Tiểu luận thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh - Pdf 51


2

KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
------ oOo ------

BÀI TIỂU LUẬN
MÔN LUẬT CẠNH TRANH
ĐỀ TÀI THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ HÀNH VI
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: NGUYỄN THỊ HỒNG PHƯỚC
NHÓM THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: NHÓM 6

Bình Dương, năm 2018


3

DANH SÁCH NHÓM
Họ Và Tên
1
2
3
4
5
6

Hoàng Duy
Trần Duy Khá
Nguyễn Mạnh Tuấn
Nguyễn Khương Duy

bình đẳng, góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế cho doanh
nghiệp, đồng thời, xử phạt nghiêm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Vậy
hiện nay, pháp luật Cạnh tranh quy định về hành vi cạnh trạnh không lành mạnh
như thế nào? Sự thay đổi của Luật Cạnh tranh 2018 so với Luật Cạnh trạnh 2004 đã
đủ để hoàn thiện các quy định còn thiếu sót hay chưa? Bài tiểu luận sau đây sẽ đi
tìm câu trả lời cho các câu hỏi trên nhằm làm rõ “Thực tiễn áp dụng quy định của
pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh”. Qua đó đưa ra một số kiến
nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Cạnh tranh cũng như giảm thiểu các hành
vi vi phạm pháp luật cạnh tranh trong nhóm hành vi “Cạnh tranh không lành
mạnh”.
CHƯƠNG I . Khái quát về Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh
I.1.

Cạnh Tranh Và Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh

I.1.1. Khái niệm Cạnh Tranh, Cạnh Tranh không lành mạnh
 Cạnh tranh

Theo từ điển tiếng Việt, “Cạnh tranh là sự cố gắng giành phần hơn, phần thắng về
mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm lợi ích như nhau” 1. Đây là khái
niệm chung cho “Cạnh tranh” trong nhiều mặt của đời sống xã hội. Cạnh tranh là một
hoạt động thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Theo đó có thể hiểu Cạnh tranh kinh
tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế
tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh
tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Về bản chất cạnh tranh kinh
1 Hoàng Phê (1998), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển tiếng Việt, Hà Nội.


6


Những đối tượng còn lại như các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức của người tiêu
dùng, các đơn vị truyền thông, các tổ chức phi kinh tế… không là đối tượng áp
dụng các quy định của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh. Nhưng trên
thực tế vẫn có những trường hợp một số tổ chức phi kinh tế, các đơn vị truyền
thông, … thực hiện những hành vi xâm phạm đến quyền cạnh tranh lành mạnh
của doanh nghiệp, Ví dụ: việc đưa tin sai sự thật về doanh nghiệp, về hàng hóa,
dịch vụ…. của các đơn vị truyền thông. Với quy định trên, chủ thể thực hiện hành vi
bị hạn chế nên pháp luật cạnh tranh không áp dụng để xử lý những tình huống


7

trên. Mặt khác, đặc điểm này cũng khẳng định hành vi cạnh tranh không lành
mạnh xảy ra trong kinh doanh ở mọi ngành, mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế,
mọi công đoạn của quá trình kinh doanh. Pháp luật về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh được áp dụng cho mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực kinh tế. Nói
cách khác, pháp luật không giới hạn áp dụng cho bất kỳ ngành nghề, lĩnh vực
hoặc hoạt động kinh doanh nào của kinh tế quốc dân.
Thứ hai, hành vi cạnh tranh trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán
thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh.
Đây là căn cứ để xác định tính không lành mạnh của hành vi cạnh tranh, phân biệt
giữa cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Khi một hành vi cạnh
tranh đi ngược với nguyên tắc thiện chí, trung thực hay tập quán tương mại hay các
chuẩn mực khác trong kinh doanh thì đó được xem là một hành vi cạnh tranh không
lành mạnh. Theo sự phát triển của nên kinh tế thị trường thì các nguyên tắc cũng như
chuẩn mực này sẽ thay đổi phụ thuộc theo sự phát triển đó. Do đó, dựa trên căn cứ này
thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ biến đổi cũng như thay đổi không ngừng
trên thực tế mà khó có thể định hình rõ ràng và đầy đủ về những hành vi nào là hành vi
cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ ba, hành vi gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp

chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp hoặc là hành
vi huỷ hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác hoặc là hành vi tạo ra ưu thế cạnh
tranh giả tạo.3 Dựa trên bản chất đó có thể phân nhóm cho các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh thành ba nhóm:
 Nhóm 1: Nhóm các hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệo khác

Nhóm này được coi là nhóm các hành vi cạnh tranh điển hình nhất. Nó được
thể hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau như gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng
hóa, dịch vụ, lợi dụng thành quả đầu tư của người khác, xâm phạm bí mật kinh
doanh… Bản chất của hành vi này là việc chiếm đoạt sử ưu thế cạnh tranh của
doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp. Dạng hành vi này được coi là phổ biến,
điển hình của cạnh tranh không lành mạnh. Theo quy định hiện hành của pháp luật
Việt Nam ghi nhận nhóm này có thể bao gồm hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn hay
hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh. “Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn” thường
xâm phạm đến tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao
bì, chỉ dẫn địa lý... được in trên sản phẩm hàng hóa, hay dịch vụ của đối thủ cạnh
tranh. Mục đích của hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn là tạo nên sự nhầm lẫn của
khách hàng về hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh với hàng
hóa, dịch vụ của chính doanh nghiệp mình. “Hành vi xâm phạm bí mật kinh
doanh” là tiếp nhận, thu thập, sử dụng, tiết lộ hoặc vi phạm hợp đồng bảo mật, có
hành vi lừa gạt hay lợi dụng người có nghĩa vụ bảo mật để có được thông tin thuộc
bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác khi chưa có sự đồng ý của chủ sở hữu.
Hành vi này nhằm chiếm đoạt, sử dụng ưu thế cạnh tranh của các doanh nghiệp
khác.
 Nhóm 2: Nhóm các hành vi hủy hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác
Nhóm hành vi này có chung bản chất là công kích vào các đối thủ cạnh tranh.
Có thể là hành vi để triệt tiêu, hành vi làm suy giảm các lợi thế cạnh tranh của các
đối thủ cạnh tranh. Hành vi nhóm này thường được thực hiện dưới các hình thức
rất đa dạng, nó phụ thuộc vào mục đích công kích. Hành vi này có thể là đưa thông
tin sai sự thật nhằm là giảm uy tín của đối thủ cạnh tranh hay lôi kéo, ép buộc khác

khác hàng. Khác hàng là đối tượng bị tác động trực tiếp trong nhóm hành vi này,
về phía các doanh nghiệp khác chịu tác động trực tiếp hoặc tác động gián tiếp khi
bị mất đi nguồn khách hàng. Pháp luật hiện hành của Việt Nam ghi nhận các hành
vi thuộc nhóm này là hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh,
khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh và bán hàng đa cấp bất chính.
“Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh” có thể hiểu hành vi
quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là hành vi quảng cáo trái pháp luật,
trái với hiện thực, thực chất của hàng hóa, dịch vụ được thực hiện bằng cách quảng
cáo theo kiểu so sánh hàng hóa, dịch vụ, bắt chước sản phẩm quảng cáo khác, đưa
thông tin gian dối cho khách hàng... Đây là hành vi cạnh tranh xâm hại trực tiếp
đến đối thủ cạnh tranh, quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng. “Hành vi
khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh” có thể thấy biểu hiện của hành
vi này là các hoạt động khuyến mại bất chính, không trung thực nhằm lừa dối để
thu hút khác hàng về phía mình. Cụ thể như hành vi tổ chức khuyến mại gian dối
về giả thưởng, khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch
vụ, … Các hành vi này có thể do doanh nghiệp trực tiếp thực hiện hoặc được tiến
hành thông qua thương nhân kinh doanh thực hiện dịch vụ khuyến mại của mình.
“Hành vi bán hàng đa cấp bất chính” những quy định của pháp luật về hành vi
này mục đích là nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của những người tham gia mạng
lưới bán hàng đa cấp, cũng như hạn chế việc tổn hại về kinh tế cho những người
tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp bất chính.


10

CHƯƠNG II . Thực tiễn áp dụng quy định về Hành vi Cạnh Tranh không lành
mạnh và Kiện nghị hoàn thiện
II.1.

Thực trạng Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh tại Việt Nam

11

Các loại hành vi
cạnh tranh không

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015

5

20

33

37

2

6


1
1

3

1

4

Gây rối hoạt động
kinh doanh của doanh

1

nghiệp khác
Tổng số

14

28

36

41

3

7


II.2.1.

Quy định của pháp luật về xử lí hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Quy định về việc xử lí hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định theo Luật
cạnh tranh 2004. Ngoài ra còn được quy định tại Luật sở hữu trí tuệ 2005. Hành vi cạnh
tranh không lành mạnh là hành vi gây nguy hại cho xã hội, ảnh hưởng đến các đối thủ
cạnh tranh nói riêng cũng như đến môi trường cạnh tranh nói chung. Pháp luật quy định
các biện pháp chế tài phù hợp để áp dụng đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
nhằm đảm bảo tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng.
 Đối tượng áp dụng các hình thức xử lí

Đối tượng bị áp dụng chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các chủ
thể thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Cạnh tranh thực hiện hành vi cạnh tranh không
lành mạnh bị cấm. Vậy nên đối tượng có thể bị áp dụng chế tài có thể là tổ chức, cá nhân
kinh doanh như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh
nghiệp tư nhân; Hợp tác xã; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Doanh nghiệp của
các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; hộ kinh doanh; cá nhân không có đăng ký
kinh doanh như người bán hàng rong, làm dịch vụ có thu nhập thấp và Hiệp hội ngành
nghề (Khoản 2 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004) thực hiện hành vi cạnh tranh không lành
mạnh bị cấm.
 Thẩm quyền xử lí

Căn cứ vào Điểm d Khoản 2 Điều 49 Luật Cạnh tranh và Điều 40 Nghị định số
71/2014/NĐ-CP, thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh thuộc về cơ quan
Quản lý cạnh tranh, hiện này là Cục quản lý cạnh tranh trực thuộc Bộ công thương. Cơ
quan này có chức năng chính là là giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện quản lý nhà
nước về cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chống bán phá giá, chống trợ cấp
và tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam được quy định trong Nghị

người có hành vi vi phạm, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả
của hành vi mà họ thực hiện. Hành vi cạnh tranh bị coi là có lỗi và không lành mạnh là
hành vi vi phạm các tập quán nghề nghiệp, phá vỡ quan hệ bình đẳng, công bằng trong
quan hệ cạnh tranh trên thị trường.
II.2.3.

Chế tài đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Theo quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam, các hình thức chế tài xử lý vi phạm về
cạnh tranh không lành mạnh chủ yếu là các chế tài hành chính. Ngoài ra còn có chế tài về
hình sự cũng như dân sự trong một số trường hợp.
 Chế tài hành chính

Căn cứ theo Khoản 1 của Điều 117 Luật Cạnh tranh 2004 có quy định, tổ chức, cá
nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải chịu một trong các hình thức
xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Cụ thể hình thức phạt tiền và mức phạt tiền


14

tối đa là 100.000.000 đồng đối với cá nhân và 200.000.000 đồng đối với tổ chức theo
Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP. Ngoài bị phạt tiền, các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung theo quy định
tại Nghị định số 71/2014/NĐ-CP. Các hành phạt bổ sung bao gồm: Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm, thu hồi Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh. Hơn thế nữa, Pháp luật cạnh tranh chỉ quy định biện pháp khắc phục
hậu quả duy nhất là buộc cải chính công khai đối với các chủ thể thực hiện từng hành
vi cạnh tranh không lành mạnh nhất định.
 Chế tài hình sự
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh

15

dụng đồng thời với các chế tài khác.
II.3.
Sự thay đổi về quy định Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
Luật Cạnh tranh 2018
Luật Cạnh Tranh 2018 đã thay đổi một số quy định về cạnh tranh không lành mạnh
so với Luật Cạnh Tranh 2004. Luật Cạnh tranh 2018, các hành vi như "quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh”, "Phân biệt đối xử của Hiệp hội”, "Bán hàng đa cấp bất
chính” không còn được quy định là hành vi cạnh tranh không lành mạnh chịu sự điều
chỉnh bởi pháp luật cạnh tranh nữa. Bởi các hành vi này đã được điều chỉnh bởi các văn
bản pháp luật mang tính chất chuyên ngành khác như Luật Quảng cáo, Nghị định
42/2014/NĐ-CP về Quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, ... Việc quy định như vậy sẽ tránh
được sự mâu thuẫn và chồng chéo về thẩm quyền cũng như hình thức xử lý, đảm bảo
nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật. Và việc bãi bỏ quy định về hành vi “bán hàng đa
cấp bất chính” và “phân biệt đối xử của hiệp hội”, do các hành vi này không phản ánh
đúng bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Các hành vi Ép buộc trong kinh
doanh, Gièm pha doanh nghiệp khác, Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
khác nhìn chung không sự thay đổi về bản chất cũng như hành vi so với luật canh 2018.
Tại Luật cạnh tranh 2018, đã có sự thay đổi một số quy định về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh, cụ thể là:
Chỉ dẫn gây nhầm lẫn, Nếu doanh nhân doanh nghiệp nào mà thiết kế logo, sử
dụng mẫu mã bao bì đóng gói, đặt tên gọi hàng hóa của mình tương tự tên gọi hàng
hóa của đối thủ cạnh tranh dẫn đến nhầm lẫn cho người tiêu dùng thì đây là hành vi
cạnh tranh không lành mạnh đòi hỏi các cơ quan hành chính phải xủ lý ngay từ khi
đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký bản quyền kiểu dáng mẫu mã, logo, slogan
cũng như tên gọi cho hàng hóa...(Điều 40, Luật cạnh tranh 2004). Theo Luật cạnh
tranh 2018 thì thay đổi bằng hành vi lôi kéo khách hàng bất chính và cụ thể hóa tại
điểm a, khoản 5, Luật canh tranh 2018: Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn
cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc hàng hóa, dịch vụ.

b) Bổ sung một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh mới vào luật cạnh tranh Việt
Nam
Các quy định về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghệ
trong luật cạnh tranh 2018 chỉ mang tính liệt kê song vẫn chưa bao quát hết được
các trường hợp trong thực tế. Điển hình hành vi chiếm đoạt tên miền trên internet
cần được bổ sung vào hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Ngoài ra các hành vi
như “ chấm dứt đột ngột quan hệ kinh doanh với các đối tác” mà không thông báo
trước một thời gian hợp lý hay hành vi “từ chối kinh doanh không có lý do chính
đáng” hoặc “phân biệt về giá” những hành vì này xảy ra khá phổ biến trong thực tế
kinh doanh và gây hậu quả tương đối nghiêm trọng vì vậy nên bổ sung 3 hành vi
này vào hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
c) Đề xuất về địa chỉ áp dụng của luật cạnh tranh năm 2018
Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh của hầu hết các nước đều quy định
tất cả các chủ thể tham gia thị trường nhằm mục đích cạnh tranh đều là địa chỉ áp
dụng của luật chứ không chỉ bó hẹp là doanh nghiệp như luật cạnh tranh của Việt
Nam. Do vậy, để đảm bảo tính hiệu quả và tác động đến tất cả các đối tượng tham
gia trên thị trường thì luật cạnh tranh 2018 cần được áp dụng cho tất cả các chủ thể
tham gia trên thị trường với mục đíc cạnh tranh.
2. Về thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Về năng lực và thẩm quyền của các cơ quan giải quyết tranh chấp cũng như những
quy định của Luật Cạnh Tranh còn nhiều hạn chế. Vì vậy mặc dù số lượng hành vi
cạnh tranh không lành mạnh ngày càng gia tăng với tính chất ngày càng phức tạp
song số vụ được các cơ quan đứng ra giải quyết tranh chấp còn hạn chế, chưa
tương xứng nhu cầu. Do có sự chồng chéo về thẩm quyền trong việc xử lý hành vi
cạnh tranh không lành mạnh nên doanh nghiệp không biết tố cáo ở đây, tố cáo như


17

thế nào. Đây cũng là nguyên nhân khiến doanh nghiệp ngại tố cáo các hành vi vi

bảo vệ mình trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của đối thủ cạnh
tranh.
b) Khả năng tự bảo vệ của người tiêu dùng

Thực tế hiện nay những hành vi cạnh tranh không lành mạnh còn làm xâm hại
đến quyền lợi của người tiêu dùng và còn có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe
và tính mạng của họ nữa. Điều đáng lo là kiến thức tiêu dùng của người Việt
Nam còn thấp. Vì vậy mỗi người tiêu dùng hãy tự cập nhật học hỏi và bổ sung
kiến thức cho mình để tự bảo về lợi ích chính đáng của mình. Người tiêu dùng


18

cần phải mạnh khiếu nại tố cáo tới các cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu đổi
hàng hóa đúng chất lượng, đòi bồi thường thiệt hại cho mình và bảo về quyền
lợi cho cộng đồng người tiêu dùng.

Kết luận
Qua tìm hiểu về thực tiễn áp dụng quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
có ý nghĩa trong công cuộc đấu tranh phòng chống hành vi vi phạm pháp luật Cạnh tranh.
Từ đó, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, công cuộc lập pháp luôn nắm
vai trò quan trọng và thiết yếu trọng sự phát triển của kinh tế - xã hội. Để có được một
môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, công bằng, đảm bảo phát huy mọi tiềm
năng kinh tế của đất nước và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thì Việt Nam cần
có một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất và hoàn thiện, có cơ chế đảm bảo cho các
doanh nghiệp trong nước phát huy mọi nội lực, tăng sức cạnh tranh trên thương trường,
đảm bảo cho các doanh nghiệp nước ngoài một môi trường kinh doanh công bằng, thuận
lợi. Để công tác đấu tranh phòng, chống cạnh tranh không lành mạnh phát huy hiệu quả
trong thực tế thì bên cạnh việc nâng cao năng lực thực thi pháp luật của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền nói chung và hiệu lực thực thi nhiệm vụ của cơ quan quản lý cạnh

năm 2004 và kiến nghị hoàn thiện.
10. Vũ Thùy Dương, Tiểu luận hành vi cạnh tranh không lành mạnh.


20

Bảng phân công công việc
Công việc
Chọn đề tài, Xây dựng đề cương
Phần mở đầu
Chương I
Mục 1.1
Chương II

Mục 1.2
Mục 2.1
Mục 2.2
Mục 2.3
Mục 2.4

Kết luận
Tổng Hợp, chỉnh sửa nội dung
Thiết kế, Trình bày bài Tiểu luận
Xây dựng bài Thuyết trình
Thiết kế, trình bày bài thuyết trình

Mục 1.1.1
Mục 1.1.2
Mục 2.2.1
Mục 2.2.2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status