Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV trong nhóm đối tượng tiếp cận phòng tư vấn sức khỏe cộng đồng miễn phí tại thành phố buôn ma thuột năm 2012 - Pdf 51

i

MỤC LỤC
TRANG
NỘI DUNG
DANH MỤC BẢNG BIỂU
iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
iv
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
v
Đặt vấn đề
1
Chương I. Tổng quan tài liệu
3
1.1 Khái niệm về HIV/AIDS
3
1.2 Sơ lược lịch sử bệnh
3
1.3 Dịch tễ học của HIV/AIDS
4
1.3.1 Tình hình nhiễm HIV trên thế giới và Việt Nam
4
1.3.1.1 Trên thế giới
4
1.3.1.2 Tại Việt Nam
5
1.3.2 Tại Đắk Lắk
6
1.4 Sự lan truyền HIV
9

2.5 Các biến số trong nghiên cứu
2.6 Xử lý số liệu
2.7 Đạo đức nghiên cứu
2.8 Các hạn chế của nghiên cứu và cách khắc phục
Chương III. Kết quả nghiên cứu
3.1 Tỷ lệ nhiễm HIV của đối tượng nghiên cứu
3.2 Các yếu tố liên quan đến đối tượng nghiên cứu
Chương IV. Bàn luận

21
21
21
21
21
25
26
26
27
28
28
28
37


ii

TRANG
NỘI DUNG
4.1 Bàn luận về tỷ lệ nhiễm HIV của đối tượng nghiên cứu
37

- Bảng 3.1 Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu........................27
- Bảng 3.2 Liên quan giữa nhóm giới và tỷ lệ nhiễm HIV.............................29
- Bảng 3.3 Liên quan giữa nhóm tuổi và tỷ lệ nhiễm HIV.............................30
- Bảng 3.4 Liên quan giữa nghề nghiệp và tỷ lệ nhiễm HIV .........................30
- Bảng 3.5 Liên quan giữa dân tộc và tỷ lệ nhiễm HIV .................................31
- Bảng 3.6 Liên quan giữa tình trạng hôn nhân và tỷ lệ nhiễm HIV..............31
- Bảng 3.7 Hành vi nguy cơ có khả năng lây nhiễm HIV của ĐTNC .................34
- Bảng 3.8 Liên quan giữa kiến thức về đường lây và tỷ lệ nhiễm HIV...........35
- Bảng 3.9 Liên quan giữa tình trạng sử dụng ma túy và tỷ lệ nhiễm HIV .........36
- Bảng 3.10 Liên quan giữa kiến thức hỗ trợ và tỷ lệ nhiễm HIV..................36


iv

DANH MỤC HÌNH
- Hình 3.1 Tỷ lệ nhiễm HIV của đối tượng nghiên cứu. ..............................24
- Hình 3.2 Hiểu biết về từng đường lây truyền và biết đầy đủ cả 3 đường ...32
- Hình 3.3 Hiểu biết về từng cặp đường lây truyền .......................................32
- Hình 3.4 Hiểu biết về cách phòng tránh theo từng đường lây truyền
và đúng đủ cả 3 đường .................................................................................33
- Hình 3.5 Hiểu biết về cách phòng tránh từng cặp đường lây truyền .....................33
- Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ người được hỗ trợ thông tin từ địa phương…..........35


v

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
HIV

Human Immunodeficiency Virus- Vi rút gây suy giảm miễn dịch


Quan hệ tình dục

HMTN

Hiến máu tình nguyện

KABP

Knowledge Attitude Believe Practice- Kiến thức Thái độ Lòng

ĐTNC

tin Thực hành
Đối tượng nghiên cứu

GMD

Gái mại dâm

TCMT

Tiêm chích ma túy

BKT

Bơm kim tiêm

MT


năm 2012” với các mục tiêu sau:


2

1. Xác định tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm đối tượng tiếp cận Phòng Tư vấn
sức khỏe cộng đồng miễn phí tại thành phố Buôn Ma Thuột.
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm HIV của nhóm đối
tượng trên.


3

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm về HIV/AIDS
HIV (Human Immunodeficiency Virus- Vi rút gây suy giảm miễn dịch) là
nguyên gây ra bệnh AIDS thuộc họ Retrovirus nhóm Lentivirus là virus gây suy
giảm miễn dịch ở người có giai đoạn tiềm tàng không triệu chứng kéo dài.
AIDS (Acquired Immune Deficiency Syndrome) là hội chứng suy giảm miễn
dịch mắc phải là biểu hiện nặng ở giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV [11].
1.2 Sơ lược lịch sử bệnh
Sự diễn biến HIV/AIDS trên thế giới có thể tóm tắt làm 3 giai đoạn [9]:
- Thời kỳ yên lặng : Những năm trước năm 1981.
Những trường hợp AIDS đầu tiên được mô tả vào năm 1981. Với thời kỳ ủ
bệnh trung bình từ 8-10 năm thì HIV đã xuất hiện và lan tràn “yên lặng”, có thể nói
HIV đã bắt đầu một cách lặng lẽ từ những năm 70 trước khi mà AIDS và HIV được
mô tả. Qua nghiên cứu các mẫu máu được bảo quản ở Zaire (1959) và ở Mỹ (1970)
đã tìm thấy có chứa kháng thể kháng HIV.
- Thời kỳ phát hiện virus: 1981-1985
+ Năm 1981 ở New York (Mỹ) báo cáo có nhiều trường hợp Sarcoma

tăng gần như gấp đôi (lên đến 87.000). Ở Đông Nam Á, số người sống với HIV
trong năm 2009 là 280.000 người [27].
Dịch HIV/AIDS ở Nam Á và Đông Nam Á xuất hiện khá muộn với ca
nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện ở Thái Lan vào năm 1985, tuy nhiên, khu vực
này nhanh chóng trở thành tâm điểm của dịch, sau Châu Phi-cận Sahara đến cuối
năm 2009 có 3,8 triệu người đang sống chung với HIV. Dịch tễ học lây nhiễm HIV
ở khu vực này có nhiều hình thái khác biệt, tại Thái lan và Campuchia hình thái lây
nhiễm HIV chủ yếu qua quan hệ tình dục khác giới, nhưng ở một số nước khác như
Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia hình thái lây nhiễm vẫn chủ yếu qua tiêm chích
ma tuý và tình trạng lây truyền qua quan hệ tình dục khác giới ngày càng tăng [25].


5

Số ca nhiễm mới và tử vong do AIDS đang giảm đi

Hình 1.1. Số người mới nhiễm HIV trên toàn cầu

Hình 1.2. Số ca tử vong do AIDS trên toàn cầu

1.3.1.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, dịch đã lan ra tất cả 63 tỉnh, thành trên cả nước. Số người sống
với HIV đã tăng lên gấp đôi kể từ năm 2000 và dịch ở Việt Nam hiện nay đang ở
trong giai đoạn mà bất cứ một sự chậm trễ nào cũng có thể làm mất đi hàng ngàn
sinh mạng.
Tính đến ngày 31/12/2011, cả nước có 197.335 người nhiễm HIV đang còn
sống được báo cáo, trong đó có 48.720 bệnh nhân AIDS và tổng số người chết do
AIDS đã được báo cáo là 52.325 người [1].
Cho đến nay, đã có trên 77% số xã, phường và gần 98% số quận/huyện trong
toàn quốc đã có báo cáo về người nhiễm HIV/AIDS. Thành phố Hồ Chí Minh vẫn

1.3.2 Tại Đắk Lắk
Tỉnh Đắk Lắk đã thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống AIDS từ tuyến tỉnh
đến tuyến xã, phường. Các họat động can thiệp được mở rộng như tăng cường công
tác truyền thông giáo dục sức khỏe, tổ chức các lớp huấn luyện về kỹ năng tư vấn,


7

quản lý, chăm sóc bệnh nhân, kỹ năng tuyên truyền cho các đối tượng. Ngành Y tế
thực hiện công tác an toàn truyền máu, an toàn trong các dịch vụ y tế, giám sát,
quản lý tư vấn, tổ chức điều trị người nhiễm HIV/AIDS, xây dựng mạng lưới giáo
dục đồng đẳng để làm giảm nguy cơ nhiễm HIV/AIDS trong các nhóm nguy cơ
cao. Họat động phòng chống AIDS đã có sự tham gia của các cơ quan, Ban ngành
đoàn thể của tỉnh.
Những trường hợp nhiễm HIV đầu tiên của tỉnh được Ủy ban quốc gia
phòng chống AIDS-Bộ Y tế thông báo vào tháng 4/1993. Đến ngày 30/9/2013, tỉnh
Đắk Lắk có 1.517 người nhiễm HIV còn sống được báo cáo, trong đó có 434 bệnh
nhân AIDS còn sống và đã có 396 người chết do AIDS [21].
Giám sát HIV/AIDS [21]
TT
1
2
3
4
5

ĐỐI TƯỢNG
Nghiện chích ma tuý
Gái mại dâm
STI

8.330

10

653

0

5

3

-

-

6

Bệnh nhân lao
Người cho máu

9.916

0

-

-

7

1
-

10

Đối tượng khác

16.338

111

-

-

TỔNG CỘNG

34.481

134

1.259

5

Phân tích số nhiễm HIV theo đối tượng [21]
TT
1
2
3

8
9
10
11
12
13

ĐỐI TƯỢNG
Người cho máu
Nghi ngờ AIDS
Tình dục khác giới
Phạm nhân
TNKTNVQS
Mẹ truyền cho con
Đối tượng khác
Không rõ
TỔNG CỘNG

9th/2013

16
2
3
41
1
88

Tích lũy
22
99



9

Bệnh nhân AIDS và người nhiễm HIV là nguồn truyền nhiễm duy nhất của
HIV. Không có ổ chứa nhiễm trùng tự nhiên ở động vật. Tất cả mọi người đều có
khả năng cảm nhiễm HIV. Có 3 phương thức lây truyền được xác định là đường
tình dục, đường máu và mẹ truyền cho con [9]:
- Lây nhiễm do quan hệ tình dục: đây là phương thức lây quan trọng và phổ
biến nhất trên thế giới, lây nhiễm HIV có thể xảy ra khi quan hệ tình dục với người
nhiễm HIV qua đường âm đạo, qua miệng, qua hậu môn. Nguy cơ lây nhiễm HIV
qua một lần giao hợp với một người nhiễm HIV là từ 0,1% đến 1%. Nhiễm HIV có
mối quan hệ chặt chẽ với bệnh LTQĐTD, bệnh LTQĐTD làm tăng cảm nhiễm và
tăng nguy cơ lây nhiễm HIV hơn 20 lần và làm tăng tiến triển của nhiễm HIV thành
AIDS. Nhìn chung nam truyền HIV cho nữ nhiều hơn gấp 2 lần trong quan hệ tình
dục .
- Lây nhiễm qua đường máu: nguy cơ lây truyền HIV qua đường truyền máu
rất cao trên 90%. Con người có thể bị nhiễm HIV do nhận máu hoặc các sản phẩm
của máu, cấy ghép tổ chức, cơ quan bị nhiễm HIV. HIV cũng có thể được truyền
qua việc dùng chung bơm kim tiêm, vật sắc nhọn đâm qua da, qua các dịch vụ thẩm
mỹ (xăm, trổ...) mà không được tiệt trùng đúng cách, phổ biến nhất là chích ma tuý.
HIV còn có thể bị lây nhiễm do dính máu và dịch tiết của người nhiễm HIV qua vết
thương hở, niêm mạc, trong đó có tai nạn nghề nghiệp.
- Lây truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ mang thai: người mẹ bị nhiễm
HIV có thể truyền bệnh cho con trong thời kỳ mang thai (qua bánh rau), khi đẻ (do
trẻ tiếp xúc với dịch âm đạo mẹ, máu mẹ vào tuần hoàn thai) và khi cho con bú. Tỷ
lệ lây truyền từ mẹ sang con khác nhau tuỳ từng nước, từ 13-32% ở các nước công
nghiệp phát triển, 25-48% ở các nước đang phát triển.
1.5 Các giai đoạn của quá trình nhiễm HIV
Nhiễm HIV gây suy giảm miễn dịch tiến triển. Thời gian từ khi nhiễm HIV

- Lao phổi.
- Nhiễm trùng nặng do vi khuẩn (viêm phổi, viêm mủ màng phổi, viêm đa
cơ mủ, nhiễm trùng xương khớp, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết).
- Viêm loét miệng hoại tử cấp, viêm lợi hoặc viêm quanh răng.
- Thiếu máu (Hb 10% trọng lượng cơ thể, kèm theo
sốt kéo dài trên 1 tháng hoặc tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng không rõ nguyên nhân).
- Viêm phổi do Pneumocystis jiroveci (PCP).
- Nhiễm Herpes simplex mạn tính (ở môi miệng, cơ quan sinh dục, quanh
hậu môn, kéo dài hơn 1 tháng, hoặc bất cứ đâu trong nội tạng).
- Nhiễm Candida thực quản (hoặc ở khí quản, phế quản hoặc phổi).
- Lao ngoài phổi.
- Sarcoma Kaposi.
- Bệnh do Cytomegalovirus (CMV) ở võng mạc hoặc ở các cơ quan khác.
- Bệnh do Toxoplasma ở hệ thần kinh trung ương.
- Bệnh lý não do HIV.
- Bệnh do Cryptococcus ngoài phổi bao gồm viêm màng não.
- Bệnh do Mycobacteria avium complex (MAC) lan toả.
- Bệnh lý não chất trắng đa ổ tiến triển (Progessive multifocal leukoencephalopathy- PML).
- Tiêu chảy mạn tính do Cryptosporidia.
- Tiêu chảy mạn tính do Isospora.
- Bệnh do nấm lan toả (bệnh nấm Penicillium, bệnh nấm Histoplasma ngoài
phổi).
- Nhiễm trùng huyết tái diễn (bao gồm nhiễm Salmonella không phải thương

nhu cầu tiếp cận.
Hoạt động của phòng TVXNTN đã thu hút đông đảo nhiều ngườ trong xã
hội có nhu cầu tìm hiểu về HIV/AIDS cũng như muốn giải đáp và tư vấn kịp thời
về các hoàn cảnh bản thân cũng như người thân bị phơi nhiễm HIV/AIDS.
Theo số liệu tổng hợp của Cục Phòng, chống HIV/AIDS đến tháng 3/2007
có 219 phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện đang hoạt động ở các tỉnh, thành phố
trong cả nước, [5], [4].
Vai trò và lợi ích của TVXNTN bao gồm:
- Là tâm điểm của dự phòng và chăm sóc.
- TVXNTN đóng vai trò quan trọng trong dự phòng và chăm sóc HIV/AIDS.
Những người có kết quả xét nghiệm dương tính có thể sớm được tiếp cận với các
dịch vụ chăm sóc y tế, các hỗ trợ tinh thần và xã hội. Những người có kết quả âm
tính có thể được tư vấn để duy trì kết quả.


13

- TVXNTN có liên quan đến chăm sóc y tế.
Có thể giới thiệu các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là cho những
người có biểu hiện bệnh lý để quản lý. Hệ thống chuyển tuyến có thể đảm bảo cho
những người nhiễm HIV nhận được các chăm sóc y tế thích hợp. Những người
tham gia TVXNTN có thể được sàng lọc và điều trị bệnh lao hoặc điều trị dự phòng
lao nếu đã bị nhiễm HIV. Điều này đặc biệt quan trọng với những nước mà 70%
bệnh nhân lao có nhiễm HIV và lao là nguyên nhân gây tử vong chủ yếu cho người
nhiễm HIV nhằm: tham gia vào quá trình chăm sóc về mặt tình cảm và tinh thần và
tham gia vào các hỗ trợ xã hội.
Một trong những lợi ích của TVXNTN là giúp người nhiễm HIV xây dựng
kế hoạch cho tương lai của họ và tương lai của những người phụ thuộc họ. Tư vấn
viên được trang bị kiến thức về các dịch vụ luật pháp, xã hội sẵn có để giúp mọi
người có những quyết định cho mình.

+ Nhiễm HIV "giai đoạn cửa sổ "
+ Trường hợp các xét nghiệm tìm kháng thể HIV bằng kỹ thuật ELISA
dương tính mà kỹ thuật Western Blot không xác định được.
- Các kỹ thuật xét nghiệm kháng nguyên đang được sử dụng tại Việt Nam
để:
+ Phân lập virus.
+ Phản ứng khuyếch đại chuỗi (Polychain Reaction-PCR).
+Phát hiện kháng nguyên p24: Xét nghiệm này có thể chẩn đoán sớm
nhiễm HIV ở trẻ sơ sinh nhưng độ nhậy và độ đặc hiệu thấp.
1.9.2 Xét nghiệm phát hiện kháng thể HIV
Các xét nghiệm phát hiện kháng thể kháng HIV được sử dụng là:
1.9.2.1 Thử nghiệm ELISA ( phản ứng miễn dịch gắn men) [4]
Được dùng để chẩn đoán xác định HIV bao gồm:
- Kỹ thuật ELISA (Enzyme-Linked Immuno Sorbent Assay), phát hiện kháng
thể IgG - HIV, dễ thực hiện, đặc hiệu cao, được sử dụng thường qui.
- Kỹ thuật ELISA phát hiện kháng thể IgA-HIV, tính đặc hiệu cao, nhưng độ
nhậy hạn chế có giá trị chẩn đoán HIV ở trẻ dưới 1 tuổi.
- Xét nghiệm kháng thể IgM - HIV độ nhậy thấp nên ít dùng.

- Các kháng thể trong huyết thanh bệnh nhân phản ứng với kháng nguyên HIV
trong ống nghiệm. Nếu các kháng thể kháng HIV tồn tại, phản ứng dẫn tới thay đổi


15

màu sắc, khi đó kết quả dương tính. Độ nhậy và độ đặc hiệu đối với các phản ứng
miễn dịch gắn men là trên 99%.
- Các âm tính giả xuất hiện khi xét nghiệm được làm trong vài tuần đầu vì
kháng thể chưa thực sự hình thành ở giai đoạn này của bệnh.
- Các kết quả dương tính giả thường phối hợp với các bệnh tự miễn, bệnh

47% hiểu biết về các biện pháp phòng chống nhiễm HIV/AIDS [26].
Ở Kampala - Uganda, tháng 4/2003 điều tra 1.491 đối tượng cho kết quả:
99,8% đã được nghe nói về HIV/AIDS, hiểu về các đường lây truyền HIV: 97%
cho rằng qua quan hệ tình dục, 77% qua dụng cụ không khử trùng, 42% do truyền
máu, 16% do mẹ truyền cho con. Về cách phòng chống: 59% cho rằng phải chung
thủy một bạn tình, 79% dùng bao cao su khi quan hệ tình dục. Phòng chống nhiễm
từ mẹ sang con: 62% không nuôi con bằng sữa mẹ, 27% nên mổ lấy thai. Về quan
hệ tình dục: 92% có tuổi quan hệ tình dục trung bình là 17,2, 13% có quan hệ tình
dục với bạn tình không thường xuyên và 2% có quan hệ tình dục với gái mại dâm
trong 12 tháng qua, 68% dùng bao cao su với bạn tình bất chợt và 45% dùng bao
cao su với gái mại dâm trong 3 tháng qua [25].
1.10.2 Nghiên cứu trong nước
Đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi thực hành của nam ngư dân đánh bắt cá
xa bờ về phòng, chống HIV/AIDS tại Bình Định năm 2006 cho thấy: có 393
(98,2%) người đã từng nghe nói về HIV/AIDS chứng tỏ công tác tuyên truyền theo
bề rộng đã đến hầu hết đối tượng; Có 80 người (20%) cho rằng HIV và AIDS
không giống nhau cho thấy tỷ lệ rất thấp phân biệt đúng HIV và AIDS; Có 311
(77,6%) cho rằng một người trông khỏe mạnh có thể bị nhiễm HIV. Như vậy còn tỷ
lệ khá đông (22,4%) người chưa hiểu rằng bất cứ ai đều có thể bị nhiễm HIV. Đây
là điều dễ dẫn đến suy nghĩ sai lầm khi cho rằng người khỏe mạnh là không bị
nhiễm HIV và chủ quan trong dự phòng [20].

Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Trần Hiển, Trần Việt Anh, Kiến thức, Hành vi
lây nhiễm HIV của nam thanh niên 15-24 tuổi tại một số phường của tỉnh Quảng
Ninh, năm 2008, kết quả cho thấy: 39,7% nam thanh niên 15-24 tuổi có kiến
thức đầy đủ và toàn diện về HIV/AIDS, vẫn còn 19,6% cho rằng muỗi đốt,
17,8% cho rằng ăn chung với người nhiễm HIV có thể làm lây truyền HIV. Tỷ lệ
đã từng sử dụng ma tuý cao (10,5%), nhưng tỷ lệ đã từng TCMT thấp chỉ là



Điều tra mô tả cắt ngang ở 839 người hiến máu tình nguyện tại Viện Huyết
học – Truyền máu Trung ương về nhận thức, thái độ và thực hành phòng chống lây


18

nhiễm HIV/AIDS qua đường truyền máu năm 2008, cho thấy: 59% người hiến máu
(HM) có nhận thức đầy đủ về HIV/AIDS, 83,7% người HM biết HIV có thể lây qua
đường truyền máu; trong đó, 72,4% biết rằng do HIV có “giai đoạn cửa sổ”. Có
17,3% người HM chưa lập gia đình đã từng QHTD; chỉ có 28% QHTD ngoài hôn
nhân thường xuyên sử dụng BCS. 17% số người HM đã từng nghi ngờ mình nhiễm
HIV; 21,1% ĐTNC đã từng làm xét nghiệm HIV. Không có sự khác biệt mức độ
nhận thức về HIV/AIDS giữa người HM lần đầu và HM nhắc lại; việc HM nhắc lại
nhiều lần chưa làm tăng lên nhận thức của người HM về hiến máu tình nguyện.
Điều này bước đầu cho thấy vai trò của nhân viên y tế trong việc tư vấn, giáo dục
cho người HM về HIV/AIDS còn khá hạn chế [18].
Năm 2009 Đoàn Chí Hiền và CS. Nghiên cứu kiến thức và một số yếu tố nguy
cơ lây nhiễm HIV ở khách hàng đến tại phòng tư vấn, xét nghiệm HIV tự nguyện
Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Thừa Thiên – Huế cho kết quả: tỷ lệ khách
hàng xét nghiệm HIV có kết quả dương tính là 4,68% [10].
Năm 2009 Lục Duy Lạc và CS. Đánh giá tỷ lệ nhiễm HIV ở khách hàng đến
xét nghiệm tự nguyện tại phòng tư vấn sức khỏe cộng đồng thị xã Thủ Dầu Một
tỉnh Bình Dương, cho kết quả: tỷ lệ khách hàng xét nghiệm HIV có kết quả dương
tính là 10,50% [14].
1.10.3 Kết quả khảo sát về KABP ở Tây Nguyên
Năm 1998: điều tra 840 người ở nhóm tuổi (15-49) tại thành phố Pleiku- tỉnh
Gia Lai cho thấy: hiểu biết đúng hoàn toàn về đường lây nhiễm HIV/AIDS(74,9%),
(76,1-83,6%) hiểu biết và có lòng tin đúng đắn vào các biện pháp phòng tránh lây
nhiễm HIV, (84,8%) cho rằng người nhiễm HIV không nên lập gia đình, (92,5%)
phụ nữ không nên mang thai khi bị nhiễm HIV, (82,2%) cần gần gũi, động viên,

có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân và 6,0% có quan hệ tình dục trước hôn nhân,
chỉ có 50% là thường xuyên dùng bao cao su trong quan hệ tình dục ngoài hôn
nhân và trước hôn nhân và 34,9% có quan hệ tình dục với gái mại dâm. Yếu tố liên
quan đến kiến thức và thực hành phòng chống HIV/AIDS tại cộng đồng có sự khác
nhau về trình độ học vấn, nghề nghiệp, mức sống gia đình dẫn đến sự khác biệt ít
nhiều về kiến thức và thực hành đúng trong phòng chống nhiễm HIV/AIDS.
- Nhóm có học vấn từ trung học cơ sở trở nên có kiến thức đúng (82,6 –
86,6%) cao hơn nhóm tiểu học và mù chữ có kiến thức đúng 71,4% và thực hành
đúng (95,3 – 96,2%) cao hơn nhóm tiểu học và mù chữ là 78,6%.


20

- Cán bộ công nhân viên, học sinh, sinh viên có kiến thức đúng (85,7 –
87,2%) cao hơn nhóm nghề làm nông và buôn bán có kiến thức đúng (78 – 78,8%).
- Nữ giới có thực hành đúng 98,7% cao hơn nam giới là 89,7% và nhóm tuổi
15 đến 29 có thực hành đúng 95,8% cao hơn nhóm tuổi 30 đến 49 là 92,5%.
- Học sinh, sinh viên có thực hành đúng 97,8% cao hơn những người làm
nghề nông, nghề buôn bán và nghề tự do, thợ thủ công, lao động giản đơn (92,3 –
93,3%).
- Nhóm có mức sống gia đình tạm đủ có thực hành đúng 94,8% cao hơn
nhóm có mức sống thiếu thốn là 85,9% [24].
Năm 2006 Phạm Thọ Dược và Cs, Điều tra kiến thức, thái độ và hành vi về
HIV/AIDS của cộng đồng dân cư ở Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk cho kết quả sau:
- Hiểu biết đúng 3 đường lây: dân bình thường 74,5%, nguy cơ cao: 82,7%;
- Cách phòng lây HIV đúng: dân bình thường: 76,3%, nguy cơ cao : 84,5%;
thái độ chấp nhận người nhiễm: dân cư bình thường 31,3%, nguy cơ cao 80,9%; có
phân biệt đối xử đối với người làm chủ lao động: dân cư bình thường: 69,2%, nguy
cơ cao: 81,8%; dùng chung bơm kim tiêm có lây nhiễm: dân cư bình thường:
72,5%, nguy cơ cao : 95,5%; quan hệ tình dục không an toàn: dân cư bình thường:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status