VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG NAM PHÚ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2018
1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG NAM PHÚ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. KIỀU THANH NGA
3
Cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của
Nhà nước, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định ban hành Chương trình hành
động số 16-CTr/TU, ngày 20/8/2007 về thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 4 (khoá X) về “Chiến lược biển đến năm 2020”.Trong đó xác định, phát
triển nhanh kinh tế biển và vùng ven biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, gắn với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng – an ninh tuyến biển.
Hoài Nhơn là một huyện đồng bằng ven biển có vị trí chiến lược quan
trọng, là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh phía Bắc của
tỉnh Bình Định.Có lợi thế bờ biển dài trên 23 km giàu tài nguyên, cùng đội
tàu khai thác xa bờ nhiều kinh nghiệm và hùng hậu nhất tỉnh Bình Định. Phát
huy tiềm năng lợi thế sẵn có, trên cơ sở chương trình hành động số 16CTr/TU của Tỉnh ủy Bình Định và các Nghị quyết, Chương trình hành động
của Huyện ủy Hoài Nhơn xác định phát triển kinh tế biển là ngành kinh tế
mũi nhọn và phát triển bền vững trên cả 3 lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế
biến kết hợp với du lịch tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của địa
phương.Thời gian qua, huyện tập trung mọi nguồn lực ưu tiên đầu tư nâng
cấp, xây dựng hệ thống giao thông, nạo vét cảng biển, đầu tư đóng mới, cải
hoán tàu thuyền, dịch vụ hậu cần ven biển. Nhờ đó, sản lượng đánh bắt thủy
sản ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP của huyện, góp
phần quan trọng trong việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân
dân huyện Hoài Nhơn.
Trên cơ sở các chính sách phát triển kinh tế biển của Trung ương, từ năm
2010 đến nay, huyện Hoài Nhơn đã ban hành và thực hiện các chính sách về
phát triển kinh tế biển như: Chương trình hành động số 18-CTr/HU ngày
04/10/2011 của Ban Thường vụ Huyện ủy về thực hiện Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ lần thứ XVIII của tỉnh và huyện về khai thác, nuôi trồng gắn với chế
biến và dịch vụ thủy sản, giai đoạn 2011 – 2015; Công văn 161-CV/HU, ngày
đơn lẻ, phân tán; cơ sở hạ tầng, dịch vụ hậu cần nghề cá chưa đáp ứng nhu
5
cầu phục vụ đội tàu đánh bắt xa bờ. Khai thác, đánh bắt còn bừa bãi, ô nhiễm
môi trường chưa kịp thời khắc phục; Trình độ của người lao động đối với
kinh tế biển còn thấp. Cửa biển Tam Quan thường xuyên bị bồi lấp; hệ thống
cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền thường xuyên quá tải…
Để tiếp tục quản lý, khai thác hiệu quả tiềm năng thế mạnh của kinh tế
biển, để kinh tế biển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, huyện Hoài Nhơn cần
phải đánh giá đúng thực trạngthực hiện chính sách, bên cạnh việc đánh giá kết
quả, cần tìm ra những hạn chế, tồn tại trong việc thực hiện chính sách để tìm
ragiải pháp hiệu quả hơn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế biểntrong thời gian
tới. Với lý do trên, tôi chọn đề tài“Thực hiện chính sách phát triển kinh tế
biển từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định” làm luận văn Thạc sĩ,
chuyên ngành Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù là một quốc gia biển, có tiềm năng, lợi thế lớn về kinh tế biển
nhưng trước năm 2007 mô hình quản lý kinh tế biển của Việt Nam chưa thực
sự hình thành. Chỉ tới khi ra đời Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 09 tháng 02
năm 2007 của Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa
X) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, mô hình quản lý kinh tế
biển của Việt Nam mới được định hình rõ nét.
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến kinh tế
biển, có thể kể đến như:
Nguyễn Văn Hiến, “Phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an
ninh trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc và những vấn đề đặt ra”, đăng trên
Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 12/2011[19]. Bài viết nghiên cứu vị trí
chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh của các vùng biển, đảo
Vũ Văn Phái với “Biển và phát triển kinh tế biển Việt Nam: quá khứ,
hiện tại và tương lai”[22], Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQG Hà
Nộinăm 2008. Tác giả nhấn mạnh: Từ thời cổ đại đến nay, con người Việt
7
Nam đã biết khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên của biển phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội với trình độ từ thấp đến cao và bảo vệ an ninh chủ quyền
quốc gia. Hiện nay và trong những năm tới, phát triển kinh tế biển - một trong
những chiến lược quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa
đất nước, đã và sẽ được thực hiện một cách toàn diện hơn với đầy đủ các lĩnh
vực như nghề cá (đánh bắt, nuôi trồng và chế biến), giao thông - thương mại
(hệ thống cảng biển, đội tàu,….), khai thác khoáng sản, công nghiệp, du lịch
và các dịch vụ khác.
Đối với Hoài Nhơn, là huyện có đội tàu đánh bắt xa bờ lớn nhất tỉnh Bình
Định. Những năm qua có nhiều chủ trương, chính sách và có một số công trình
nghiên cứu có liên quanđến kinh tế biển của huyện Hoài Nhơn như:
Báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, ngày 07 tháng 3 năm 2018 có
bài viết “Ngư dân Hoài Nhơn (Bình Định) khai thác xa bờ có trách nhiệm”.
Đó là định hướng của huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã đề ra cho mùa
khai thác năm 2018, đảm bảo không có trường hợp ngư dân trong huyện xâm
phạm lãnh hải nước ngoài.
Trang Thông tin điện tử UBKT Trung ương, ngày 16 tháng 8 năm 2016
có bài viết “Hoài Nhơn phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển
đảo”[28]. Sau khi Nghị quyết đại hội và các Chương trình hành động của
Huyện ủy được ban hành, các cấp ủy, chính quyền đã thực hiện tốt việc triển
khai và lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghị quyết của cấp ủy các cấp bước đầu đi
vào cuộc sống đạt được một số kết quả đáng ghi nhận.
Chương trình hành động số18-CTr/HU, ngày 31/5/2016 của Ban Thường
của địa phương.
Báo Bình Định, ngày 29 tháng 3 năm 2018 có bài viết “Hoài Nhơn phát
triển kinh tế biển”. Những năm qua, ngư dân Hoài Nhơn đã chủ động đầu tư
nâng cấp tàu cá, cải tiến ngư lưới cụ, khai thác kiêm nghề; thành lập tổ đoàn
9
kết trên biển, nghiệp đoàn nghề cá… đánh bắt đạt hiệu quả, sản lượng và giá
trị khai thác hải sản tăng qua từng năm, góp phần phát triển KT-XH của địa
phương.
Mặc dù, thời gian qua không ít đề tài nghiên cứu về phát triển kinh tế
biển, gắn với đảm bảo chủ quyền biển đảo. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có
công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về chính sách phát triển kinh tế biển
từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn. Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài này làm
luận văn thạc sĩ của mình, đề tài luận văn thực hiện có sự kế thừa, phát triển
những kết quả thực hiện trước đó để đánh giá, phân tích, từ đó đề xuất ra các
giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của địa phương trong thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển
kinh tế biển. Nghiên cứu và đánh giá việc thực hiện chính sách phát triển kinh
tế biển ở huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị
trong thực hiện hiệu quả chính sách phát triển kinh tế biển ở huyện Hoài Nhơn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách phát triển
kinh tế biển.
- Phân tích, đánh giá, thực trạng việc thực hiện chính sách phát triển kinh
tế biển của huyện Hoài Nhơn từ năm 2010 đến nay.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp thực hiện hiệu quả hơn chính sách
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá kết quả, những vấn đề còn tồn tại và chỉ ra nguyên nhân trong
triển khai thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển của Hoài Nhơn trong
thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm thực hiện hiệu quả chính sách
phát triển kinh tế biển của huyện Hoài Nhơn trong thời gian tới.
11
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển kinh tế
biển.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển tại
huyện Hoài Nhơn
Chương 3: Định hướng và giải pháp thực hiện hiệu quả chính sách phát
triển kinh tế biển ở huyện Hoài Nhơn.
12
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄNVỀ CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN KINH TẾ BIỂN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1.Các khái niệm cơ bản
- Khái niệm kinh tế biển: Cho đến nay, việc xác định khái niệm của kinh
tế biển vẫn là vấn đề chưa thống nhất. Có nhiều quan niệm khác nhau về kinh
ngành nghề thuộc kinh tế biển.
Ở Việt Nam, có nhiều quan điểm khác nhau về kinh tế biển. Theo PGS,
TS Bùi Tất Thắng và PGS, TS Chu Đức Dũng trong các nghiên cứu của mình
đều có chung quan điểm về nội hàm kinh tế biển như sau: “Kinh tế biển hiểu
theo nghĩa hẹp là toàn bộ hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu gồm:
Kinh tế hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển); Hải sản (đánh bắt và
nuôi trồng hải sản); Khai thác dầu khí ngoài khơi; Du lịch biển; Làm muối;
Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; Kinh tế đảo”[23]. Kinh tế biển hiểu theo
nghĩa rộng là các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy
không phải diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này lại nhờ vào
yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền
ven biển, bao gồm: Đóng và sửa chữa tàu biển; Công nghiệp chế biến dầu khí;
Công nghiệp chế biến thủy, hải sản; Cung cấp dịch vụ biển; Thông tin liên lạc
(biển); Nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ quản
lý kinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên môi trường biển. Do đó, kinh tế
biển không thể tách vùng biển với vùng ven biển và ngược lại.
Đại hội XII của Đảng đã xác định: “Đầu tư phát triển các ngành kinh tế
biển, là đầu tư khai thác dầu khí, vận tải biển, cảng biển, đóng và sửa chữa tàu
biển, du lịch biển, nuôi trồng thuỷ sản; phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá và
đẩy mạnh khai thác xa bờ; Gắn phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền
14
biển, đảo”.
Với nội dung xác định của Đảng ta cùng với những nghiên cứu của các
học giả trong và ngoài nước về kinh tế biển, từ đó có thể đưa ra khái niệm
kinh tế biển như sau: “Kinh tế biển là hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, hoặc
có liên quan đến biển như: khai thác, chế biến các sản phẩm có liên quan đến
biển, du lịch biển, đảo, khai thác dầu khí, vận tải biển, để phục vụ đời sống
hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên biển. Xây dựng các cơ sở hậu cần
nghề cá, tránh trú bão, hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa bờ và hoạt động dài
ngày trên biển. Tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích người dân định cư
lâu dài trên các đảo. Tăng cường công tác cứu hộ, cứu nạn và bảo đảm an
ninh, an toàn trên biển, đảo.[7]
Từ đó, có thể rút ra khái niệm phát triển kinh tế biển: Là sự biến đổi kinh
tế biển theo chiều hướng tích cực dựa trên sự biến đổi cả về số lượng, chất
lượng các yếu tố cấu thành của nền kinh tế biển. Nó bao gồm sự tăng trưởng
về mọi mặt của các ngành nghề, lĩnh vực liên quan đến kinh tế biển. Đó là
một quá trình, bao gồm sự thay đổi về số lượng và chất lượng kinh tế - xã hội
liên quan đến kinh tế biển tương đối ổn định và dần đi vào hiệu quả thể hiện
qua cơ sở hạ tầng kinh tế biển, số lượng và chất lượng sản phẩm kinh tế biển,
nguồn nhân lực biển.
- Khái niệm chính sách phát triển kinh tế biển:
Khái niệm chính sách:
Từ điển Bách khoa Việt Nam, Chính sách là tập hợp các chủ trương và
hành động về phương diện nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà
chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những
mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn
hóa – xã hội – môi trường…[35]
Theo James Anderson thì: “Chính sách là một quá trình hành động có
mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn
16
đề mà họ quan tâm”.
Như vậy có thể hiểu: “Chính sách là tập hợp các hoạt động liên quan với
nhau, được lựa chọn và quyết định để thực hiện, nhằm đạt được những mục
tiêu nhất định.
nhất, chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước; Thứ hai, các quyết định
trong chính sách công này là những quyết định hành động, có nghĩa là chúng
bao gồm cả những hành vi thực tiễn; Thứ ba, chính sách công được ban hành
nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo
những mục tiêu xác định; Thứ tư, chính sách công gồm nhiều quyết định có
liên quan lẫn nhau.[21]
Như vậy có thể hiểu: “Chính sách công là chính sách do cơ quan nhà
nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội của
cộng đồng”. Cũng chính vì vậy mà cho đến nay ở Việt Nam chúng ta thường
dùng khái niệm “chính sách của nhà nước” với nội hàm tương đồng với khái
niệm “chính sách công” (public policy) gần đây mới được sử dụng.
Dựa vào các phân tích trên, chính sách công ở Việt Nam được hiểu như
sau: Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà
nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải
quyết các vấn đề kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định.[13]
Từ khái niệm chính sách, chính sách công và những phân tích của các tác
giả trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm cơ bản về chính sách phát triển kinh
tế biển như sau: Chính sách phát triển kinh tế biển là tổng thể các quyết định và
phương pháp hành động của Nhà nước nhằm tác động lên các hoạt động của
kinh tế biểnnhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra.
1.1.2.Chính sách phát triển kinh tế biển và các yếu tố tác động đến
việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển
- Mục đích, yêu cầu của chính sách phát triển kinh tế biển
Định hướng phát triển kinh tế - xã hội song song với nhiệm vụ bảo vệ
18
quốc phòng - an ninh. Tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm
cứu hộ, cứu nạn trên biển, xử lý ô nhiễm môi trường biển xuyên biển giới,
biến đổi khí hậu và nước biển dâng…
- Vai trò thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển
Thứ nhất, thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển là một trong những
chính sách quan trọng của nền kinh tế quốc dân, góp phần thúc đẩy kinh tế đất
nước phát triển. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa
X) ban hành Nghị quyết số 09/NQ-TW ngày 09/02/2007 về Chiến lược biển
Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh
về biển, làm giàu từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển gắn với cơ
cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả
cao. Mặt khác, kinh tế biển cũng góp phần giới thiệu hình ảnh đất nước, con
người Việt Nam với bạn bè quốc tế qua hoạt động giao thương, vận tải, du
lịch biển...[2]
Thứ hai, phát triển kinh tế biển đóng góp vào việc cải thiện đời sống vật
chất, tinh thần của nhân dân vùng ven biển. Trên quan điểm kinh tế, việc thực
hiện các chính sách phát triển kinh tế biển sẽ tạo cơ hội, điều kiện cho doanh
nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hậu cần nghề biển;
tạo điều kiện nhân dân vùng ven biển tiếp cận với các ngành nghề kinh tế biển
vàmở cơ hội làm việc của người dân trong vùng; từ đó, góp phần tăng thu
nhập, cải thiện đời sống nhân dân.
Thứ ba, phát triển kinh tế biển góp phần bảo đảm an ninh – quốc phòng,
giữ vững chủ quyền quốc gia biển, đảo của Tổ quốc. Phát triển kinh tế biển và
bảo vệ chủ quyền quốc gia là một trong những những chiến lược được ưu tiên
hàng đầu của các quốc gia có biển. Ở nước ta, kết hợp phát triển kinh tế gắn
với bảo vệ chủ quyền còn là sự tiếp nối truyền thống lịch sử dân tộc “dựng
nước đi đôi với giữ nước”; Ðó cũng là chiến lược xuyên suốt của đất nướcta
20
sách kinh tế biển như:
Thứ nhất, đẩy mạnh đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng, giao thông, cảng
biển.
Thứ hai, chú trọng hỗ trợ tiếp cận về đất đai khu vực ven biển.
Thứ ba, chính sách tín dụng, tài chính, thị trường hỗ trợ kinh tế biển.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực, đào tạo lao động ven biển.
Thứ năm, phát triển nguồn lực khoa học và công nghệ kinh tế biển.
Thứ sáu, phát triển du lịch biển và ven biển, hải đảo.
- Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển
Việt Nam
Các yếu tố khách quan:
+ Vị trí địa lý: Vùng biển Việt Nam có diện tích rộng, gấp hơn 3 lần diện
tích đất liền, đường bờ biển dài trên 3.260 km, bên cạnh những thuận lợi cũng
có những bất lợi như: Biến đổi khí hậu đang ngày càng gia tăng; các thiên tai
lớn thường xuất hiện ở biển và vùng ven biển; ranh giới trên biển chưa được
thống nhất; tranh chấp biển, đảo giữa các quốc gia diễn ra liên tục gây ảnh
hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế biểnvà các vấn đề an
ninh quốc phòng.
+ Kinh tế - xã hội: Kinh tế tăng trưởng cao sẽ có nhiều nguồn tài chính
để thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển; Chính phủ và chính quyền địa
phương sẽ dễ dàng hơn trong việc thực hiện các giải pháp, tác động mạnh hơn
để giải quyết các vấn đề chính sách. Đối với vấn đề xã hội: Xã hội càng văn
minh, hiện đại, nhận thức của con người càng tiến bộ, trình độ dân trí càng
cao thì càng thuận lợi việc thực hiện chính sách và pháp luật nói chung, thực
hiện chính sách chính sách phát triển kinh tế biển nói riêng.
+ Yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế: Cùng với xu hướng hội nhập và toàn
cầu hóa, các biến động kinh tế, chính trị, xã hội trong khu vực cũng như trên
22
quả. Việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gồm các bước sau đây:
1.1.3.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
Tất cả các chủ thể, cơ quan chủ trì và phối hợp xây dựng kế hoạch thực
hiện về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, những dự kiến về cơ chế
trách nhiệm của cán bộ quản lý và công chức; các nguồn lực; về thời gian
thực hiện; kiểm tra đôn đốc thực thi chính sách phát triển kinh tế biển. Trên
cơ sở Nghị quyết số 09-NQ/TW về “Chiến lược Biển Việt Nam đến năm
2020”, trong đó xác định: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về
biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc
gia trên biển, đảo góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh. Xây dựng và phát triển toàn diện các
lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học – công nghệ, tăng cường củng cố quốc
phòng, an ninh, làm cho đất nước giàu mạnh từ biển, bảo vệ môi trường biển.
Và tiếp tục thực hiện chủ trương phát triển kinh tế biển được xác định trong
các văn kiện trước đây của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10
năm (2011-2020), được Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011) thông qua, nhấn
mạnh: “Phát triển mạnh kinh tế biển tương xứng với vị thế và tiềm năng biển
của nước ta, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo
vệ chủ quyền vùng biển. Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công
nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, đóng
tàu, xi-măng, chế biến thủy sản chất lượng cao, ...[6]
1.1.3.2. Tuyên truyền, phổ biển chính sách
Các cơ quan truyền thông tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông về
các chủtrương của Đảng, chính sách của nhà nước đối với việc thực hiện
chính sách phát triển kinh tế biển nâng cao nhận thức, xây dựng năng lực
truyền thông cho đội ngũ phóng viên, báo chí, trong đó tập trung đi sâu vào
năng lực truyền thông về các cơ chế chính sách việc thực hiện chính sách cho
25