Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang
Khoa Nông học
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Những kết quả
và số liệu trong khóa luận này chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức
nào.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về lời cam đoan
này.
Bắc Giang, ngày tháng
năm 2018
Tác giả
Cung Quang Huy
Khóa luận tốt nghiệp
Cung Quang Huy CNSH-4A
Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang
Khoa Nông học
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu tôi đã nhận được
sự quan tâm giúp đỡ tận tình của nhà trường, thầy cô, bạn bè và gia đình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến: Th.s Nguyễn
1. Tính cấp thiết của đề tài............................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu..................................................................................2
3. Nội dung nghiên cứu.................................................................................2
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn...................................................................2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU....................................................3
1.1. Thực trạng sử dụng rơm rạ và phát sinh chất thải rắn nông nghiệp tại
Việt Nam.......................................................................................................3
1.2. Các nhóm vi sinh vật phân giải cellulose...............................................4
1.2.1. Các loài vi khuẩn.................................................................................5
1.2.2. Hệ vi sinh vật dạ cỏ bò........................................................................8
1.2.3. Hệ vi sinh vật trong cơ thể sùng đất..................................................10
1.3. Cellulose và Enzyme cellulase............................................................10
1.3.1. Cellulose............................................................................................10
1.3.2. Enzyme cellulase...............................................................................11
1.4. Ứng dụng của cellulase........................................................................12
1.4.1 . Ứng dụng enzyme cellulase trong công nghiệp...............................12
1.4.2. Trong công nghệ xử lý rác thải và sản xuất phân bón vi sinh...........14
1.5. Một số kết quả nghiên cứu về enzyme cellulase..................................14
1.5.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới....................................................14
1.5.2. Tình hình nghiên cứu trong nước......................................................16
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN.............20
2.1. Nguyên liệu và vật liệu.........................................................................20
2.1.1. Nguồn mẫu........................................................................................20
2.1.2. Môi trường sử dụng nghiên cứu........................................................21
2.2. Phương pháp nghiên cứu......................................................................22
2.2.1. Pha chế hóa chất, chuẩn bị nguyên liệu tạo môi trường nuôi cấy.....22
Khóa luận tốt nghiệp
Cung Quang Huy CNSH-4A
Cung Quang Huy CNSH-4A
Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang
Khoa Nông học
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1. Tổng hợp lượng chất thải rắn nông nghiệp phát sinh...................4
năm 2008 - 2010............................................................................................4
Bảng 1.2. Một số chủng vi sinh vật phân giải cellulase................................7
Bảng 3.1. Kết quả tuyển chọn sơ bộ và ký hiệu các dòng vi khuẩn có trong
dạ cỏ bò và dịch ruột sùng đất.....................................................................30
Bảng 3.2: Mô tả hình dạng khuẩn lạc tiềm năng.........................................32
Bảng 3.3. Đường kính trung bình vòng halo của các dòngvi khuẩn nghiên
cứu (đơn vị: cm)..........................................................................................37
Bảng 3.4. Mô tả khuẩn lạc của 3 dòng vi khuẩn B7, B8 và S3...................39
Bảng 3.5. So sánh sơ bộ hình thái khuẩn lạc và kết quả nhuộm tế bào của
các dòng vi khuẩn phân lập với các kết quả đã công bố.............................40
Bảng 3.6. Khả năng phân giải giấy photocopy và rơm rạ bởi 3 dòng vi
khuẩn phân lập được...................................................................................44
Biểu đồ 3.1 : Đường kính trung bình vòng halo của các dòngvi khuẩn
nghiên cứu...................................................................................................38
Khóa luận tốt nghiệp
Cung Quang Huy CNSH-4A
Khoa Nông học
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, có rất nhiều những nghiên cứu về việc sử dụng cellulase do
các chủng vi sinh vật tiết ra nhằm thủy phân cellulose trong rác thải, trong
đó ngành nông nghiệp quan tâm đến chất thải nông nghiệp (rơm rạ, tàn dư
thực vật), nước thải do các nhà máy giấy thải ra (nguyên liệu làm giấy là
gỗ)... Các phế phụ phẩm nông nghiệp là nguồn chính gây ô nhiễm môi
trường nông nghiệp dẫn tới mất cân bằng sinh thái và phá hủy môi trường
sống, đe dọa tới sức khỏe và cuộc sống con người.
Enzyme cellulase đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phân hủy
cellulose có trong các phế phụ phẩm nông nghiệp, nguồn nước thải của các nhà
máy giấy, các cơ sở chế biến gỗ, các xưởng mộc thải ra. Phức hệ cellulase chứa
rất nhiều loại polysaccharide quan trọng quyết định tới chất lượng, số lượng giấy
là cellulose được sử dụng để xử lý nguồn nước thải do các nhà máy giấy thải ra.
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy nhiều loài nấm, vi khuẩn, xạ khuẩn
được tìm thấy nhiều trong đất, nước, hệ tiêu hóa một số động vật, … Đặc biệt,
một số côn trùng ăn thực vật có hệ vi khuẩn đường ruột như Bacillus,
Paenibacillus, … có khả năng phân hủy cellulose rơm rạ rất tốt, rút ngắn thời
gian phân hủy rơm rạ, cải thiện độ phì nhiêu của đất và bảo vệ môi trường
trong canh tác nông nghiệp theo hướng bền vững (Schwarz, W.H. 2001).
Theo Võ Văn Phước Quệ và Cao Ngọc Điệp năm 2011: Hệ vi sinh vật
trong dạ cỏ bò với khoảng thời gian ngắn (48 giờ) có thể phân giải 60 –
65% cellulose. Hơn thế nữa, nhờ hệ thống vi sinh vật trong đường ruột mà
loài mối có thể tiêu hóa đến 90% cellulose của gỗ.
Vì vậy, đề tài “Phân lập và tuyển chọn một số chủng vi khuẩn có khả
năng phân giải cellulose từ sùng đất và dạ cỏ bò”, nhằm phân lập tuyển chọn
Khóa luận tốt nghiệp
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Phân lập vi khuẩn phân giải cellulose trong dạ cỏ bò, sùng đất, nhằm sử
dụng các dòng vi khuẩn đã phân lập được để ứng dụng phân giải rơm rạ và rác
hữu cơ thành phân hữu cơ vi sinh và bón trở lại cho đồng ruộng, góp phần nâng
cao độ phì đất, giảm thiểu lượng rác thải đồng ruộng và ô nhiễm môi trường.
Khóa luận tốt nghiệp
Cung Quang Huy CNSH-4A
Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Nông học
Cung Quang Huy CNSH-4A
Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang
Khoa Nông học
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Thực trạng sử dụng rơm rạ và phát sinh chất thải rắn nông nghiệp
tại Việt Nam
Ở nước ta sản xuất lúa hàng năm đã tạo ra hàng chục triệu tấn rơm
rạ. Riêng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long mỗi năm cũng có tới 15
triệu tấn rơm. Tuy nhiên, loại phế thải nông nghiệp này thường được nông
dân đốt gây lãng phí và làm ô nhiễm môi trường.
sinh phân hủy rơm rạ để làm phân bón. Chẳng hạn, tại tỉnh Quảng Nam,
người dân đã ứng dụng công nghệ vi sinh phân hủy rơm rạ để làm phân bón ở
Hội An. Kết quả sử dụng phân hữu cơ vi sinh từ phế phẩm nông nghiệp đã
cho thấy cây phát triến tốt hơn so với mẫu đối chứng về mật độ gieo trồng, bộ
lá xanh, mượt, cây cao, chắc khoẻ và đặc biệt là đã hạn chế được nấm bệnh
cho cây trồng. Hàng năm, nông dân đổ xuống đồng mộng lượng lớn phân hoá
học, thuốc bảo vệ thực vật làm cho cấu trúc đất bị thay đổi. Do vậy, việc sử
dụng rơm, rạ làm phân bón hữu cơ có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế, xã hội.
Chất thải rắn nông nghiệp thông thường là chất thải rắn phát sinh từ các
hoạt động sản xuất nông nghiệp như: trồng trọt (thực vật chết, tỉa cành, làm
cỏ,...), thu hoạch nông sản (rơm, rạ, trấu, cám, lõi ngô, thân ngô), bao bì
đựng phân bón, thuốc BVTV, các chất thải ra từ chăn nuôi, giết mổ động
vật, chế biến sữa, chế biến thuỷ sản,...
Bảng 1.1. Tổng hợp lượng chất thải rắn nông nghiệp phát sinh
năm 2008 - 2010
Chất thải
Đơn vị
Khối lượng
Năm
Bao bì thuốc bảo vệ thực vật
Tấn/năm
11.000
2008
Bao bì phân bón Tấn/năm
Tấn/năm
240.000
2008
Rơm rạ
Tấn/năm
76.000.000
hơn so với nấm nên có tiềm năng lớn để được dùng trong việc sản xuất
cellulose. Đặc điểm phân giải cellulose của vài giống vi khuẩn như
Cellulomonas, Cellovibrio, Pseudomonas, Sporosphytophagaspp. (Nakamura
và Kappmura, 1982); Bacillus và Micrococcus (Immanuel et al., 2006)
Nhiều loài vi khuẩn cũng có khả năng phân huỷ cenlulose gồm các
loài vi khuẩn hiếu khí và kị khí như:
- Bacillussubtilis.
- B. pumilis (Gordon et al.,l973);
- Acidothermuscellulobuticus (Bergquist et al., 1999,).
Vi khuẩn Bacillus subtilis thuộc nhóm vi sinh vật hiếu khí hay kỵ
khí. Chúng phân bố hầu hết trong môi trường tự nhiên, phần lớn cư trú
trong đất và rơm rạ, cỏ khô nên được gọi là “trực khuẩn cỏ khô”, thông
thường đất trồng trọt có khoảng 106 – 107 triệu CFU/g.
Bacillus subtilis là trực khuẩn nhỏ, hai đầu tròn, bắt màu tím Gram (+),
kích thước 0,5 – 0,8µm x 1,5 – 3µm, đơn lẻ hoặc thành chuỗi ngắn. Vi khuẩn
có khả năng di động, có 8 – 12 lông, sinh bào tử hình bầu dục nhỏ hơn nằm
giữa hoặc lệch tâm tế bào, kích thước từ 0,8 – 1,8µm. Bào tử phát triển bằng
cách nảy mầm do sự nứt của bào tử, không kháng axit, có khả năng chịu nhiệt
(ở 1000C trong 180 phút), chịu ẩm, tia tử ngoại, tia phóng xạ, áp suất, chất sát
Khóa luận tốt nghiệp
Cung Quang Huy CNSH-4A
Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang
Khoa Nông học
trùng. Bào tử có thể sống vài năm đến vài chục năm. Đã có những chứng cứ
về việc duy trì sức sống của bào tử Bacillus subtilis trong 200 – 300 năm.
Bảng 1.2. Một số chủng vi sinh vật phân giải cellulase
Nấm mùn mềm
Nấm mùn nâu
Aspergillus niger
Coniophora puteana
Chaetomium cellulolyticum
Lanzites trabeum
Fusarium oxysporum
Poria placenta
Neurospora crassa
Tyromyces palustris
Penicillium pinophilum
Trichoderma reesei
Vi khuẩn hảo khí
Vi khuẩn kỵ khí
Bacillus circulans
Acetovibrio cellulolyticus
Streptomyces lividans
Caecomyces communis
Thermoactinomyces curvata
Neocallimastix patriciarum
Thermomonospora fusca
Neocallimastix fontalis
Piromyces communis
(Nguồn :Cơ sở hóa học gỗ và celluloza tập 2, Trường ĐH Bách Khoa
Hà Nội, NXB Khoa học và Kỹ thuật)
Khóa luận tốt nghiệp
Cung Quang Huy CNSH-4A
Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang
Khoa Nông học
1.2.2. Hệ vi sinh vật dạ cỏ bò
Dạ cỏ bò là phần túi lớn nhất của dạ dày bò, chiếm 85 - 90% dung
tích dạ dày, 75% dung tích đường tiêu hóa, có tác dụng tích trữ, nhào trộn
và lên men phân giải thức ăn. PH và nhiệt độ trong dạ cỏ tương ứng khoảng
6,5 và 38 - 420C .
cenlulose. Những loài vi khuẩn phân giải tinh bột quan trọng là
Bacteroides
amylophilus,
Succinimonas
amylolytica,
Butyrivibrio
fibrisolbvens, Bacteroides ruminantium, Selenomonas ruminantium và
Steptococcus bovis.
- Vi khuẩn phân giải đường: Hầu hết các vi khuẩn sử dụng đường
disaccharid và monosaccharid. Các vi khuẩn thuộc loài Lachnospira
multiparus, Selenomonas ruminantium... đều có khă năng sử dụng tốt
hydratcacbon hoà tan.
- Vi khuẩn sử dụng các axit hữu cơ. Hầu hết các vi khuẩn đều có khả
năng sử dụng axit lactic mặc dù lượng axit này trong dạ cỏ thường không
đáng kể trừ trong những trường hợp đặc biệt. Một số có thể sử dụng axit
succinic, malic, fumaric, formic hay acetic.Những loài sử dụng lactic là
Veillonella
gazogenes,
Veillonella
alacalescens,
nhiên, enzyme ngoại bào phân giải xơ hòa tan
Quá trình phân giải xơ gồm 3 giai đoạn chính:
Cellulose => cellobiose
Cellobiose => glucose
Glucose => axit béo bay hơi (axit axetic, propionic, butyric và valeric)
Tỉ lệ tiêu hóa xơ trong dạ cỏ từ 30 ÷ 80%.Tùy thuộc vào mức độ
lignin hóa của thức ăn. Cỏ non có tỉ lệ tiêu hóa cao, rơm rạ, cỏ già hàm
lượng lignin cao thì tỉ lệ tiêu hóa thấp hơn.
1.2.3. Hệ vi sinh vật trong cơ thể sùng đất
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy một số côn trùng ăn thực vật
trong hệ tiêu hóa chứa vi khuẩn đường ruột như Bacillus, Paenibacillus,…
có khả năng phân hủy cellulose rất tốt (Schwarz, W.H .2001)
1.3. Cellulose và Enzyme cellulase
1.3.1. Cellulose
Cellulose là polysaccarit chủ yếu của thành tế bào thực vật. Trong bông
chiếm trên 90%, còn trong gỗ hơn 50%. Ngoài ra, người ta còn thấy chúng
có nhiều sinh vật, chúng tồn tại ở dạng sợi. Khi đun sôi với axít sulfuric
đặc, cellulose sẽ chuyển thành glucose còn khi thủy phân trong điều kiện
nhẹ nhàng sẽ tạo thành disacarit cellobiose.
Cellulose không có trong tế bào động vật. Chúng là một homopolimer mạch
thẳng, được cấu tạo bởi các B-D-glucose-pyranose. Các thành phần này liên kết
với nhau bởi liên kết β-1,4 glucoside. Tinh bột cũng được cấu tạo bởi các
glucose này và bằng liên kết β-l,4 glucoside. Điểm khác biệt là tinh bột chứa các
gốc glucose phân nhánh còn cellulose chứa các glucose không phân nhánh. Các
Khóa luận tốt nghiệp
Cung Quang Huy CNSH-4A
Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang
Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang
Khoa Nông học
Enzyme cellulase đã được nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới.Đây
là enzyme được ứng dụng rất rộng rãi, chỉ đứng sau protease và
amylase. (Li X. H et al .2009)
1.3.2.2.Nguồn gốc của enzyme cellulase
- Động vật: dịch tiết dạ dày bò, các nhóm thân mềm…
- Thực vật: trong hạt ngũ cốc nảy mầm như đại mạch, yến mạch, lúa
mì, mạch đen…
- Vi sinh vật: các loại xạ khuẩn, vi khuẩn, nấm sợi, nấm men…
Trong thực tế người ta thường thu nhận enzyme cellulase từ vi sinh vật.
Các chủng vi sinh vật thường sử dụng:
- Nấm mốc: Aspergillus niger, Aspergillus oryzae…
- Xạ khuẩn: Actinomyces griseus, Streptomyces reticul…
- Vi khuẩn: Acetobacter xylinum, Bacillus subtilis, Bacillus pumilis…
Cellulase thủy phân cellulose (liên kết 1,4 - β-D-glucoside) tạo ra sản
phẩm chính là glucose, cellobiose và cello-oligosaccharides. (King K. W .1969)
1.4. Ứng dụng của cellulase
1.4.1 . Ứng dụng enzyme cellulase trong công nghiệp
Hiện nay, enzyme cellulase được ứng dụng mạnh mẽ trong các ngành
công nghiệp khác nhau như: công nghiệp thực phẩm, công nghiệp sản xuất
bia rượu, công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, công nghiệp dệt, sản xuất
bột giặt, sản xuất giấy, trong nông nghiệp ...
Ứng dụng trước tiên của cellulase đối với chế biến thực phẩm là tăng độ
hấp thu, nâng cao phẩm chất về vị và làm mềm nhiều loại thực phẩm thực vật,
đặc biệt là đối với thức ăn cho trẻ em. Một số nước đã dùng cellulase để xử lý
các loại rau quả như bắp cải, hành, cà rốt, khoai tây, táo và lương thực như gạo,
enzyme cellulase. Khi đó ta sẽ thu được tế bào trần của thực vật (protoplast)
và tế bào trần nấm men (spheroplast).
Chế phẩm cellulase tinh khiết được ứng dụng trong kỹ thuật di
truyền. Trong kỹ thuật tạo tế bào trần (protoplas), người ta thường dùng chế
phẩm cellulase tinh khiết để phá vỡ thành tế bào thực vật. Ứng dụng
cellulase phá vỡ thành tế bào thực vật không làm tổn thương các cơ quan
bên trong tế bào, đảm bảo sự nguyên vẹn các nhân tố di truyền.
Khóa luận tốt nghiệp
Cung Quang Huy CNSH-4A
Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang
Khoa Nông học
Ngoài ra, việc sản xuất enzyme cellulase có hoạt độ cao để phân hủy
cellulose thành các nguồn nhiên liệu sinh học đang được quan tâm đặc biệt
trong ngành công nghiệp năng lượng sạch của toàn thế giới.
1.4.2. Trong công nghệ xử lý rác thải và sản xuất phân bón vi sinh
Rác thải là nguồn chính gây nên ô nhiễm môi trường dẫn tới mất cân
bằng sinh thái và phá hủy môi trường sống, đe dọa tới sức khỏe và cuộc sống
con người. Thành phần hữu cơ chính trong rác thải là cellulose, nên việc sử
dụng công nghệ vi sinh trong xử lý rác thải cải thiện môi trường rất có hiệu
quả. Hiện nay, có rất nhiều những nghiên cứu về việc sử dụng cellulase do các
chủng vi sinh vật tiết ra nhằm thủy phân cellulose trong rác thải. Phức hệ
cellulase được sử dụng để xử lý nguồn nước thải do các nhà máy giấy thải ra.
Nguyên liệu làm giấy là gỗ (sinh khối của thực vật bậc cao). Sinh khối này
chứa rất nhiều loại polysaccharide, trong đó các polysaccharide quan trọng
hoàn chỉnh để có thể phân hủy các dẫn xuất của cellulose hay cellulose tinh thể
đến sản phẩm cuối cùng. Những vi khuẩn như vậy được gọi là vi khuẩn
“cellulolytic true”. Còn vi khuẩn mà chỉ có khả năng sản xuất endoglucanase
và β – glucosidase, nhưng không phải là hệ thống hoàn chỉnh thì được gọi là
“pseudocellulolytic” (wood, 1988). Tuy nhiên, việc nghiên cứu khả năng sinh
enzyme cellulase của các dòng vi khuẩn nhìn chung vẫn còn khiêm tốn so với
nghiên cứu trên nấm (crawford, 1986; li and gao, 1996, ekperigin, 2006). Dù
vậy, đặc điểm phân giải cellulose của vài nhóm vi khuẩn như cellulomonas,
cellovibrio, pseudomonas, sporosphytophaga spp. (nakamura và kappmura,
1982); bacillus và micrococcus (immanuel, 2006) đã được báo cáo.
Các nhà nghiên cứu đã tập trung vào 4 cấu trúc được cho là quan trọng
trong việc bám dính cụ thể vào cellulose của enzyme. Bao gồm : 1) phức hợp
đa thành phần hay còn gọi là cellulosomes, 2) fimbriae hay pili dính, 3)
Carbohydrate của vi khuẩn lớp glycocalyx, 4) miền gắn enzyme (Wood, 1988).
1.5.1.2. Khả năng tổng hợp cellulase từ các loại vi sinh vật
Nghiên cứu và ứng dụng của cellulase bắt đầu từ những năm 1950.
Cuối thế kỷ XIX đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về khả năng tổng hợp
cellulase từ các loại vi sinh vật. Một số nghiên cứu về cellulase từ nấm của
một sồ tác giả như :
Khả năng sinh enzym cellulase chủ yếu được tổng hợp từ nấm sợi
Trichoderma và Aspergillus. Ở Mỹ, năm 1983 PTN của Quân đội Mỹ ở Natik
Khóa luận tốt nghiệp
Cung Quang Huy CNSH-4A
Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang
Khoa Nông học
Cung Quang Huy CNSH-4A
Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang
Khoa Nông học
một số nơi có khả năng phân giải cellulose mạnh. Trong số 195 chủng xạ
khuẩn nghiên cứu thì các chủng xạ khuẩn phân lập được từ các mẫu rơm mục
và đất chân đống rơm có khả năng phân giải cellulose và CMC mạnh nhất.
Năm 1999, Nguyễn Lan Hương và cs đã phân lập và tuyển chọn được
một số chủng vi khuẩn và xạ khuẩn có hoạt tính cellulase, sau đó bổ sung vào
bể ủ rác thải đã rút ngắn được chu kỳ xử lý rác thải sinh hoạt từ 5 -7 ngày.
Nhiều chủng vi khuẩn, xạ khuẩn và nấm đã được nghiên cứu và ứng dụng có
hiệu quả trong quá trình xử lý rác thải ở Việt Nam.
Theo Hà Thanh Toàn và cs năm 2010. Nghiệm thức C2 (chủng vi khuẩn
bình nhiệt C1b) và C4 (chủng vi khuẩn ái nhiệt 3a2) có hiệu quả phân hủy rác
tốt nhất. Quá trình phân hủy cellulose của vi khuẩn phân hủy cellulose diễn ra
mạnh từ 16-18 ngày đầu, những ngày sau quá trình phân hủy ổn định, đến ngày
22 sẽ kết thúc quá trình phân hủy ái nhiệt trong quá trình ủ.
“Theo kết quả nghiên cứu của Đinh Hồng Duyên và cộng sự
năm 2017. Đã phân lập được 98 chủng vi khuẩn phân giải cellulose từ 300
mẫu phụ phẩm sau thu hoạch quả vải hoai mục tự nhiên, mẫu đất trồng và mẫu
mùn đất. Trong đó, xác định được hai chủng vi khuẩn V19 và V98 có hoạt tính
cellulase, amylase, protease cao; có khả năng sinh trưởng và thể hiện các hoạt
tính enzyme ngoại bào tốt trên môi trường nuôi cấy, ở các điều kiện pH, nhiệt độ
khác nhau. Kết quả định tên V19 thuộc loài Bacillus cereus là nhóm an toàn
bậc 2; V98 thuộc loài Bacillus toyonensis, là nhóm an toàn bậc 1
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thủy và cộng sự năm 2017.
Đã phân lập dược 62 chủng nấm mốc, 88 chủng xạ khuẩn và 69 chủng vi
tối ưu ở 58oC, pH ban đầu là 6,7, độ ẩm ban đầu là 55% với thời gian nuôi cấy
là 72h. Nguồn lignocellulose thích hợp là bã mía hoặc mùn cưa.
Trong số các loài vi sinh vật, nấm sợi là một trong những đối tượng có
khả năng sinh tổng hợp cellulase cao. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả
năng sinh tổng hợp cellulase của một số chủng vi sinh vật để xử lý rác đã tìm ra
các chủng nấm sợi có khả năng phân hủy cellulose cao và tối ưu điều kiện sinh
tổng hợp cellulase của chúng (Đinh Hồng Duyên, và cộng sự. 2017).
Hoàng Quốc Khánh và cộng sự năm 2003 đã nghiên cứu khả năng
sinh tổng hợp và đặc điểm của cellulase từ chủng A. niger NRRL-363. Qua
nghiên cứu, tác giả đã tìm ra được một số thông tin và điều kiện cơ bản
cho sự tổng hợp cellulase của chủng này trên môi trường trấu xay và
một số chất thải công nghiệp như mật rỉ đường.
Khóa luận tốt nghiệp
Cung Quang Huy CNSH-4A