Thực trạng bệnh tiêu chảy và kiến thức, thức hành của bà mẹ trong phòng chống bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện vị xuyên, tỉnh hà giang năm 2014 - Pdf 44

Bộ
ã GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y Dược THÁI BÌNH

Bộ Y TÉ

*******

CẤN THU HẠNH

THỰC TRẠNG BỆNH TIÊU CHẢY VÀ KIẾN THỨC,
THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ TRONG PHÒNG CHỐNG
BỆNH TIÊU CHẢY Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỒI
TẠI HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TÉ CÔNG CỘNG

THÁI BÌNH2014


Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Bộ YTÉ
TRƯỜNG ĐẬI HỌC Y Dược THÁI BÌNH
*******

CẤN THU HẠNH

THỰC TRẠNG BỆNH TIÊU CHẢY VÀ KIẾN THỨC,
THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ TRONG PHÒNG CHỐNG
BỆNH TIÊU CHẢY Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỒI
TẠI HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG NĂM 2014



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiêp
thực hiện, các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác.

nr r _

•2

Tác giả

Cấn Thu Hanh


AMP

DANH MỤC CÁC CHŨ VIÉT TẤT
Adenosin Monophosphate
(Chất tác động trung gian của hormon trong tế bào)

ARI

Acute Respiratory Infection
(Chương trình phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính)

ATP
CBVC
CDD

(Qũy nhi đồng liên hợp quốc)


Thức ăn

TC

Tiêu chảy

VS

Vệ sinh

VSPB

Vệ sinh phòng bệnh

WHO

World Health Orgnization (Tổ chức Y tế thế giới)



DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.22. Tỷ lệ bà mẹ chăm sóc trẻ tốt khi trẻ bị tiêu chảy


Bảng 3.23. Môi liên quan giữa hiêu biêt nguyên nhân và chăm sóc trẻ tôt .. 61


trẻ ăn chế độ dinh dưỡng đúng trong và sau điều trị bệnh tiêu chảy [3 j.
Nhiều trường hợp tử vong vì bệnh tiêu chảy do sự thiếu kiến thức của bà
mẹ trong việc phòng ngừa cũng như xứ lý bệnh. Việc phòng bệnh tiêu chảy


11
vẫn còn là vấn đề cần quan tâm cao vì bệnh có quá nhiều yếu tố nguy cơ trước
mắt và lâu dài nếu không kịp thời ngăn chặn.


12
Tại Hà Giang mặc dù chưa có nghiên cứu về tình hình mắc tiêu chảy ở trẻ
em dưới 5 tuổi song con số về tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi khá
cao 23,1%, tỷ lệ này cao hon so với tỷ lệ chung ở Việt Nam (11,7%) [33].
Chúng ta đều biết nguyên nhân chính gây tử vong khi trẻ bị tiêu chảy là mất
nước và điện giải, tiếp theo là suy dinh dưỡng. Suy dinh dưỡng và tiêu chảy
tạo thành một vòng xoắn bệnh lý: tiêu chảy dẫn đến suy dinh dưỡng và khi trẻ
bị suy dinh dưỡng lại có nguy cơ bị tiêu chảy cao.
Đứng trước thực tế đó, đế tìm hiểu tình hình mắc bệnh tiêu cháy và các
yếu tố liên quan, chúng tôi muốn thực hiện đề tài:
“Thực trạng bệnh tiêu chảy và kiến thức, thực hành của bà mẹ trong
phòng chống bệnh tiêu chảy ỏ’ trẻ em dưói 5 tuổi tại huyện Vị Xuyên, tỉnh
Hà Giang, năm 2014”
Mục tiêu nghiên cứu
1. Mô tả tình hình mắc và một sổ yếu tố ảnh hưởng đến bệnh tiêu chảv trẻ
em dưới 5 tuổi tại huyện Vị Xuyên, Hù Giang năm 2014.
Mô tả kiến thức và thực hành của bci mẹ trong phòng chổng bệnh tiêu
chảy trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Vị Xuyên, Hà Giang năm 2014.



1.1.2.3. Hội chứng lỵ: đây là tiêu chảy thấy có máu trong phân có thể
kèm chất nhày mũi, thường kèm triệu chứng sốt [66], Tốt nhất đưa đến cơ sở
y tế để tìm căn nguyên gây bệnh và cho phác đồ điều trị đặc hiệu.
ỉ. 1.2.4. Đợi tiêu chảy: là giai đoạn bắt đầu từ khi tiêu chảy trên 3 lần
trong 24 giờ, cho đến ngày cuối cùng trong đó còn tiêu chảy trên 3 lần, ngày
cuối cùng phải kế tiếp ít nhất là 2 ngày trẻ đi ngoài phân trở lại bình thường.
Ncu sau 2 ngày trẻ tiếp tục đi tiêu chảy lại trên 3 lần trong 24 giờ, thì phải
đánh giá lại đợt mất nước và ghi nhận là đọt tiêu chảy mới [3],[39].
1.1.3.

Dịch tễ học bệnh tiêu chảy

ỉ. 1.3.1. Sự lây truyền
Nhũng tác nhân gây tiêu chảy thường lây lan theo đường phân - miệng do
ăn uống phải thức ăn, nước uống bị nhiễm bẩn hoặc do tiếp xúc với nguồn
nước bị ô nhiễm và điều kiện vệ sinh môi trường kém. Nhưng ngày nay thực
phấm không đảm bảo an toàn vệ sinh được xác định là nguồn lây lan chủ yếu
[3],[38],[64],[66], Ở các nước công nghiệp phát triển, mặc dù đã có nền khoa
học kỹ thuật tiến bộ, nhung sổ người mắc bệnh tiêu chảy vẫn còn tăng ở tất cả
các bộ phận dân cư.
1.1.3.2.

Liên quan đến lứa tuổi

Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhất là ở trẻ em dưới
5 tuổi, đặc biệt là nhóm 6 tháng đến 24 tháng tuổi, đôi khi gặp ở trẻ nhỏ dưới
6 tháng, con của những bà mẹ thiếu sữa, trẻ ăn sữa bò, hoặc thức ăn thay thế
sữa mẹ sớm, không đúng cách hoặc thay sữa mẹ hoàn toàn.



khi vài năm mới xảy ra một lần. Ví dụ: đại dịch tả lần thứ 7 do vi khuấn ElTor
type sinh học Vibrio Cholerea 01 gây ra, đại dịch lan ra vòng quanh thế giới,
bắt đầu ở Indonesia vào 1961, sau đó lan sang các nuớc khác cùa Châu Á,
Trung đông, Châu Phi rồi đến châu Mỹ - La tinh vào 1991. Cho đến nay dịch
vẫn còn liên tiếp xảy ra ở nhiều nuớc trên thế giới. Cũng trong thời gian nàydịch lỵ
gây ra bới Shigella Dysenteria type 1 cũng lan rộng ở Trung Mỹ,
Trung Phi, Nam Á [38].
Dịch cũng có thể xảy ra khi có sự đột biến về vi trùng chống lại những
người không được miền dịch hoặc điều kiện sống thay đổi theo chiều hướng
có lợi cho việc lan truyền bệnh. Những đạt dịch này nguy hiểm xảy ra đột
ngột thường liên quan đến người lớn nhiều hơn liên quan đến trẻ em.
1.1.3.4.

Liên quan với điều kiện sống

Các yếu tố vệ sinh môi trường, phong tục tập quán lạc hậu, vệ sinh ăn
uống đóng vai trò quan trọng đổi với bệnh tiêu chảy. Bệnh tiêu chảy thường
xảy ra ở những vùng có điều kiện vệ sinh môi trường kém như: vùng kinh tế
khó khăn, vùng miền núi vùng đồng bào dân tộc ít người và những nơi nước
sạch không đủ để cung cấp cho người dân sử dụng. Bên cạnh đó còn tồn tại
nhiều phong tục, tập quán lạc hậu về vệ sinh ăn uống cũng có liên quan tạo
nên sự khác nhau về tỷ lệ tiêu chảy giữa các vùng kinh - dân tộc, đồng bằng miền núi, thành thị - nông thôn, cũng như eiữa các nước khác nhau [67],
1.1.3.5.

Một số yếu tố nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy

* Nguy cơ: là xác xuất xuất hiện một biến cố không có lợi đối với sức
khoé của cá nhân hoặc cộng đồng [32],



được bắt đầu 4-6 tháng tuổi, vi thời kỳ này nhu cầu dinh dưỡng của trẻ cao
hơn và sữa mẹ trong thời kỳ này dinh dưỡng không đủ đề đáp ứng nhu cầu
cho trẻ. Đây là giai đoạn khó khăn nhất của trẻ, nếu cho ăn sam không đúng,
sớm quá hay muộn quá đều không có lợi cho sức khoẻ của trẻ và dề dần đến
tiêu chảy, suy dinh dưỡng.


Việc ăn sam đúng phụ thuộc vào nhiều vấn đề: thời điếm cho ăn, loại
thức ăn, cách chế biến, bảo quản thức ăn.


+ Tập quán cho trẻ bú chai, không cho trẻ ăn ngay thức ăn sau khi chế
biến. Chai và bình sữa dề bị ô nhiễm bởi các vi khuẩn đường ruột, khó đánh
rửa, cho sữa vào bình không sạch sẽ bị ô nhiễm, nếu trẻ không ăn hết sữangay, vi
khuẩn phát triển gây bệnh tiêu chày. Cho trẻ ăn thức ăn đặc nấu chín
để lâu ở nhiệt độ phòng bị ô nhiễm hoặc vi khuấn phát triển nhanh hoặc lên
men [39].
+ Dùng nguồn nước không hợp vệ sinh để sử dụng trong ăn uống sinh
hoạt, không rửa tay trước khi chế biến thức ăn cho trẻ, trước khi cho trẻ ăn,
sau khi đi cầu, đi tiểu, đặc biệt là sau khi làm vệ sinh cho trẻ.
Đường lây truyền chú yếu trong các bệnh nhiễm trùng đường ruột là
đường phân - miệng được thực hiện qua nguồn thực phẩm, nước uống, ruồi,
bàn tay bấn. Việc cải thiện điều kiện sống là chiến lược cơ bản và lâu dài
nhằm cắt đứt các nguồn truyền bệnh nhiễm trùng đường ruột [67], Việt Nam
là nước đang phát triển nên có 2 vấn đề quan trọng: cung cấp nước sạch và
quán lý phân. Cung cấp, sử dụng nước sạch là không dùng các nguồn nước bề
mặt (sông, hồ, đầm, ao) để ăn uống và rửa sạch thực phẩm, đặc biệt là rau
sống và các loại hoa quả. Tại các vùng thành phố sử dụng nước máy cần cung
cấp đú nước sạch đã được xứ lí Clo. Tại vùng nông thôn sử dụng nguồn nước


* Virus
Rotavirus là tác nhân chính gây tiêu chảy cấp, đe dọa tính mạng trẻ em dưới

2 tuổi. Rotavirus có 4 type huyết thanh gây bệnh, khi bị nhiễm 1 type cơ thể chí
đáp ứng tiêu chảy vói type đó trẻ vẫn có thể mắc type khác. 1/3 sổ trẻ em dưới 2

tuổi ít nhất bị một đợt tiêu chảy do Rotavirus, tiêu chảy do Virus Rota chiếm
50% - 65% tiêu chảy cấp ở trẻ em trong bệnh viện.
Virus nhân lên trong liên bào ruột non, phá hủy cấu trúc liên bào làm cùn
nhung mao gây tồn thương men tiêu hóa đường đôi làm giảm hấp thụ đường đôi
(đường Lactose trong thức ăn). Khi liên bào và nhung mao ruột tái sinh, men
được phục hồi trờ lại.
Các Virus khác: Adeno Virus, Norwalk Virus cũng gây tiêu chảy.
* Vi khuẩn

a) Coli đưòng ruột Escherichia Coli (E.C) gây 25% TC cấp có 5 type gây
bệnh:
E. Coli sinh độc tố ruột (E.T.E.C: Entero Toxigenic Escherichia Coli)
E. Coli bám dính (E.A.E.C: Entero Adherent Escherichia Coli)


E. Coli gây bệnh (E.P.E.C: Entero Pathogenic Escherichia Coli)


E. Coli xâm nhập (E.l.E.C: Entero Invasive Escherichia Coli)

E. Coli gây chảy máu ruột (E.H.E.C: Entero Hemorhagia Escherichia Coli)
Trong 5 nhóm trên, E.coli sinh độc tố ruột (E.T.E.C) là tác nhân quan trọng gây
tiêu chảy cấp phân tóe nước ở người lớn và trẻ em ở các nước đang phát triển,
E.T.E.C không xâm nhập vào niêm mạc ruột mà gây tiêu chảy do các độc tố: độc

nặng trong vài giờ. Trong vùng lưu hành dịch người lớn đã có miễn dịch nên
dịch tả chủ yếu xảy ra ở trẻ em. Ớ những vùng không lưu hành dịch trẻ em cũng
bị dịch tả như người lớn. Kháng sinh có thổ làm rút ngắn thời gian kco dài của
bệnh. Thường dùng kháng sinh điều trị trong trường họp tả nặng như
Tetracyclin, Doxycycline hoặc Cotrimoxazol.
* Ký sinh vi khuẩn
a) Entamoeba Histolytica: gây bệnh qua xâm nhập vào liên bào đại tràng
hay hồi tràng gây các ổ áp xe nhò và loct (90% số người bị nhiễm các chứng
Amip không gây độc lực), trường họp này dù thấy kén Amip cũng không gây

bệnh và không có triệu chứng vì vậy chi điều trị khi tìm thấy Entamoeba
histolytica. Metronidazol có tác dụng tốt đối với Entamoeba Histolytica.
b) Giardia Lamblia: là một ký sinh trùng đơn bào bám dính lên liên bào
ruột non, làm teo các nhung mao ruột gây tiêu chảy, kém hấp thụ.
c) Cryptosporidium: là một ký sinh trùng thuộc họ Coccidian gây tiêu chảy
ớ trẻ nhỏ, ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch và ở nhiều loại gia súc. Tiêu chảy
thưòng nặng và kéo dài khi xảy ra ở tré suy dinh dưỡng và người mắc bệnh suy
giảm miễn dịch mắc phải. Cryptosporidium bám dính lên liên bào ruột gây teo
nhung mao một và tiêu cháy, hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.
> Cơ chế tiêu chảy: theo cơ chế bệnh sinh phân chia đại cương làm hai loại
a) Tiêu chảy xâm nhập (Invasive diarrhea)
Các yếu tố gây bệnh xâm nhập vào trong tế bào liên bào một non, một già
nhân lên trong đó và phá hủy tế bào, làm bong tế bào và gây phản ứng viêm.
Những sản phàm phá hũy tế bào, viêm bài tiết trong lòng một gây nên tiêu chảy.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status