, nữ giới được nhìn như một khách thể thẩm
mĩ độc lập, một đối tượng cần được khám phá, lý giải. Các nhà văn nữ thoải mái phô
bày đời sống, tâm tư tình cảm, khát vọng, nhu cầu của bản thân mà không cần dấu
diếm. Phụ nữ sáng tác với vai trò là một chủ thể
- một tác nhân chống lại sự kiến tạo của nam giới về nữ tính và vị thế xã hội của
giới nữ. Văn học nữ là diễn ngôn của giới nữ, là sự tự kiến tạo về giới mình.
Tiểu kết chương
Giới và giới tính, nam tính và nữ tính đều là các kiến tạo văn hóa - xã hội. Sự khác
biệt giữa giới nam và giới nữ không phải do yếu tố sinh học quy định, mà là do xã hội,
văn hóa (ngôn ngữ) tạo nên. Nam tính và nữ tính không tồn tại tự nhiên, sẵn có, tiên
nghiệm mà là những kiến tạo xã hội, có thể thay đổi, uốn nắn; mỗi xã hội, cộng đồng,
mỗi nền văn hóa và từng thời kỳ, … có một cách định nghĩa khác nhau về nam tính và
nữ tính. Không có sự thật nào về nam tính, nữ tính tồn tại bên ngoài các diễn ngôn văn
hóa.
Nói đến diễn ngôn là nói đến ngôn ngữ trong thực hành chức năng của chúng.
Diễn ngôn, tri thức, quyền lực gắn bó với nhau. Diễn ngôn tạo ra các niềm tin, niềm tin
tạo ra tri thức, tri thức tạo ra quyền lực. Đến lượt mình quyền lực chi phối sự kiến tạo,
diễn giải.
Khái niệm diễn ngôn về giới nữ xác định giới nữ như một chủ đề, đối tượng của
sự kiến tạo. Chủ thể của những sự định nghĩa, diễn giải này, trong phạm vi xem xét của
luận văn, là chính giới nữ. Giới nữ định nghĩa, diễn giải về bản sắc nữ tính của chính
họ.
Chương 2
SỰ KIẾN TẠO HÌNH ẢNH GIỚI NỮ TRONG TÌNH YÊU
VÀ HÔN NHÂN
Chương này xem vị thế xã hội là một vấn đề quan trọng đối với người nữ, nhìn
phụ nữ, đoan chính là có ý giữ mình nghiêm nghị không cho ai được phạm đến, chính
chuyên là buộc mình duy nhất với một người chồng mà thôi. Phụ nữ vì cái ý chí phẩm
giá của mình mà giữ trinh chứ không phải vì chồng hay vì ai cả. Như thế, trinh là một
cái nết, về sau người ta uốn nắn nó thành ra một cái tiết. “Tiết là một cái dấu tỏ ra mình
đã làm hết bổn phận của mình đối với người mà mình thuộc về”. [57, tr.53]. Luật bắt
đàn bà thủ tiết là do lòng ích kỷ của đàn ông mà sâu xa hơn là do cái thuyết thủ tiết của
Tống Nho. Dưới cái trị quyền theo học thuyết Tống Nho, phụ nữ ta cũng đã bị ngược
đãi mà chịu thiệt nhiều bề. Pháp luật ta không cấm hẳn người đàn bà cải giá nhưng cũng
cướp hết quyền lợi của người đàn bà cải giá. Hạ người đàn bà cải giá xuống, tung người
đàn bà thủ tiết lên. Phan Khôi cho rằng ngày nay trong xã hội ta “cái hay của nết trinh
chừng như còn lại không được bao lăm, mà cái dở của nết trinh vẫn còn đè lên đầu hết
một phần nữ giới. Đó là kết quả của sự chuộng tiết hơn nết” [57,tr.57]. Cuối bài viết
“Chữ trinh: cái tiết với cái nết”, Phan Khôi đặt chữ trinh trong thời buổi cái thói dâm ô
tràn ngập cả thiên hạ, đàn bà con gái muốn giữ lấy nhân cách trên nền tự do độc lập thì
cần phản đối cái tiết trinh, trau dồi lấy cái nết trinh [57, tr.57]. Như thế trinh tiết trong
xã hội được nâng lên thành một chuẩn mực thiêng liêng, một áp lực phẩm hạnh của
riêng người phụ nữ nhưng lại bị biến thành “của cải xã hội” được đặt dưới “cái nhìn
công cộng” và sự phán xét công khai của cả cộng đồng, bị đặt dưới sự diễn giải, kiến
tạo, điều chỉnh và phán xét của diễn ngôn nam giới. Trinh tiết, như vậy, trở thành một
ám ảnh về phẩm tính, một sợi dây trói buộc nữ giới theo đạo đức nam quyền, một mặc
cảm quy thuộc tự biến thân thể mình thành thứ ‘đồ vật’ chịu quyền sở hữu từ duy nhất
một người đàn ông. Ý thức hệ Nho giáo đã định cho người nữ truyền thống phải có đủ
tứ đức “Công - Dung - Ngôn - Hạnh”. Trinh tiết là một phạm trù đạo đức thuộc phạm
vi nghĩa của từ “Hạnh”. Một trong những diễn ngôn tạo nghĩa cho chữ trinh là: “Chữ
trinh đáng giá ngàn vàng”. Diễn ngôn này đã xác định vị trí của chữ trinh đối với cuộc
sống, cuộc đời người nữ, trinh giữ vai trò
làm nên giá trị đầy đủ của một phụ nữ. Trinh không chỉ là một chuẩn mực điểu chỉnh
hành vi của người nữ mà còn là một cơ sở để người nam định giá và lựa chọn người nữ.
trọng của chuyện tiết hạnh, chứ chưa phải là giải oan. Sự giải oan cho nàng chỉ có được
khi Trương Sinh xuất hiện công nhận tiết hạnh của Vũ Nương lúc sống. “Chuyện người
con gái Nam Xương” thực chất là chuyện về tiết hạnh, đức hạnh của người nữ trong xã
hội phong kiến. Trong gia đình Nho giáo, phụ nữ phải giữ gìn được sự trinh trắng đến
khi về nhà chồng. Khi theo chồng, trinh là biểu hiện của đạo làm vợ: “Đạo tòng phu lấy
chữ trinh làm đầu”. Đó là yếu tố tiên quyết cuộc sống hôn nhân của họ.
Một cô gái mất trinh vì bất cứ lý do gì (chủ quan hay khách quan) đều bị coi là
không có phẩm tiết, không đức hạnh, là “gái hư”. Phải chăng vì nỗi sợ hãi, nỗi ám ảnh
trong tiềm thức này mà trinh tiết đã trở thành một trong những mối quan tâm đặc biệt
trong sáng tác của nữ giới. Trinh tiết được quy chiếu trong diễn ngôn về văn hóa của
cộng đồng đã khiến cho các nhà văn nữ Việt Nam đưa vấn đề trinh tiết thành một sự
kiện quan trọng trong cuộc đời của các nhân vật nữ. Trong văn xuôi nữ Việt Nam
đương đại, các nhà văn Phạm Thị Hoài, Đoàn Lê, Dạ Ngân, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn
Thị Thu Huệ, Y Ban, Đoàn Minh Phượng,… đều nói về trinh tiết. Khảo sát hơn 30 tập
truyện ngắn, tiểu thuyết, tạp văn của 4 nhà văn nữ Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn
Thị Thu Huệ, chúng tôi nhận thấy các nhà văn này dành khá nhiều tâm huyết cho hệ
vấn đề trinh tiết của nhân vật nữ như giá trị của trinh tiết, nỗi sợ hãi đau đớn ám ảnh bị
cưỡng đoạt trinh tiết, đặc biệt là sự lên tiếng của người nữ trước tình trạng bị cưỡng
đoạt trinh tiết, thái độ đấu tranh để đạp đổ quan niệm trinh tiết trong tư tưởng nam
quyền. Đồng thời các nhà văn cũng thể hiện
cái nhìn cởi mở về sự đánh giá phẩm tiết của người phụ nữ.
Người nữ của Nguyễn Thị Thu Huệ vẫn chịu ảnh hưởng và giam mình trong diễn
ngôn đạo đức truyền thống, chữ trinh vẫn đáng giá ngàn vàng. Bởi thế, một cô gái còn
trinh nhận thấy cái giá trị đích thực của bản thân mình dù cô thiếu thốn mọi thứ vật chất
khác: “Tôi không nghĩ rằng có người muốn lấy tôi. Tôi. Một đứa con
gái trinh tiết nhưng thiếu thốn tất cả mọi thứ chứ không như các cô gái may mắn khác là
có tất cả mọi thứ nhưng lại mất trinh.” [53, tr.268].
Trong “Giới nữ”, khi xác định các huyền thoại về nữ giới, Beauvoir khẳng định,
thân thể của mình. Cũng không để bất cứ một lời tán tỉnh nào của đàn ông lọt vào tai
mình.” ” [64, tr.10]
“Tho lại càng không màng chuyện yêu đương. Một lần bị cưỡng hiếp, một lần bị
ruồng rẫy, đủ để Tho ớn đàn ông suốt đời. Hôm nọ, Tho thức giấc giữa khuya, tiếng thở
hỗn hễn như dội ra từ ký ức làm Tho cứng đờ trên giường, rồi như một kẻ bị dìm dưới
đáy nước ngoi lên theo bản năng sinh tồn, Tho vùng vẫy, nhào ra khỏi giường, chạy
xuống cầu thang, mở đèn lên. …. Tho tắt đèn, chạy trở lên lầu, ói òng ọc vô bồn cầu.
Khi điều hòa lại nhịp thở, Tho lên giường nằm, cổ họng vẫn nghèn nghẹn, nước mắt cứ
trào ra. Chuyện hai mươi mấy năm xưa, Tho tưởng không còn nhớ gì nữa, nhưng hóa ra
cái tiếng thở hỗn hễn dồn dập ấy vẫn còn ám Tho khiếp sợ và uất ức đến đờ đẩn như
ngày còn thơ.” [64, tr.9].
Dưới ảnh hưởng của diễn ngôn truyền thống về trinh tiết, không chỉ người nữ mà
đàn ông trong văn xuôi đương đại cũng quan niệm trinh tiết là “bảo bối” đảm bảo hạnh
phúc gia đình: “Anh yêu em nhưng anh không thể hôn em. Chẳng để làm gì khi xảy ra
chuyện đó. Rồi mình sẽ ân hận. Em còn lấy chồng, em phải giữ nguyên vẹn trinh tiết
cho chồng em. Đó là bảo bối của em trong cuộc sống vợ chồng. Anh yêu em và thèm
muốn em nhưng em bé tý và tội nghiệp lắm…” [53, tr.280].
Một biểu hiện khác của việc đề cao trinh tiết là ca ngợi sự dâng hiến trọn vẹn thân
thể của người nữ. Nếu như mất trinh trở thành nỗi đau, nỗi ám ảnh nặng nề của phụ nữ
thì khoảnh khắc hiến dâng hiến trinh tiết thân thể cho chồng là một niềm vui, niềm hạnh
phúc, tự hào của người phụ nữ trước chồng, bởi nó là một thứ “bảo hiểm suốt đời” cho
cuộc hôn nhân của họ. Người nữ trong sác tác của Y Ban đắm chìm trong cảm xúc đê
mê hòa trộn thân thể với chồng: “Không còn vướng nữa, một cái gì đó đã thông qua
nhưng rất đau. Để anh xem, ôi máu, em chảy máu. Xuân nhổm dậy, một vài giọt máu
vương trên đá. Xuân nhìn mặt Tuấn đang nghệt ra sợ