Luận văn tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi tại huyện vị xuyên, tỉnh hà giang - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

N U ỄN SON

N ỌC

THAM VẤN CHO CHA MẸ TRONG GIÁO DỤC TRẺ EM
TỪ 11 TUỔI ĐẾN 14 TUỔI TẠI HUYỆN VỊ XUYÊN,
TỈNH HÀ GIANG
Ngành: Công tác xã hội
Mã số: 876 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔN

TÁC XÃ HỘI

N ƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS NGUYỄN HỮU MINH

HÀ NỘI, 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Nguyễn Song Ngọc


3.4 VỀ TĂNG CƢỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA GIA ĐÌNH, NHÀ TRƢỜNG VÀ XÃ HỘI 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 78
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 81


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Phân chia trách nhiệm chính giữa vợ và chồng trong chăm sóc, giáo dục
con .............................................................................................................................28
Bảng 2.2: Tỷ lệ cha mẹ dạy con biết quý trọng sức lao động và cách sử dụng đồng
tiền .............................................................................................................................40
Bảng 2.3: Tỷ lệ cha mẹ dạy con nhận biết thủ đoạn lừa đảo, buôn bán và bắt cóc ..44
Bảng 2.4: Tỷ lệ cha mẹ giáo dục, răn đe con tránh xa các tệ nạn xã hội, trò chơi
game, quán internet ...................................................................................................45
Bảng 2.5: Nguồn cung cấp thông tin, kiến thức về giáo dục gia đình ......................61


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Vai trò của cha, mẹ trong định hƣớng nghề nghiệp, chọn trƣờng cho
con phân theo trình độ học vấn (%) .........................................................................32
Biểu đồ 2.2: Hoạt động phổ biến kiến thức nuôi dạy, giáo dục con của Hội phụ nữ
(%) .............................................................................................................................56
Biểu đồ 2.3: Hoạt động phổ biến kiến thức tổ chức cuộc sống gia đình của Hội phụ
nữ (%) ........................................................................................................................57
Biểu đồ 2.4: Hoạt động cung cấp tài liệu truyền thông của Hội phụ nữ (%) ............58
Biểu đồ 2.5: Hoạt động hỗ trợ phụ nữ vay vốn của Hội phụ nữ (%) .......................60
Biểu đồ 2.6: Hoạt động “Hỏi chuyên gia tƣ vấn, tham vấn” phân theo trình độ học
vấn cha mẹ (%) ..........................................................................................................62




Tham vấn là hoạt động trợ giúp có ý nghĩa lớn lao với mỗi cá nhân, gia
đình. Việc tham vấn cho cha mẹ theo hƣớng cung cấp kiến thức, phƣơng pháp
và kỹ năng cho cha mẹ trong giáo dục trẻ từ 11 đến 14 tuổi là rất cần thiết để
giúp cha mẹ thay đổi hành vi của mình trong ứng xử, giao tiếp với con và hỗ
trợ cha mẹ trong việc giáo dục trẻ.
Vị Xuyên là một huyện miền núi biên giới phía Bắc Việt Nam, nằm bao
quanh thành phố Hà Giang. Đời sống kinh tế - xã hội của ngƣời dân còn gặp
nhiều khó khăn, trình độ học vấn thấp, nhận thức của dân cƣ về vấn đề giáo
dục, chăm sóc trẻ em còn nhiều hạn chế. Nhiều cha mẹ bận rộn làm kinh tế
chƣa thực sự quan tâm, dành thời gian giáo dục con cái, đặc biệt là khi trẻ
bƣớc vào độ tuổi từ 11 – 14 tuổi. Đồng thời, cho đến nay còn ít các nghiên
cứu về chủ đề này đối với các bậc cha mẹ thuộc dân tộc thiểu số từ góc độ
công tác xã hội..
Với lý do đó, tôi chọn đề tài “Tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ
em từ 11 tuổi đến 14 tuổi tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang” để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Một số nghiên cứu về tham vấn
Ngay từ buổi sơ khai, khi cá nhân hay gia đình có vấn đề và không tự
giải quyết đƣợc, họ thƣờng tìm tới những ngƣời đƣợc xem là có uy tín, có
kinh nghiệm. Khi này sự trợ giúp thƣờng là lời khuyên hay giải pháp cho vấn
đề của họ. “Nhà tham vấn” ở đây có thể là ngƣời lớn tuổi hơn, ngƣời có kinh
nghiệm, ngƣời đứng đầu nơi họ sinh sống… Cùng với sự phát triển của khoa
học, sự trợ giúp có tính chuyên nghiệp dần đƣợc hình thành. Thuật ngữ
Counseling (tham vấn) đƣợc sử dụng lần đầu tiên bởi Jesse B.Davis, khi ông
thiết lập trung tâm tham vấn hƣớng nghiệp giáo dục tại Detroit (Hoa Kỳ) năm
1898[15, tr.46].
Vào những năm cuối của thế kỷ XIX, qua quá trình trợ giúp những gia
đình nghèo khổ, ngƣời ta nhận thấy sự giúp đỡ đơn thuần bằng vật chất đã
không đem lại kết quả nhƣ mong muốn. Việc sử dụng các cuộc thăm hỏi thân

xã hội khác nhau nhƣ xã hội học đã khiến cho ngƣời ta xem xét con ngƣời
trong bối cảnh xã hội và với sự ảnh hƣởng của nó. Do vậy những hƣớng
nghiên cứu trong tham vấn cũng đƣợc thay đổi. Khi này các nghiên cứu trong
tham vấn đã quan tâm nhiều hơn tới việc trợ giúp cá nhân trong bối cảnh của
3


nhóm xã hội. Cũng từ đây các lý thuyết tiếp cận trong tham vấn gia đình và
tham vấn nhóm ra đời. Các mô hình can thiệp cấu trúc gia đình, mô hình học
tập xã hội, mô hình can thiệp tập trung vào giải pháp, mô hình can thiệp hệ
thống gia đình hay cách tiếp cận năng động tâm lý và giao tiếp trong gia đình
lần lƣợt đƣợc ra đời (C. Kilpatrick & Thomas P. Holland, 1993; Ackerman và
Satir, M. Bowen, 1959) [15, tr.51].
Tóm lại, hoạt động tham vấn mang tính chuyên nghiệp trên thế giới đã
phát triển và đƣợc ứng dụng phổ biển nhằm đáp ứng nhu cầu về bảo vệ sức
khỏe tâm thần và nâng cao chất lƣợng cuộc sống của các cá nhân, gia đình và
cộng đồng xã hội.
Ở Việt Nam hiện nay, tham vấn tâm lý đang là một ngành khoa học
tƣơng đối mới và chƣa có nhiều nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao. Hoạt
động tham vấn tâm lý thƣờng đƣợc tích hợp vào trong các vai trò của các bác
sĩ, nhất là những bác sĩ tâm thần và bác sĩ nhi khoa. Nhìn từ lịch sử ngành
Công tác xã hội, trƣớc năm 1945 tại một số bệnh viện ở phía Bắc nhƣ Bệnh
viện Bạch Mai đã có mặt của một số cán sự xã hội và họ sử dụng kỹ năng
công tác xã hội trong đó có tham vấn vào quá trình trợ giúp bệnh nhân chữa
trị tại bệnh viện. Ở phía Nam, trƣớc những năm 1975, cùng với hoạt động
công tác xã hội theo hƣớng chuyên nghiệp thì hoạt động tham vấn cho cá
nhân, gia đình tại cộng đồng cũng đã đƣợc triển khai. Nội dung đào tạo tham
vấn cũng đƣợc đề cập tới trong chƣơng trình đào tạo cán sự xã hội phía Nam
vào thời gian này. Các hoạt động công tác xã hội theo hƣớng chuyên nghiệp
trong đó có tham vấn dƣờng nhƣ chững lại sau năm 1975. Đến cuối những

- “Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt
Nam”, (1996) do giáo sƣ Lê Thi làm chủ biên đề cập đến vai trò của gia đình
trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trong những năm cuối
thế kỷ XX đang đem đến những tiến bộ vƣợt bậc cho cuộc sống của cá nhân, gia
đình, xã hội cả về vật chất và tinh thần. Bên cạnh những tiến bộ vƣợt bậc do con
ngƣời tạo ra, thì hàng loạt những sai lầm, thiếu hụt, những hành động dã man,
điên cuồng, những tệ nạn xấu xa, nguy hiểm đang tồn tại trên khắp thế giới...
cũng lại do con ngƣời gây ra. Hậu quả đó đang làm cho hàng triệu gia đình tan
tác, chia ly, cùng khổ. Tác giả khẳng định, sự phát triển ổn định của xã hội
không thể tách rời sự phát triển của con ngƣời và vai trò của gia đình trong việc
bồi dƣỡng, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng nhân cách con ngƣời…
Tuy nhiên, hiện tại chƣa có nhiều nghiên cứu tập trung đi sâu vào phân
tích thực trạng, những khó khăn của cha mẹ việc giáo dục con tuổi 11 - 14 giai đoạn trẻ cần sự quan tâm và định hƣớng từ gia đình và cha mẹ cần đƣợc
cung cấp kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm trong quá trình giáo dục trẻ, để cha
mẹ có thể làm bạn, đồng hành cùng trẻ ở giai đoạn này nói chung và đối với
7


các gia đình ở miền núi nói riêng. Từ đó, việc nghiên cứu về vấn đề tham vấn
cho cha mẹ trong giáo dục con tại một huyện miền núi nhƣ Vị Xuyên (thuộc
tỉnh Hà Giang) là rất cần thiết và đóng vai trò quan trọng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng và hiệu quả các hoạt động có liên quan đến tham
vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi tại huyện Vị
Xuyên, tỉnh Hà Giang; Từ đó, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của tham
vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi tại huyện Vị
Xuyên, tỉnh Hà Giang.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề tham vấn cho cha mẹ

Phân tích, tổng hợp, hệ thống các tài liệu sẵn có từ nguồn tài liệu chính
thức, từ các công trình nghiên cứu của các tác giả trƣớc đây, từ báo cáo của
địa phƣơng, Hội phụ nữ…
Tham khảo, sử dụng số liệu từ báo cáo kết quả nghiên cứu đánh giá
nhận thức và thực trạng giáo dục gia đình của Ban Gia đình – Xã hội thuộc
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tháng 11 năm 2017.
5.2. Phương pháp điều tra bảng hỏi
Khảo sát 134 bảng hỏi với cha mẹ tại 2 xã Đạo Đức và thị trấn Vị
Xuyên, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Cuộc khảo sát này do ban Gia đình –
Xã hội thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiến hành tháng 11 năm 2017 tại
4 tỉnh Hà Giang, Quảng Bình, Đắc Lắc, Tiền Giang. Trong khuôn khổ luận
văn, tác giả chỉ sử dụng số liệu nghiên cứu tại Hà Giang. Tác giả luận văn là
một thành viên tham gia và đƣợc phép sử dụng số liệu thu đƣợc từ khảo sát để
phân tích. Những phân tích trong luận văn là kết quả riêng của tác giả luận
văn. Đặc điểm của mẫu khảo sát đƣợc trình bày ở chƣơng 2.
5.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
08 phỏng vấn sâu (04 cha và mẹ có con từ 11 tuổi đến 14 tuổi; 02 trẻ
em từ 11 tuổi đến 14 tuổi; 02 cán bộ địa phƣơng).

9


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Hệ thống lại một số nghiên cứu về tham vấn, tham vấn cho cha mẹ
trong giáo dục con tuổi vị thành niên, lý thuyết tiếp cận trong công tác xã hội
có liên quan đến tham vấn cha mẹ trong giáo dục trẻ từ 11 đến 14 tuổi.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài tập trung nghiên cứu làm rõ bản chất hoạt động tham vấn cho
cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi trên nền tảng của công tác

trên cơ sở các quan hệ hôn nhân (quan hệ tính giao và quan hệ tình cảm) và quan
hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha, mẹ, con cái, ông, bà, họ
hàng nội ngoại)”. Gia đình có thể hiểu nhƣ một đơn vị xã hội vi mô, nó chịu sự
chi phối của xã hội, song có tính ổn định, độc lập tƣơng đối. Nó có quy luật phát
triển riêng với tƣ cách một thiết chế xã hội đặc thù. Những thành viên gia đình
đƣợc gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi kinh tế, văn hóa, tình cảm
một cách hợp pháp, đƣợc Nhà nƣớc thừa nhận và bảo vệ.
Nhƣ vậy, khái niệm về gia đình đƣợc diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau.
Những khái niệm này đều chứa đựng những điểm tƣơng đồng về quan hệ hôn
nhân, huyết thống. Tuy nhiên, gia đình cần đƣợc hiểu mang tính bao quát không
chỉ ở quan hệ hôn nhân, huyết thống mà cả quan hệ nuôi dƣỡng.

11


1.1.2. Khái niệm Trẻ em; Phân chia giai đoạn phát triển của trẻ; Đặc
điểm tâm sinh lý của trẻ giai đoạn từ 11 đến 14 tuổi
1.1.2.1 Khái niệm Trẻ em
Công ƣớc Quốc tế về quyền Trẻ em xác định trẻ em có nghĩa là bất kỳ
ngƣời nào dƣới 18 tuổi, trừ trƣờng hợp pháp luật có thể đƣợc áp dụng với trẻ em
đó quy định tuổi thành niên sớm hơn.
Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam (2004): trẻ
em là công dân Việt Nam dƣới 16 tuổi; ngƣời chƣa thành niên là ngƣời dƣới 18
tuổi.
Theo Điều 1, Luật Trẻ em năm 2016 quy định: Trẻ em là ngƣời dƣới 16
tuổi. Khái niệm nêu trong Luật Trẻ em 2016 đƣợc áp dụng trong luận văn này.
1.1.2.2 Phân chia giai đoạn phát triển của trẻ
Erik Erikson – nhà tâm lý học phân tâm, đánh giá cao vai trò của tác nhân
xã hội với sự phát triển tâm lý của con ngƣời. Ông chia đời ngƣời thành 8 giai
đoạn. Trẻ em có 4 giai đoạn: Giai đoạn 1 (từ 0 – 1 tuổi), Giai đoạn 2 (từ hơn 1 – 3

của cơ thể. Tuyến nội tiết dƣới da hoạt động mạnh mẽ dẫn đến việc xuất hiện
mụn trứng cá trên mặt, tuyến mồ hôi cũng làm việc tích cực và tạo ra thứ mùi
đặc trƣng của cơ thể.
Về mặt tâm lý, tình cảm các em bắt đầu có tƣ duy trừu tƣợng, ý thức đƣợc
mình không còn là “trẻ con” nữa, muốn đƣợc ngƣời lớn tôn trọng và bắt đầu có
những hành động muốn thử sức mình để khám phá những điều mới lạ nhằm khẳng
định mình đã lớn. Các em thƣờng quan tâm đến những thay đổi của cơ thể khi so
sánh với các bạn cùng lứa (đặc biệt là các em gái), dễ băn khoăn, lo lắng, buồn rầu
về những nhƣợc điểm trên cơ thể mình. Ở lứa tuổi này, các em bắt đầu phát triển tƣ
duy trừu tƣợng một cách rõ rệt. Thích khám phá, tò mò, thử nghiệm những hành vi
liên quan đến tính dục (tính cách thể hiện sự khác biệt giữa nam và nữ).
Các em cũng bắt đầu quan tâm đến bè bạn, đặc biệt là bạn khác giới,
muốn tách khỏi sự bảo hộ của bố mẹ, gia đình. Trẻ cũng không còn tâm sự với
cha mẹ nhiều nhƣ khi còn nhỏ. Tuy nhiên, các em còn quá trẻ, vẫn phải phụ
thuộc vào ngƣời lớn.
Đôi lúc, trẻ thất vọng, ấm ức vì cha mẹ chƣa nhận thấy mình đã lớn. Điều
này khiến trẻ dễ bị những rối loạn liên quan đến cảm xúc và hành vi với những
biểu hiện thích chống đối nhƣ: không thích vâng lời cha mẹ, hay lý sự, làm theo
13


ý mình, trốn học, bỏ nhà, hung bạo, muốn khẳng định tính độc lập… Đây là thời
kỳ cha mẹ phải luôn quan tâm, gần gũi với con. Nếu cha mẹ ít gần gũi, thiếu
giáo dục với con trẻ thì ngay những trẻ rất ngoan cũng dễ trở nên hƣ hỏng hoặc
gặp bất trắc. Tuy nhiên, không phải lúc nào sự thay đổi này của trẻ cũng nhận
đƣợc sự thấu hiểu và nắm bắt kịp thời từ phía gia đình, cha mẹ và ngƣời lớn.
Điều này làm cho các bậc cha mẹ gặp không ít khó khăn trong việc tiếp cận để
tìm hiểu, giáo dục con trẻ.
Trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi là giai đoạn trẻ phát triển mạnh về cơ thể,
thay đổi tâm lý của bản thân nhƣ tâm lý thích phô trƣơng, muốn khẳng định bản

với nhà trƣờng, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con”.
Trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi là giai đoạn cơ thể trẻ có những thay đổi sâu
sắc, mạnh mẽ cả về thể chất và tâm lý. Những thay đổi về thể chất có ảnh hƣởng
nhiều đến thay đổi tâm lý và hành vi của trẻ. Vì vậy, giáo dục trẻ em từ 11 tuổi
đến 14 tuổi là trách nhiệm của cha mẹ và các thành viên trong gia đình. Cha mẹ
cần quan tâm, yêu thƣơng, đồng hành cùng con giúp con có những định hƣớng
trong học tập và nghề nghiệp tƣơng lai của trẻ.
1.1.4. Khái niệm Tham vấn và tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ
em từ 11 tuổi đến 14 tuổi
1.1.4.1 Tham vấn (trong tiếng Anh là Counseling) đƣợc định nghĩa ở
nhiều góc độ khác nhau.
Carl Rogers (1952) mô tả tham vấn nhƣ là quá trình nhà tham vấn hay trị
liệu sử dụng mối quan hệ tích cực để tạo nên môi trƣờng an toàn giúp đối tƣợng
chia sẻ, chấp nhận và hƣớng tới thay đổi. Hoạt động tham vấn không chỉ dừng
lại ở việc giúp đối tƣợng có lối thoát mà còn hƣớng tới mục tiêu nâng cao khả
năng tự nhận thức và tự giải quyết vấn đề [15, tr.5-6].
Tác giả Trần Thị Minh Đức nhấn mạnh vai trò của thái độ đạo đức nghề
nghiệp, của kỹ năng chia sẻ giúp thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế, tự tìm kiếm
tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của mình [15, tr.6].
Bản chất của tham vấn không phải là cho lời khuyên mà là hoạt động
nâng cao năng lực. Nó không chỉ giúp thân chủ có khả năng giải quyết đƣợc
vấn đề gặp phải trong cuộc sống mà còn giúp họ phát triển khả năng đó.
Một ý nghĩa khá quan trọng khác của hoạt động tham vấn, đó là tham
vấn không chỉ dừng lại ở mục đích giải quyết vấn đề mà còn hƣớng tới việc
15


giúp cá nhân tăng cƣờng kỹ năng sống, biết cách nhìn nhận vấn đề, tự tin vào
chính mình. Bằng những kỹ thuật chuyên môn, nhà tham vấn giúp thân chủ
khơi dậy tiềm năng và sức mạnh nội tại. Đây cũng là cơ sở để cá nhân, gia

dụng kiến thức công tác xã hội tƣơng tác với cha mẹ, kết nối họ với những
nguồn lực sẵn có tại địa phƣơng (nhƣ các hoạt động truyền thông nâng cao kiến
thức làm cha mẹ; các mô hình tổ/nhóm/câu lạc bộ xây dựng gia đình hạnh phúc,
các trung tâm tham vấn về hôn nhân và gia đình…). Qua đó, giúp cha mẹ tăng
cƣờng hiểu biết, kiến thức trong giáo dục con, đặc biệt giai đoạn 11 – 14 tuổi, tự
nhận thức đƣợc vấn đề của chính họ, từ đó cha mẹ có thể thay đổi cảm xúc, suy
16


nghĩ, điều chỉnh hành vi, cải thiện cách thức giao tiếp trong gia đình để giải
quyết những vấn đề khó khăn đang gặp phải trong quá trình giáo dục trẻ em từ
11 tuổi đến 14 tuổi.
Với vai trò kết nối, nhân viên xã hội tìm kiếm các nguồn lực hỗ trợ từ bên
ngoài, kết nối để gia đình tiếp cận với các nguồn lực giúp đỡ gia đình vƣợt qua
khó khăn. Các nguồn lực bên trong và bên ngoài gia đình có thể là nguồn lực vật
chất, cũng có thể là nguồn lực về kiến thức hay các nguồn lực về tinh thần.
Thực tế cho thấy một trong những khó khăn của các gia đình là liên quan
tới khả năng tiếp cận nguồn lực. Do vậy, nhân viên xã hội cần chuẩn bị kiến thức
về hệ thống nguồn lực từ bên ngoài để có thể cung cấp và kết nối gia đình tiếp
cận đƣợc với các dịch vụ phù hợp. Các nguồn lực bên ngoài gia đình có thể có ở
cộng đồng nhƣ từ các nhóm, tổ chức đoàn thể (hội phụ nữ); cũng có thể từ các
cơ quan xã hội hoặc từ xã hội nhƣ các chƣơng trình, chính sách của nhà nƣớc
hay tại địa phƣơng hiện có trong địa bàn nơi gia đình sinh sống.
Khi đề cập đến vai trò giáo dục, nhân viên xã hội thực hiện việc cung cấp
thông tin, kiến thức cho đối tƣợng nhằm tăng cƣờng năng lực, nâng cao trình độ
và thay đổi nhận thức của gia đình. Vai trò giáo dục có thể thực hiện với bất cứ
cá nhân nào trong gia đình khi nhận thấy việc cung cấp kiến thức là cần thiết với
họ. Có thể thực hiện hoạt động giáo dục này bằng tác động trực tiếp vào cá nhân,
cũng có thể thực hiện tập trung vào cả gia đình.
1.1.4.3 Nội dung tham vấn cho cha mẹ trong giáo dục trẻ em từ 11 tuổi

nghiệm, giá trị nghề nghiệp của nhân viên công tác xã hội. Đó là những hiểu biết
về: mục đích của tham vấn; hành vi con ngƣời trong môi trƣờng văn hóa, xã hội;
thái độ nghề nghiệp ra ngoài bằng hành vi và thái độ cụ thể trong quan hệ tƣơng
tác tích cực của nhân viên công tác xã hội nhằm khích lệ cha mẹ trong giáo dục
trẻ em từ 11 tuổi đến 14 tuổi tự nhận thức, tham gia tích cực vào quá trình tìm
hiểu, khám phá các giải pháp để tự quyết định, giải quyết vấn đề của bản thân.
Trong quá trình làm việc, trợ giúp cha mẹ, nhân viên công tác xã hội sử
dụng một số kỹ năng cơ bản trong tham vấn cho cha mẹ nhƣ:
- Kỹ năng lắng nghe và quan sát
- Kỹ năng hỏi
- Kỹ năng thấu hiểu
- Kỹ năng giúp thân chủ trực diện với vấn đề
18


- Kỹ năng cung cấp thông tin
- Kỹ năng giao nhiệm vụ
- Kỹ năng điều phối sự tham gia của cha mẹ trong buổi tham vấn
- Kỹ năng làm việc với những thành viên gia đình tỏ ra không hợp tác
1.2. Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc về công tác giáo dục gia đình
Nghị quyết của các kỳ Ðại hội Ðảng đều nhấn mạnh sự quan tâm đến gia
đình, từ Nghị quyết Ðại hội Ðảng lần thứ VII xác định gia đình với tƣ cách là "tế
bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dƣỡng cả đời ngƣời, là môi trƣờng quan
trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách", đến Ðại hội Ðảng lần thứ XII
nêu rõ: "Thực hiện chiến lƣợc phát triển gia đình Việt Nam... Phát huy giá trị
truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh",
"tập trung xây dựng con ngƣời về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng
lực làm việc". Nhƣ vậy, gia đình có một vai trò rất quan trọng đối với việc xây
dựng mỗi ngƣời Việt Nam cũng nhƣ nguồn nhân lực cho xã hội mới.
Thể chế hóa các chủ trƣơng, nghị quyết của Ðảng, nhiều bộ luật đề cập

vụ gia đình phù hợp với thực tế từng vùng, địa phƣơng và nhu cầu thực tế của
các nhóm đối tƣợng. Chú trọng xây dựng, nâng cao chất lƣợng các dịch vụ tạo
điều kiện, giúp cho các gia đình tiếp cận, tham gia vào các hoạt động lao động,
sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao chất lƣợng cuộc sống, thực hiện bình đẳng
giới trong gia đình, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, góp phần nâng cao hiệu
quả lao động, sản xuất, xây dựng gia đình ngày càng no ấm, tiến bộ, hạnh phúc.
Quyết định số 279/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ ngày 20/2/2014
phê duyệt Đề án phát huy giá trị tốt đẹp các mối quan hệ trong gia đình và hỗ trợ
xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững đến năm 2020 đề ra mục tiêu cụ thể về
mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái: “…phấn đấu có 95% hộ gia đình dành thời
gian chăm sóc, nuôi dạy trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em phát triển toàn diện về
thể chất, trí tuệ, đạo đức và tinh thần. Hằng năm, trung bình giảm từ 10 – 15%
hộ gia đình có bạo lực với trẻ em”. Chú trọng, quan tâm đến xây dựng Góc tƣ
vấn về giáo dục đời sống gia đình, giáo dục trƣớc hôn nhân, tƣ vấn tiền hôn nhân
nhằm cung cấp nội dung giáo dục đời sống gia đình, hôn nhân và gia đình; xây
dựng trang thông tin điện tử (website) về giáo dục đời sống gia đình, giáo dục
trƣớc hôn nhân, tƣ vấn tiền hôn nhân; triển khai thí điểm mô hình xây dựng gia
đình hạnh phúc và phát triển bền vững, đặc biệt chú trọng việc đƣa nội dung giáo
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status