Header Page 1 of 128.
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận án
Footer Page 1 of 128.
Header Page 2 of 128.
ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA TỔ CHỨC KINH DOANH CHỢ ĐÔ THỊ
16
1.1. Khái niệm cơ bản và lý thuyết cơ sở để nghiên cứu năng lực cạnh tranh của tổ
chức kinh doanh chợ đô thị
16
doanh chợ đô thị
43
1.3. Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của tổ chức kinh doanh chợ đô thị chọn điển hình ở nước ngoài và Việt Nam
49
1.3.1. Kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới
49
1.3.2. Kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam
54
1.3.3. Những bài học kinh nghiệm rút ra
57
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỔ CHỨC KINH
DOANH CHỢ ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
61
2.1. Khái quát về tổ chức hoạt động kinh doanh của hệ thống chợ đô thị trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng
61
2.1.1. Giới thiệu về thành phố Đà Nẵng
2.2.2. Khảo sát thương nhân
87
2.2.3. Khảo sát người tiêu dùng
90
2.3. Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của tổ chức kinh doanh chợ đô thị trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng
93
2.3.1. Vị trí, mặt bằng và cơ sở vật chất
93
2.3.2. Năng lực tài chính
95
2.3.3. Năng lực nhân sự
98
2.3.4. Năng lực tổ chức và quản trị
100
114
3.2. Quan điểm, mục tiêu và định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của tổ chức
kinh doanh chợ đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
116
3.2.1. Quan điểm
116
3.2.2. Mục tiêu và định hướng
119
3.3. Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của tổ chức kinh doanh chợ đô
thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Footer Page 3 of 128.
124
Header Page 4 of 128.
iv
3.3.1. Hoàn thiện môi trường kinh doanh của tổ chức kinh doanh chợ đô thị
124
Association of Southeast Asian Nations
(Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á)
ANTT
An ninh trật tự
ATTP
An toàn thực phẩ m
BQL
Ban quản lý
CB
Cán bộ
CSVC
Cơ sở vật chất
DAMFAMCO Công ty Quản lý hội chợ triển lãm và các chợ Đà Nẵng
DN
Doanh nghiê ̣p
ĐH
Nhân viên
PCCC
Phòng cháy chữa cháy
PL
Phụ lục
TCKDCĐT
Tổ chức kinh doanh chợ đô thị
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TP
Thành phố
UBND
Ủy ban nhân dân
VSMT
Vệ sinh môi trường
88
Bảng 2.7: Thống kê kết quả đánh giá năng lực cạnh tranh (của thương nhân)
88
Bảng 2.8: Tình hình thu thập phiếu khảo sát từ người tiêu dùng
91
Bảng 2.9: Thống kê kết quả đánh giá năng lực cạnh tranh (của người tiêu dùng)
91
Bảng 2.10 TOWS của các TCKDCĐT trên địa bàn TP. Đà Nẵng hiện tại
Footer Page 6 of 128.
110
Header Page 7 of 128.
vii
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THI ̣
Hình 0.1: Các yếu tố năng lực cạnh tranh của TCKDCĐT
13
Hình 0.2: Các yếu tố môi trường tác động đến năng lực cạnh tranh của
TCKDCĐT
13
90
Hình 2.4: Biểu đồ kết quả khảo sát người tiêu dùng về các tiêu chí năng lực cạnh
tranh của TCKDCĐT
92
Hình 2.5: Kết quả khảo sát về đánh giá các tiêu chí năng lực cạnh tranh của
TCKDCĐT trên địa bàn TP. Đà Nẵng
93
Hình 2.6: Biểu đồ kết quả khảo sát đánh giá năng lực cạnh tranh tổng thể của
TCKDCĐT trên địa bàn TP. Đà Nẵng
109
Footer Page 7 of 128.
Header Page 8 of 128.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của các đô thị, chợ là bộ phận
thiết yếu. Chợ là hình thức biểu hiện của thị trường, là nơi kết nối cung – cầu, đáp
ứng nhu cầu của xã hội về sản xuất và tiêu dùng. Ở đây, chợ được hiểu là chợ
truyền thống. Chợ truyền thống tại các đô thị được gọi là chợ đô thị. Chợ đô thị đã
có quá trình hình thành và phát triển từ lâu đời; đến nay đã có được mạng lưới rộng
khắp, đa dạng, giữ vai trò quan trọng trong đời sống của dân cư và sự phát triển
kinh tế - xã hội chung của đất nước.
Cũng như các thực thể khác trong nền kinh tế, chợ đô thị luôn chịu tác động
bởi nhiều yếu tố bên ngoài, nhất là trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng, phát triển kinh tế thị trường ngày càng mạnh mẽ. Sự phát triển của
cần được thực hiện không chỉ đơn thuần thông qua các doanh nghiệp mà vai trò của
Nhà nước rất quan trọng.
Trong môi trường cạnh tranh, chợ đô thị ở thành phố (TP) Đà Nẵng các năm
qua đã có những thay đổi tích cực; tuy nhiên, tình trạng kém thu hút thương nhân và
khách hàng tham gia hoạt động chợ cũng đã xuất hiện nhiều hơn. Việc quản lý hoạt
động của chợ chưa tập trung hướng đến đáp ứng nhu cầu của các đối tượng tham gia
chợ. Chất lượng dịch vụ của các chợ đô thị chưa đảm bảo, chưa tạo được sự khác
biệt và khai thác được những lợi thế so sánh của chợ so với các loại hình thương
mại khác. Điều đó phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh (NLCT) của các tổ chức kinh
doanh chợ đô thị (TCKDCĐT) và vai trò của Nhà nước trong việc định hướng, ban
hành cơ chế, chính sách và thực hiện chức năng quản lý đối với thị trường nói
chung, chợ nói riêng.
Vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao NLCT của các tổ chức
kinh doanh chợ là cần thiết, đáp ứng yêu cầu bức thiết của thực tiễn quản lý kinh tế
ở khu vực đô thị trên địa bàn TP Đà Nẵng hiện nay cũng như trong tương lai.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã được công bố
ở trong và ngoài nước
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Vấn đề cạnh tranh đã được đề cập đến trong kinh tế chính trị học cổ điển (từ
thế kỷ XIX) bởi Adam Smith, David Ricardo, Cac Mac... Lúc bấy giờ, cạnh tranh
được nghiên cứu với giả thiết là thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Các chủ thể kinh tế
có thể phát huy lợi thế tuyệt đối hoặc/và lợi thế tương đối (so sánh) để thắng lợi
trong cạnh tranh.
Đến đầu thế kỷ XX, E. H. Chamberlin, với tác phẩm “The theory of
monopolistic competition” (Lý thuyết cạnh tranh độc quyền, 1933) đã khởi xướng mô
hình cạnh tranh độc quyền và trở thành cơ sở lý luận cho tử tưởng cạnh tranh bằng sự
khác biệt.
Trong thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã có một số phát triển về mặt
lý thuyết liên quan đến cạnh tranh, nổi bật là mô hình cạnh tranh trong kinh tế học
tổ chức (hay tổ chức công nghiệp, IO) được tổng quát hóa thông qua mối quan hệ
vào quá trình động của thị trường (Jacobson 1992).
Cũng vào những năm cuối thể kỷ XX, M. E. Porter đã xuất bản các tác phẩm
kinh điển như: “Competitive strategy” (Chiến lược cạnh tranh, 1980), “Competitive
advantage” (Lợi thế cạnh tranh, 1985) và “Competitive advantage of nations” (Lợi
thế cạnh tranh quốc gia, 1990). Porter đã lý giải một cách tường minh các khái niệm
như chiến lược cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh và phân tích sâu sắc các yếu tố tạo nên
lợi thế cạnh tranh. Các mô hình phân tích cạnh tranh nổi bật của Porter là mô hình 5
lực cạnh tranh, mô hình chuỗi giá trị và mô hình viên kim cương.
Với sự thay đổi lớn trong môi trường cạnh tranh, trên thị trường ngày nay cầu
đã có vai trò gây áp lực lên cung; khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả, hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp. Do vậy, bên cạnh các nghiên cứu nêu trên, lý thuyết
marketing đã có ảnh hưởng quan trọng trong nghiên cứu và hoạch định chiến lược
cạnh tranh. Tác giả điển hình và nổi tiếng trong lĩnh vực này là Philip Kotler. Với
quan điểm trọng khách hàng, các doanh nghiệp cần dựa vào thị trường, phải hiểu
khách hàng và thỏa mãn tốt nhu cầu của khách hàng; đó chính là yếu tố quyết định
tạo nên thành công trong cạnh tranh.
Footer Page 10 of 128.
Header Page 11 of 128.
4
Trên cơ sở các tư tưởng và công trình nghiên cứu nêu trên, trong lĩnh vực quản
trị kinh doanh và quản lý kinh tế đã có nhiều giáo trình được xuất bản làm tài liệu
giảng dạy và học tập trong các trường đại học. Có thể nêu ra một số tác giả có uy tín
như: Michael A. Hitt, R. Duane Ireland và Robert E. Hoskisson, Arthur A.
Thompson, A. J. Strickland, Fred R. David, Michael E. Porter, Philip Kotler...
Từ những năm cuối thế kỷ XX đến nay, có nhiều bài báo quan trọng viết về lý
Header Page 12 of 128.
5
Theo C. K. Prahalad và Venkat Ramaswamy, trong cuốn “Tương lai của cạnh
tranh”, khách hàng ngày nay có nhiều sự lựa chọn hơn bao giờ hết, tuy vậy họ lại có
ít sự hài lòng. Vì vậy, các công ty cần hợp tác với khách hàng để cùng kiến tạo giá
trị, đem lại sự thỏa mãn cho cả hai bên. Đây là quan điểm mới trong kinh doanh và
lựa chọn chiến lược cạnh tranh.Với đặc điểm của giao dịch thương mại truyền
thống, các TCKDCĐT và thương nhân có thể áp dụng lý thuyết này để tồn tại và
phát triển bền vững trên thị trường.
Về phương pháp nghiên cứu, ngày nay, các nhà nghiên cứu nước ngoài có xu
hướng áp dụng kỹ thuật định lượng và phần mềm xử lý dữ liệu thống kê (như SPSS,
AMOS) vào nghiên cứu, đo lường NLCT của doanh nghiệp hơn là tính chỉ số NLCT
dựa vào điểm số và trọng số của các yếu tố liên quan. Các kỹ thuật như phân tích ma
trận (SWOT hay TOWS, EFE, IFE, BCG...), so sánh cặp, so sánh chuẩn
(benchmarking)... vẫn được áp dụng như là những phương pháp định tính để hỗ trợ
trong nghiên cứu và hoạch định chiến lược cạnh tranh cho doanh nghiệp, tổ chức.
Riêng đối với lĩnh vực kinh doanh chợ đô thị, đến nay chưa thấy công trình
nghiên cứu nào của tác giả nước ngoài đề cập cụ thể. Có một số nghiên cứu liên quan
đến kinh doanh dịch vụ và dịch vụ phân phối như: Parasuraman và cộng sự (1988),
Mehta và cộng sự (2000) công bố các thành phần, thang đo chất lượng dịch vụ; Jillian
C. Sweeney, Geoffrey N. Soutar (2001), James F. Petric (2002) đưa ra các thành phần
giá trị cảm nhận của khách hàng.
Tóm lại, ở nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu về cạnh tranh và
NLCT. Điểm chung đáng lưu ý là chúng rất căn bản, thể hiện trình độ cao, nhưng
lại được nghiên cứu trong bối cảnh thực tế của nước ngoài, thường khác nhiều so
với Việt Nam. Vì vậy, các công trình này nên được xem là cơ sở để tiếp tục nghiên
với điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam; phân tích thực trạng, một số nhân tố tác động đến
cạnh tranh và đưa ra những giải pháp chung nhằm nâng cao NLCT của các doanh
nghiệp.
Liên quan gần với đề tài của luận án, có một số công trình nghiên cứu như: Thị
trường, chiến lược, cơ cấu của Tôn Thất Nguyễn Thiêm, NXB TP Hồ Chí Minh,
2003; Năng lực động của doanh nghiệp Việt Nam của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn
Thị Mai Trang, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, 2008; Nâng cao lợi thế
cạnh tranh của doanh nghiệp – Nghiên cứu trường hợp các siêu thị tại TP. Hồ Chí
Minh của Bùi Thị Thanh và Nguyễn Xuân Hiệp, NXB Lao động, 2012…
Năm 2012, Hồ Trung Thanh đã nghiên cứu đề tài về tiêu chí và mô hình đánh
giá NLCT động cho các doanh nghiệp ngành Công Thương . Tác giả đã đề xuất 6 tiêu
chí đánh giá NLCT của doanh nghiệp ngành dệt may là: (1) năng lực sáng tạo (2)
định hướng học hỏi (3) sự hội nhập toàn diện (4) năng lực Marketing (5) định hướng
kinh doanh và (6) kết quả kinh doanh với 44 biến độc lập và 5 biến phụ thuộc. Đây là
nghiên cứu dựa theo lý thuyết NLCT động và nghiên cứu bằng phương pháp định
lượng nhưng áp dụng chủ yếu cho lĩnh vực sản xuất công nghiệp.
Về dịch vụ phân phối và thương mại, năm 2010 Trường Đại học Thương mại
Hà Nội và Ủy ban Kinh tế của Quốc Hội đã xuất bản tập sách Các cam kết WTO về
dich vụ phân phối, những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, NXB Thống kê, Hà Nội;
TS. Trịnh Thị Thanh Thủy, PGS. TS. Nguyễn Hoàng Long và ctg đã xuất bản tập
sách Phương hướng điều chỉnh cơ cấu thương mại Việt Nam đến năm 2020, NXB
Thông tin Truyền thông, 2011.
Footer Page 13 of 128.
Header Page 14 of 128.
7
quan trọng để xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, GS.
TS. Bùi Xuân Phong, 2007; Mô hình cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt
Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế, GS. TS. Hồ Đức Hùng, 2008; Nâng cao năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn TP Đà Nẵng, TS. Võ Thị Thúy Anh,
2011.
Footer Page 14 of 128.
Header Page 15 of 128.
8
Luận án tiến sĩ liên quan đến NLCT của doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh
dịch vụ: Một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp
thương mại Việt Nam trong giai đoạn mới, Nguyễn Vĩnh Thanh, 2005; Nâng cao
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch TP. Hồ Chí Minh đến năm 2020,
Nguyễn Cao Trí, 2011; Nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. Hồ Chí
Minh giai đoạn 2011 – 2020, Nguyễn Xuân Hiệp, 2011; Giải pháp nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước kinh doanh du lịch sau cổ phần hóa trên
địa bàn Hà Nội, Trần Thị Bích Hằng, 2012.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở trong nước đã đề cập, trình bày, đánh
giá được thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao NLCT cho từng ngành, lĩnh vực
kinh doanh cụ thể gắn với từng thời kỳ, không gian và hoàn cảnh kinh tế, xã hội nhất
định. Các tác giả đã kế thừa và phát triển những thành tựu nghiên cứu đi trước, làm
sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và đánh
giá NLCT theo những góc nhìn và kỹ thuật khác nhau. Một số tác giả nghiên cứu dựa
trên tiếp cận chuẩn tắc, thiên về định tính hoặc thống kê mô tả; một số khác tiếp cận
thực chứng, thiên về định lượng. Kỹ thuật phân tích thống kê hiện đại với sự hỗ trợ
của các phần mềm tin học cũng đã được sử dụng...
Tuy nhiên, đến nay NCS vẫn chưa tìm thấy công trình nghiên cứu nào đề cập
Nguyễn Xuân Hiệp (2011) với nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh của doanh
nghiệp, trường hợp các siêu thị tại TP. Hồ Chí Minh đã công bố 5 yếu tố chính quyết
định lợi thế cạnh tranh của các siêu thị tại TP Hồ Chí Minh là 1) tập hàng hóa; 2) giá
cả; 3) không gian siêu thị; 4) tin cậy và 5) nhân viên phục vụ. Các yếu tố này được đo
lường thông qua 21 tiêu chí cụ thể. Mỗi yếu tố, tiêu chí có tầm quan trọng khác nhau
đối với lợi thế cạnh tranh của siêu thị.
Về mô hình cạnh tranh, Hồ Đức Hùng (2008) nêu tóm tắt rằng, NLCT là cơ sở
của lợi thế cạnh tranh; từ lợi thế cạnh tranh mà xác định vị thế cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thị trường. NLCT của doanh nghiệp chịu tác động bởi 2 nhóm yếu tố là
khả năng cạnh tranh và môi trường cạnh tranh. Đối với khả năng cạnh tranh thì có thể
sử dụng mô hình 6 nguồn lực là 1) kỹ thuật, công nghệ, máy móc thiết bị; 2) vật tư,
nguyên liệu; 3) nhân lực; 4) vốn, tài chính; 5) thị trường, marketing và 6) quản lý,
điều hành. Ông cũng đã nêu ra hai cách tiếp cận đánh giá NLCT của doanh nghiệp.
Một là dựa vào 5 yếu tố: 1) quy mô; 2) công nghệ và sản phẩm; 3) marketing và
thương hiệu; 4) quản lý và chiến lược; 5) thị trường. Cách thứ hai là dựa vào 12 yếu
tố: 1) quy mô doanh nghiệp; 2) thương hiệu; 3) đặc trưng sản phẩm; 4) công nghệ; 5)
tài chính; 6) marketing; 7) quản lý; 8) hợp tác; 9) chiến lược; 10) thị trường; 11) hiệu
quả kinh doanh và 12) đầu tư và xuất khẩu.
Năm 2009, Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang đã công bố kết quả
nghiên cứu về một số yếu tố tạo thành năng lực động của doanh nghiệp ở TP. Hồ Chí
Minh. Tác giả đã xác định được 5 nhân tố (vô hình) tạo nên năng lực động của doanh
nghiệp - những nhân tố thỏa mãn tiêu chí VRIN và là nguồn tạo nên NLCT bền vững
cho doanh nghiệp. Đó là: 1) định hướng kinh doanh; 2) năng lực marketing (đáp ứng
thị trường); 3) định hướng học hỏi; 4) nội hóa tri thức; và 5) chất lượng mối quan hệ.
Về phương pháp tiếp cận đánh giá NLCT, có 3 cách chính là phân tích thống
kê mô tả, định tính; so sánh chuẩn (benchmarking, hay phương pháp Thompson
Strickland) và phân tích định lượng đã được sử dụng trong các công trình nghiên
cứu. Mỗi phương pháp có những ưu nhược điểm riêng và thích hợp với tình huống,
điều kiện nghiên cứu nhất định.
Footer Page 16 of 128.
TCKDCĐT, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao NLCT của TCKDC
ĐT trên địa bàn TP Đà Nẵng đến năm 2025. Cu ̣ thể là:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận có liên quan, lựa chọn cơ sở lý thuyết và mô
hình nghiên cứu phù hợp để làm rõ bản chất, đánh giá thực trạng và phân tích các
yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của TCKDCĐT;
- Kiến nghị những giải pháp nâng cao NLCT có tính logic, thực tế và khả thi.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đố i tương nghiên cứu của luâ ̣n án là các giải pháp nâng cao năng lực ca ̣nh
tranh của tổ chức kinh doanh chơ ̣ đô thi.̣ Các giải pháp liên quan đến chủ thể chính
là TCKDCĐT. Tuy nhiên, do tính đặc thù của chợ đô thị nên sẽ nghiên cứu cả
Footer Page 17 of 128.
Header Page 18 of 128.
11
những giải pháp liên quan đến các cơ quan quản lý nhà nước để đảm bảo môi
trường kinh doanh và cạnh tranh thích hợp hơn.
Phạm vi nội dung nghiên cứu bao gồm cơ sở lý luận, kinh nghiệm thực tiễn về
NLCT của TCKDCĐT nói chung và chợ đô thị trên địa bàn TP Đà Nẵng; tình hình
thực tế và giải pháp nâng cao NLCT của TCKDCĐT trên địa bàn TP Đà Nẵng. Trong
đó, nội dung có tính mục tiêu là các giải pháp ở cả tầm vi mô và vĩ mô.
Khách thể nghiên cứu bao gồm các TCKDCĐT, các cơ quan quản lý nhà nước
về chợ đô thị và thương nhân, người tiêu dùng đến chợ mua sắm.
Tổ chức kinh doanh chợ đô thị trước hết là doanh nghiệp và hợp tác xã. Tuy
nhiên, theo định hướng phát triển chợ của Nhà nước, sẽ chuyển đổi mô hình quản lý
chợ từ ban quản lý (BQL), tổ quản lý sang mô hình kinh doanh, quản lý chợ là
doanh nghiệp, hợp tác xã nên việc nghiên cứu NLCT của BQL chợ cũng cần được
chức được giao chức năng, nhiệm vụ quản lý chợ, kinh doanh và khai thác chợ để
khắc phục các điểm yếu kém, tồn tại, làm cho chợ đô thị tiếp tục thích ứng với môi
trường kinh doanh mới, phục vụ có hiệu quả cho nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội
của địa phương, đất nước.
Những câu hỏi nghiên cứu được đặt ra và luận án cần tập trung giải quyết là:
- Tổ chức kinh doanh chợ đô thị phải chịu sức ép cạnh tranh như thế nào trong
bối cảnh nền kinh tế Việt Nam phát triển theo định hướng thị trường và hội nhập?
- NLCT của TCKDCĐT là gì? Cấu thành và tiêu chí đánh giá NLCT của
TCKDCĐT là gì ? Làm thế nào để đánh giá?
- Trong trường hợp TP Đà Nẵng, thực trạng NLCT của TCKDCĐT hiện nay
như thế nào ?
- Định hướng và giải pháp gì để nâng cao NLCT của TCKDCĐT trên địa bàn
TP Đà Nẵng trong giai đoạn đến năm 2025 nhằm duy trì, bảo tồn và phát triển chợ
một cách hiệu quả hơn ?
7. Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu
Đến nay có nhiều mô hình nghiên cứu NLCT khác nhau tương ứng với các cấp
độ vĩ mô hay vi mô; quốc gia, địa phương, ngành hay doanh nghiệp, sản phẩm.
Nhận thấy NLCT của TCKDCĐT tương đồng với NLCT của doanh nghiệp nên
NCS kế thừa các nghiên cứu đi trước trong lĩnh vực này để lựa chọn mô hình
nghiên cứu.
Về lý luận, khái niệm NLCT của TCKDCĐT được xây dựng trên cơ sở đặc
điểm, nội dung hoạt động và quan hệ cạnh tranh của TCKDCĐT trong bối cảnh
Việt Nam hiện nay.
Để đánh giá thực trạng NLCT của TCKDCĐT, NCS chọn mô hình APP là mô
hình với 3 nhóm yếu tố cấu thành NLCT; đó là: Tài sản (Assets), Quá trình
(Processes) và Hiệu quả (Performance). Tuy nhiên, NCS cũng tiếp thu những phát
triển từ một số tác giả khác và điều chỉnh thành 3 yếu tố là: Nguồn lực, Năng lực
hoạt động và Hiệu quả hoạt động.
NLCT của TCKDCĐT được xem như là một hàm số phụ thuộc vào các biến số
- Lợi nhuận
- Hiệu quả tài chính
Vị trí, mặt bằng
Cơ sở vật chất
Tài chính
Nhân sự
Nguồn lực vô
hình
Hình 0.1: Các yếu tố năng lực cạnh tranh của TCKDCĐT
Nguồn: Tác giả kế thừa và đề xuất
Mặt khác, TCKDCĐT là thực thể kinh doanh chịu ảnh hưởng lớn bởi môi
trường bên ngoài, đặc biệt là luật pháp, cơ chế, chính sách và sự quản lý của Nhà
nước. Do đó, để đề xuất được những giải pháp thích đáng nâng cao NLCT cho
TCKDCĐT, NCS vận dụng các mô hình nghiên cứu môi trường kinh doanh, môi
trường marketing và mô hình viên kim cương, mô hình 5 áp lực cạnh tranh của M.
Porter để xác định các yếu tố ảnh hưởng.
Phân tích các yếu tố môi trường cho phép NCS nhận định được những thuận
lợi, cơ hội và khó khăn, thách thức đối với chợ đô thị nói chung, TCKDCĐT nói
riêng. Từ đó, các giải pháp được đề xuất sẽ tập trung vào việc phát huy các thế
mạnh, cơ hội và tìm cách vượt qua thách thức, khắc phục điểm yếu để TCKDCĐT
có thể tồn tại và phát triển trong môi trường kinh doanh cạnh tranh.
NLCT của
TCKDCĐT
Các yếu tố môi trường ngành
Các yếu tố môi trường vĩ mô
khoa học, xử lý dữ liệu và tính toán kết quả bằng các phần mềm Excel, SPSS; từ đó
đưa ra các nhận định, đánh giá và đề xuất.
Vận dụng phối kết hợp hợp lý phương pháp nghiên cứu định tính và phương
pháp nghiên cứu định lượng cho phép tác giả: (1) Xác định các yếu tố cấu thành và
bộ tiêu chí đánh giá NLCT của TCKDCĐT. Kết quả là có 7 nhóm yếu tố (như là
những biến độc lập) tác động thuận chiều đến NLCT tổng thể của TCKDCĐT (biến
phụ thuộc) là: Cơ sở vật chất và bố trí mặt bằng; Tài chính; Nhân sự; Tổ chức và
quản trị; Cung cấp dịch vụ; Marketing và Kết quả kinh doanh. (2) Xác định thang
đo và chỉnh sửa các bản hỏi theo góp ý của chuyên gia; xác định quy mô mẫu với
từng đối tượng điều tra theo lý thuyết nghiên cứu marketing và áp dụng phương
pháp chọn mẫu thuận tiện kết hơp với phân bổ hạn ngạch. Kết quả khảo sát được
làm sạch và xử lý bằng phương pháp thống kê với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS
20.0 và Excel.
Sử dụng dữ liệu, kết quả khảo sát với các nhóm đối tượng điều tra là nhà quản
lý, thương nhân của chợ đô thị và người tiêu dùng TP Đà Nẵng, tiến hành phân tích,
rút ra những nhận định, đánh giá có độ tin cậy, khách quan, xác thực về thực trạng
Footer Page 21 of 128.
Header Page 22 of 128.
15
NLCT của TCKDCĐT trên địa bàn TP Đà Nẵng; tạo luận cứ thực tiễn cho đề xuất
các giải pháp nâng cao NLCT của TCKDCĐT trên địa bàn trong thời gian tới.
Với sự vận dụng các phương pháp nêu trên, NCS đã thực hiện được các mục
tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra về hệ thống hóa cơ sở lý luận; phân tích, đánh
giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao NLCT của TCKDCĐT trên địa bàn TP
Đà Nẵng.
Header Page 23 of 128.
16
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM NÂNG CAO NĂNG
LỰC CẠNH TRANH CỦA TỔ CHỨC KINH DOANH CHỢ ĐÔ THỊ
1.1. Khái niệm cơ bản và lý thuyết cơ sở để nghiên cứu năng lực cạnh tranh của
tổ chức kinh doanh chợ đô thị
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Doanh nghiệp và tổ chức kinh doanh
a) Doanh nghiệp
Doanh nghiệp (DN) là khái niệm phổ biến có thể được tiếp cận theo nhiều góc
độ khác nhau, ít nhất là góc độ kinh tế và góc độ pháp lý.
Về kinh tế, khái niệm DN đã được đề cập trong các tác phẩm kinh điển của Adam
Smith, Karl Marx, R. H. Coase... với nội dung cốt lõi là tổ chức kinh doanh, được biểu
hiện như công ty hay quan hệ đối tác, thực hiện việc sản xuất và bán sản phẩm trên thị
trường để tìm kiếm lợi nhuận. Giáo trình Kinh tế vi mô (NXB Giáo dục, 2000) viết:
"Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu thị trường và xã hội
để đạt lợi nhuận tối đa và đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất.”
Dưới góc độ pháp lý, Luật DN (2014) định nghĩa: "Doanh nghiệp là tổ chức có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của
pháp luật nhằm mục đích kinh doanh"; “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một
số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Như vậy, DN là đơn vị hay tổ chức có chức năng kinh doanh và phải thỏa mãn
các quy định của pháp luật.
b) Tổ chức kinh doanh
Tổ chức kinh doanh là thực thể kinh doanh có cấu trúc; bao gồm nhiều người
xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; từ lâu đời, ở Việt Nam đã xuất hiện một
hình thức tổ chức thị trường được gọi là chợ.
Chợ là nơi nhiều người tụ họp để mua bán hàng hóa trong những ngày, buổi
nhất định. Chợ cũng có thể được hiểu là loại hình tổ chức thương mại tại một địa
điểm nhất định, đáp ứng các nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa và nhu cầu tiêu
dùng của dân cư trong khu vực xung quanh chợ.
Theo nghĩa thông thường, chợ là nơi gặp nhau giữa người mua và người bán
để trao đổi, mua bán sản phẩm hàng hoá và dịch vụ. Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê,
2011) định nghĩa: chợ là nơi công cộng để mọi người đến mua bán hàng hóa, có thể
được quy định vào những buổi hoặc những ngày nhất định”. Từ điển Bách khoa
Việt Nam viết: “chợ là nơi gặp gỡ nhau giữa cung và cầu các hàng hóa, dịch vụ,
vốn; là nơi tập trung hoạt động mua bán hàng hóa giữa người sản xuất, người buôn
bán và người tiêu dùng”.
Chợ là loại hình thương mại truyền thống phát triển khá phổ biến ở nước ta; là
hiện thân của hoạt động thương mại; là sự tồn tại của không gian thị trường mỗi
vùng, nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và tập trung nhiều
nhất ở các vùng đô thị, các thành phố lớn.
Theo một số văn bản quy phạm pháp luật, có các định nghĩa như sau:
Footer Page 24 of 128.
Header Page 25 of 128.
18
“Chợ là mạng lưới thương nghiệp hình thành và phát triển cùng với sự phát
triển của nền kinh tế-xã hội”(1).
“Chợ là một địa điểm cố định có địa giới được quy định trên địa bàn dân cư có
hoặc không có nhà lồng, được thành lập theo quyết định của Ủy ban nhân dân
Quyết định số 13/2006/QĐ-BXD ngày 19/4/2006 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về tiêu chuẩn thiết kế chợ.
4
Nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ.
1
2
Footer Page 25 of 128.