Tích hợp kiến thức văn học, địa lí trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1930 đến năm 1954 lớp 12 - Pdf 51

1. Lời giới thiệu
Tích hợp trong dạy học nói chung, lịch sử có ý nghĩa quan trọng trong
giáo dưỡng , giáo dục, rèn luyện và phát triển kĩ năng tư duy, phân tích tổng
hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học
kĩ thuật trong giai đoạn hiện nay đang đòi hỏi sự thay đổi căn bản và toàn diện
về nội dung và phương pháp giáo dục. Từ cách tiếp cận nội dung, giáo dục
chuyển sang tiếp cận năng lực. Điều đó đặt ra những yêu cầu về nguyên tắc và
phương pháp giáo dục theo hướng tích hợp để giải quyết vấn đề đặt ra trên
đây.
Tài liệu văn học, Địa lí là một nguồn tài liệu phong phú, còn ẩn chứa
nhiều tiềm năng có thể khai thác để sử dụng trong dạy học lịch sử, góp phần
nâng cao hứng thú, tính tích cực và khả năng sáng tạo của học sinh.
Việc thực hiện vận dụng kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử
nói chung đã được nhiều giáo viên môn Lịch sử thực hiện trong những năm
qua.
Tuy nhiên, việc thực hiện tích hợp kiến thức như thế nào trong dạy học
Lịch sử đảm bảo tính vừa sức và nâng cao hứng thú, tính tích cực và khả năng
tư duy sáng tạo của học sinh trong học tập còn nhiều hạn chế, nhất là việc đưa
ra các phương pháp, cách thức tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học
Lịch sử.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, với mong muốn nâng cao hứng thú
của học sinh trong học tập bộ môn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu
quả giáo dục ,Tôi lựa chọn nội dung “Tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong
dạy học Lịch sử Việt Nam từ Năm 1930 đến năm 1954 - Lớp 12 (Ban cơ
bản)” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình.
2. Tên sáng kiến:
“Tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ
Năm 1930 đến năm 1954 - Lớp 12 (Ban cơ bản)”.
3.Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Phạm Thị Thanh Hảo
- Địa chỉ: Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tam Dương – Vĩnh Phúc.

qua.
Tuy nhiên, việc thực hiện tích hợp kiến thức như thế nào trong dạy học
Lịch sử đảm bảo tính vừa sức và nâng cao hứng thú, tính tích cực và khả năng
tư duy sáng tạo của học sinh trong học tập còn nhiều hạn chế, nhất là việc đưa
ra các phương pháp, cách thức tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học
Lịch sử.
Xuất phát từ vị trí, ý nghĩa của tài liệu Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch
sử cùng những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực hiện vận dụng kiến thức
Văn học, Địa lí trong giảng dạy Lịch sử; với mong muốn nâng cao hứng thú
của học sinh trong học tập bộ môn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu
quả giáo dục ,Tôi lựa chọn nội dung “Tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong
dạy học Lịch sử Việt Nam từ Năm 1930 đến năm 1954 - Lớp 12 (Ban cơ
bản)” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Qua đề tài này, tôi muốn giúp học thấy được mối liên hệ giữa kiến thức
môn Lịch sử với các môn học khác đặc biệt là môn Ngữ văn và Địa lí. Từ đó
việc tiếp thu kiến thức của học sinh cũng trở nên hệ thống, khoa học và sâu sắc
hơn.
2


Tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng các phương pháp tích hợp kiến thức Văn
học, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam phần từ năm 1930 đến năm 1954
(ban cơ bản), góp phần nâng cao hứng thú và năng lực tư duy sáng tạo của học
sinh trong học tập bộ môn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
3. Đối tượng, khách thể nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu việc vận dụng tích hợp kiến thức Văn
học, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954.
- Khách thể nghiên cứu: học sinh lớp 12 trường Trung học phổ thông Trần
Hưng Đạo- huyện Tam Dương- Tỉnh Vĩnh Phúc.



NỘI DUNG
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tích hợp kiến thức Văn học,
Địa lí trong dạy học Lịch sử
1.1 Tổng quan về tích hợp trong dạy học Lịch sử
Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong
việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng
chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới. Thực hiện môn học tích hợp,
các quá trình học tập không bị cô lập với cuộc sống hàng ngày, các kiến thức
gắn liền với kinh nghiệm sống của học sinh và được liên hệ với các tình huống
cụ thể, có ý nghĩa với học sinh. Khi đó, học sinh được dạy sử dụng kiến thức
trong những tình huống cụ thể và việc giảng dạy kiến thức không chỉ là lí thuyết
mà còn phục vụ thiết yếu trong cuộc sống con người, để làm người lao động,
công dân tốt. Mặt khác, các kiến thức sẽ không lạc hậu do thường xuyên cập
nhật với cuộc sống. Theo đó khi đánh giá học sinh, thì ngoài kiến thức cần đánh
giá học sinh về khả năng sử dụng kiến thức ở các tình huống khác nhau trong
cuộc sống.
Dạy học tích hợp giúp thiết lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học trong
cùng một môn học và giữa các môn học khác nhau. Đồng thời, dạy học tích hợp
giúp tránh những kiến thức, kĩ năng, nội dung trùng lặp khi nghiên cứu riêng rẽ
từng môn học nhưng lại có những nội dung kiến thức, kĩ năng mà nếu theo một
môn học riêng rẽ sẽ không có được.
Như vậy, dạy học tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục nhằm
nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đủ phẩm chất và
năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại. Dạy học theo hướng
tích hợp phát huy được tính tích cực của học sinh, góp phần đổi mới nội dung và
phương pháp dạy học.
1.2 Vị trí, vai trò của môn Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ
thông

+ Đời sống của các dân tộc luôn có mối quan hệ khăng khít, ảnh hưởng lẫn
nhau, dù có khi hòa thuận êm đẹp hay có khi trái ngược hoặc xung đột nhau.
+ Càng ngày càng thấy rõ Trái đất và quê hương là ngôi nhà chung mà mọi
người, mọi dân tộc phải phấn đầu xây dựng, bảo vệ.
+ Nhận thức được những truyền thống cơ bản, tốt đẹp của dân tộc.
+ Bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu quê hương và niềm tự hào chân chính.
+ Trân trọng và có ý thức giữ gìn nên văn hóa dân tộc được xây dựng và
phát triển qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Biết ơn tổ tiên, những anh
hùng dân tộc đã lao động, chiến đấu, hi sinh vì sự nghiệp dựng nước và giữ
nước; đồng thời có quyết tâm vươn lên trong học tập, lao động xây dựng và bảo
vệ đất nước ngày nay.
1.2.3 Về kĩ năng.
Môn Lịch sử góp phần rèn các kĩ năng tư duy phân tích, khái quát, so sánh,
nhận xét, đánh giá...về một sự kiện, hiện tượng vấn đề lịch sử.
1.2.4 Định hướng năng lực hình thành
Các năng lực chung:
- Năng lực tự học; Năng lực sáng tạo; Năng lực giao tiếp; Năng lực hợp
tác; Năng lực sử dụng công nghệ thông tin.
* Năng lực chuyên biệt:
- Thực hành bộ môn Lịch sử: khai thác kênh hình có liên quan đến bài học;
- Phân tích mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động của các sự kiện lịch sử.
5


- Năng lực phát hiện, giải quyết các vấn đề trong học tập lịch sử (Điều tra,
thu thập, xử lí thông tin, nêu dự kiến giải quyết các vấn đề, vận dụng kiến thức
vào thực tiễn cuộc sống).
1.3 Thực trạng việc dạy và học Lịch sử hiện nay
Môn Lịch sử là một môn học bắt buộc trong trường phổ thông. Đây là một
trong những con đường giáo dục nhân cách cho học sinh thông qua hoạt động

học. Dạy học tích hợp là một xu thế đang được nhiều quốc gia trên thế giới và
Việt Nam rất quan tâm, đề cao và đang triển khai thực hiện. Quan điểm tích hợp
được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá
trình dạy học.
Trong những năm đất nước và ngành giáo dục đang thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học, đặc biệt, sau đợt tập huấn về dạy học tích hợp do Sở Giáo
dục và Đào tạo Vĩnh Phúc tổ chức, tôi đã luôn tạo hứng thú cho học sinh bằng
cách vận dụng quan điểm dạy học tích hợp liên môn Văn học, Địa lí… trong dạy
học lịch sử và đã thu được kết quả tốt. Tôi muốn được chia sẻ kinh nghiệm của
mình cùng các đồng nghiệp về phương pháp dạy học này.

6


Hơn thế nữa, đa số học sinh coi bộ môn lịch sử là “môn phụ”, dễ học. Vì
vậy, các em ít chú ý nghe giảng. Các em ghi chép một cách máy móc những gì
giáo viên ghi trên bảng và chỉ học thuộc lòng những gì đã được ghi trong vở.
Nhằm thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực
- chủ động của học sinh; những năm gần đây các trường phổ thông đã chú ý đến
việc đổi phương pháp dạy học và kiểm tra đánh gia trong đó việc phát huy tính
chủ động, tích cực của học học sinh trong học tập.
1.4 Vị trí, ý nghĩa tài liệu Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử
Để tạo ra những biểu tượng lịch sử sinh động, chân xác, trong dạy học
lịch sử cần sử dụng nhiều loại tài liệu khác nhau trong đó tài liệu Văn học, Địa
lí là một trong những nguồn tài liệu phong phú, có nhiều lợi thế.
Với chức năng phản ánh cuộc sống, tài liệu văn học đã góp phần dựng lại
bức tranh quá khứ lịch sử, trình bày các đặc trưng của các hiện tượng kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội, những quy luật của đời sống ở từng thời đại một
cách sinh động, hấp dẫn bằng ngôn ngữ và hình tượng nghệ thuật.
Giữa Văn học và Sử học có mối quan hệ khăng khít. Khoa học lịch sử dựa

Trong các nguồn tài liệu tham khảo, tài liệu văn học có khả năng to lớn
trong việc tạo biểu tượng cho học sinh bởi lẽ bản thân các tác phẩm văn
học đã chứa đựng những sự kiện lịch sử, cung cấp những tri thức có giá trị
về mọi mặt của đời sống xã hội. Đối tượng của văn học cũng như sử học là
toàn bộ thế giới nhưng văn học không miêu tả, tái hiện những con người cụ thể,
cá biệt có thật trong đời sống như lịch sử mà xuất phát từ những mẫu hình có
thật để dựng nên những hình tượng văn học giàu tính nghệ thuật khiến học
sinh dễ hình dung kiến thức và nhớ lâu. Tài liệu văn học được sử dụng sẽ làm
cho sự kiện trở nên cụ thể, sinh động.
Những hình ảnh văn học sinh động đó chính là cơ sở để tạo biểu tượng
lịch sử. Hiệu quả của việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, trong đó sử dụng tài liệu văn học có lợi thế đặc biệt. Trong dạy
học lịch sử, việc miêu tả, tường thuật, giải thích, so sánh, nêu đặc điểm nhân
vật lịch sử v.v…rất được coi trọng. T ài liệu văn học có cơ sở để giúp giáo
viên lịch sử thực hiện điều đó.
Tài liệu văn học với sự phản ánh thực qua cách nhìn, thái độ quan điểm
của tác giả đối với hiện tượng được miêu tả nên có tác động mạnh mẽ vào tâm
hồn người đọc. Người đọc sẽ hình thành tình cảm tích cực hay tiêu cực qua tác
động của các tác phẩm văn học.
Học sinh không chỉ được giáo dục về tư tưởng, đạo đức khi tiếp xúc với
văn học mà những hình tượng văn học điển hình còn tạo hứng thú học tập lịch
sử cho các em.
Việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử cũng là nhằm làm
cho các kiến thức lịch sử dễ tiếp nhận đối với học sinh, các em dường như
được tham dự, chứng kiến lịch sử quá khứ. Đây là việc phát huy trí tưởng
tượng tái tạo cho học sinh, rất cần cho việc học tập lịch sử bởi nếu không
hình dung quá khứ khách quan thì không thể hiểu bản chất lịch sử, dễ rơi vào
tình trạng “hiện đại hóa” lịch sử. Do đó việc sử dụng tài liệu văn học trong bài
giảng của giáo viên là một việc làm thiết thực, một yêu cầu bức thiết nhằm
nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay.

“ Cuộc tiếp xúc giữa Hồ Chủ tịch với ông Mutê đêm 19-4 đã diễn ra rất
gay go, những khó khăn lớn đều do vấn đề Nam Bộ. Mỗi lần Chủ tịch Hồ Chí
Minh nêu yêu cầu hai bên Việt Nam và Pháp cùng tham gia vào việc dàn xếp
vấn đề Nam Bộ thì người thay mặt chính phủ Pháp trả lời: “ Như vậy là một
điều vi phạm đối với chủ quyền nước Pháp, không thể nhận được...” đáp lại
chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại Người đã quyết lên đường về nước vào 8 giờ
sáng thứ hai, rồi đứng dậy ra về. Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Bộ trưởng lạnh
lùng chia tay vào lúc 11 giờ đêm.
Tình hình rất căng thẳng:
Ở nhà ông Mutê trở về, Hồ Chủ tịch vào phòng riêng và suy nghĩ. Hồi 12
giờ đêm khi tất cả nhân viên đã yên nghỉ thì Người và Ông Mutê lại gặp nhau.
Người lại kiên quyết nêu lên vấn đề Nam Bộ. Người đã giải thích cho ông Mutê
bằng giọng dễ cảm kích.
9


Ông Mutê im lặng, nhưng mặt khác ông Mutê thảo luận là người Việt Nam
có quyền tự do đi lại ở Nam Bộ và quân đội Việt Nam vẫn sẽ ở lại Nam Bộ.
Nhưng cuối cùng đôi bên kí kết bản Tạm ước 14-9. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đòi được ghi vào biên bản: “Pháp cam kết thi hành những điều tự do dân chủ ở
Nam Bộ, sẽ đình chỉ mọi hoạt động võ lực”.
Khi dạy bài 18: “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống
thực dân Pháp 1946- 1950”, mục II Cuộc chiến đấu ở các đô thị và việc
chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, Giáo viên có thể sử dụng tư liệu trong
tác phẩm “Chiến đấu trong vòng vây” (Võ Nguyên Giáp) để kể về cuộc chiến
đấu ở Hà Nội khi kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ: “20 giờ
ngày 19-12-1946, Hiệu lệnh nổ súng ở Hà Nội là đèn tắt, đại bác của pháo đài
Láng bắn những phát đầu tiên gầm lên. Chúng ta cần bóng tối hỗ trợ. Đèn điện
Hà Nội vụt tắt. Công nhân nhà máy điện Yên Phụ do đồng chí Giăng phụ trách
đã hoàn thành nhiệm vụ một cách tuyệt vời!

nhiều lần băng mình qua lửa đạn cứu thương binh, tiếp đạn cho bộ đội”.
Hay khi dạy bài 20: “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân
Pháp kết thúc (1953-1954)”, mục II.2 Chiến dịch Điện Biên Phủ, Giáo viên
có thể sử dụng tư liệu văn học trong tác phẩm “Điện Biên Phủ những trang vàng
lịch sử” – Hồi kí Đại tá Hoàng Minh Phương, để kể chuyện về tấm gương kéo
pháo vào trận địa, chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ: “Tháng 5/1953,
quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ để chuẩn bị đánh lớn. Tô Vĩnh
Diện được điều về làm tiểu đội trưởng một đơn vị pháo cao xạ. Trong lúc kéo
pháo qua những chặng đường nguy hiểm, cũng như nghỉ dọc đường, anh luôn
nhắc nhở đồng đội chuẩn bị chu đáo và tự mình đi kiểm tra tỉ mỉ dây kéo pháo,
xem xét từng đoạn đường, từng con dốc rồi phổ biến cho anh em để tránh
những bất ngờ xảy ra. Qua 5 đêm kéo pháo ra đến dốc Chuối, đường hẹp cong
và rất nguy hiểm, anh cùng đồng chí pháo thủ Lê Văn Chi xung phong lái pháo.
Đến nửa chừng, dây tời bị đứt, pháo lao nhanh xuống dốc, anh vẫn bình tĩnh
giữ càng lái cho pháo thẳng đường. Nhưng một trong bốn dây kéo pháo lại bị
đứt, pháo càng lao nhanh, đồng chí Chi bị hất văng ra. Trong hoàn cảnh vô
cùng khó khăn đó, Tô Vĩnh Diện hô anh em “Thà hy sinh quyết bảo vệ pháo”,
và anh buông tay lái xông lên phía trước, lấy thân mình chèn vào bánh pháo,
nhờ đó các anh em đồng đội kịp ghìm giữ pháo lại. Tấm gương hy sinh vô cùng
anh dũng của anh đã cổ vũ mạnh mẽ toàn đơn vị vươn lên hoàn thành tốt nhiệm
vụ, chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu thắng lợi”.
Phần diễn biến chiến chiến dịch, giáo viên có thể sử dụng đoạn trích trong
cuốn “Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954” kết hợp sử dụng
hình ảnh: “Biểu tượng chiến thắng Điện Biên Phủ” để kể chuyện cho học sinh:
“Thế của ta như nước vỡ bờ, bộ đội ta đánh tới đâu, cờ trắng của địch xuất
hiện tới đó. Nhiều toán địch từ các chiến hào lũ lượt kéo ra nộp vũ khí, 17 giờ
một cánh quân của đại đoàn 312 tiến sát tới sở chỉ huy địch. Trung đội trưởng
Chu Bá Thệ phát hiện trên nóc hầm Đờcát có một lá cờ trắng đang phất. Đại
đội trưởng Tạ Quang Luật lập tức cùng hai chiến sĩ Vinh và Nhỏ tiến vào Sở
chỉ huy. 17 giờ 30 phút, tướng Đờcát cùng toàn bộ Ban tham mưu của địch bị

lịch sử nạn đói 1945”: “Khi nạn đói mới bắt đầu, số người chết còn ít, mỗi buổi
sáng xe hơi mang dấu Hồng thập tự của Sở vệ sinh đi các phố nhặc xác mang
về bệnh viện thành phố cuốn chiếu đem chôn. Về sau, số người chết đói tăng
dần, một xe Hồng thập tự không đủ, Sở vệ sinh thành phố phải thuê xe bò nhặt
xác và tại bệnh viện thành phố một nhân viên sở vệ sinh đếm số xác trả tiền.
Tới khi số người chết nhiều quá, phố nào cũng có nên không thể tập trung xác
ở một số nơi nữa. Sở vệ sinh cho phép nhà thầu được đem xác đi chôn. Họ chỉ
cần báo người nhặt xác cắt đôi vành tai của xác chết xâu lại rồi mang tới Sở vệ
sinh lấy tiền. Sở Công chính đó cho đào sẵn nhứng hố chôn dài để các xe hất
xác chết xuống, rắc một lần vôi bột rồi lấp đất cho đầy. Những ngôi mộ tập thể
là nơi an nghỉ của hàng chục ngàn người nông dân xấu số. Lũ lượt đoàn người
như hình nhân bỏ quê hương tìm lên thành phố mong kiếm thứ bỏ vào mồm. Và
cuộc hành trình ấy kéo dài từ xó nhà đến Hà Nội đã biến con người thành hồn
ma xác quỷ hoặc là gục chết bên đường hoặc ngoi ngóp sống khổ nhục”.
Hay giáo viên có thể sử dụng đoạn trích trong bài thơ Đói của Bàng Bá
12


Lân để miêu tả nạn đói năm Ất Dậu:
“Năm Ất Dậu, tháng ba, còn nhớ mãi
Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương!
Những thây ma thất thểu đầy đường,
Rồi ngã gục không đứng lên vì... đói!
Đói từ Bắc Giang đói về Hà Nội,
Đói ở Thái Bình đói tới Gia Lâm.
Khắp đường xa những xác đói rên nằm
Trong nắng lửa, trong bụi lầm co quắp.
Giữa đống giẻ chỉ còn đôi hố mắt
Đọng chút hồn sắp tắt của thây ma;
Những cánh tay gầy quờ quạng khua khoa

2.3.3 Sử dụng tài liệu văn học để khắc sâu kiến thức cho học sinh
Khi trình bày về diễn biến của phong trào ở Nghệ An và Hà Tĩnh, Giáo
viên tích hợp văn học để nói về phong trào ở Nghệ - Tĩnh từ đầu năm 1930:
Bài thơ: “Xô viết Nghệ - Tĩnh” của tác giả Nguyễn Duy Xuân nói về phong
trào ở Nghệ - Tĩnh:
“Thế rồi một sáng tháng năm
Thế rồi một trưa tháng tám
Thế rồi một ngày tháng chín
Trời rung đất chuyển
Những con người đói khổ
Oằn mình đứng lên.
Họ cầm trong tay những gì họ có
Gậy tre, lưỡi mác
Trống chiêng và mõ
Kẻ thét người hô
Ào ào như nước vỡ bờ”.
GV tích hợp đoạn thơ trong “Bài ca cách mạng” của Đặng Chánh Kỷ để HS
thấy được tinh thần chiến đấu của nhân dân ở các địa phương thuộc Nghệ - Tĩnh.
“Kìa Bến Thủy đứng đầu dậy trước
Nọ Thanh Chương tiếp bước đứng lên
Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên
Anh Sơn, Hà Tĩnh một phen dậy rồi…
Trên gió cả cờ đào phất thẳng
Dưới đất bằng giấy trắng tung ra
Giữa thành một trận xông pha
Bên kia đạn sắt, bên ta gan vàng”.
GV tích hợp đoạn thơ trong “Xô viết Nghệ - Tĩnh” để làm rõ sự tàn bạo của
thực dân Pháp trong cuộc đàn áp đoàn người biểu tình trong ngày 12/9. Đồng
thời, cũng cho thấy sự dũng cảm, chiến đấu quyết liệt của nhân dân Nghệ - Tĩnh
chống Pháp và tay sai phản động:

Đường càng đi, đội ngũ càng đông
Suối ngàn đã chảy thành sông
Đố ai tát cạn được dòng nước xuôi”.
Trong bài 16 “Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng
Tám (1939-1945). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (2-9-1945).”,
chúng ta có thể sử dụng các tài liệu văn học sau:
Khi tìm hiểu nguyên nhân Hồ Chí Minh quyết định thành lập “Khu giải
phóng Việt Bắc”, giáo viên có thể lí giải do những thắng lợi của cao trào kháng
Nhật cứu nước, vùng giải phóng được mở rộng, địa thế khu giải phóng được mở
rộng gồm các tỉnh ở vùng Việt Bắc nối liền nhau nên Hồ Chí Minh quyết định
thành lập khu giải phóng: “Khu giải phóng phải trở thành một căn cứ địa vững
chắc về mọi mặt, chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa để làm bàn đạp Nam tiến,
giải phóng toàn quốc”.
Giáo viên sử dụng đoạn thơ sau trong Thơ ca cách mạng Việt Bắc (19361945) để trình bày thời cơ cách mạng đã chín muồi và lệnh Tổng khởi nghĩa
giành chính quyền trong cả nước:
“Chính phủ phát xít Nhật hoàng
15


Đã vô điều kiện đầu hàng Đồng Minh
Thế là kết thúc chiến tranh
Á châu sẽ lại thái bình từ nay
Hỡi dân Nam Việt ta đây
Trong tình hình ấy làm ngay việc cần
Việt Minh hiệu triệu toàn dân
Lập ngay chính phủ nhân dân của mình”.
Hay giáo viên cũng có thể sử dụng nội dung bức thư của Hồ Chí Minh gửi
đồng bào toàn quốc trước ngày tổng khởi nghĩa, nói đến sự kiện trưa ngày
15/8/1945: Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, quân Nhật
ở Đông Dương rệu rã, chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang. Nội

động khiêu khích Nam Bộ:
“Một tối hành quân qua xóm nhỏ
Mẹ già lách cửa níu bàn tay
Con ơi! Giặc ác hơn lang sói
Mẹ dẫn con đi diệt bốt này”
(Gió nội thở dài – Xuân Miễn)
Trước tình thế đó, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã huy động
lực lượng cả nước chi viện cho Nam Bộ và Nam Trung Bộ.
Hay khi dạy bài 18: “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc
chống thực dân Pháp (1946 -1950)”, Nhà thơ Tố Hữu đã ghi lại những thắng
lợi của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947 qua những
vần thơ:
“Anh kể chuyện tôi nghe
Trận chợ Đồn, chợ Rã
Ta đánh giặc chạy re
Hai đứa cười ha hả
Rồi Bông Lau, Ỷ La
Ba trăm thằng tan xác
Cành cây móc thịt da
Thối inh rừng Việt Bắc.
Tàu giặc đắm sông Lô
Tha hồ mà uống nước
Máu tanh đến bây giờ
Chưa tan mùi bữa trước...”
Bước vào thu đông năm 1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch
Biên giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp kiểm tra kể hoạch tác chiến, công
tác chuẩn bị và động viên cán bộ, chiến sĩ, dân công tham gia chiến dịch. Người
đã viết bài thơ Lên núi:
“ Chống gậy lên non xem trận địa
Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây

huy chính trị”, “ không hề tha thứ cho bất kể một trở lực nào để thực hiện ý
định của mình”.
Công tác chuẩn bị cho chiến dịch và ý nghĩa của chiến dịch Điện Biên Phủ
được nhà thơ Tố Hữu ghi lại trong bài thơ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”
Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ
Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát
Dù bom đạn xương tan, thịt nát
Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh"
Hỡi các chị, các anh
Trên chiến trường ngã xuống
Máu của anh chị, của chúng ta không uổng
Sẽ xanh tươi đồng ruộng Việt Nam
Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam
Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng...”
Chương 3. Tích hợp kiến thức Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ
năm 1945 đến năm 1954.
3.1 Vị trí, ý nghĩa của kiến thức Địa lí trong dạy học lịch sử
Sự kiện lịch sử gắn liền với vị trí không gian nhất định. Nhiều sự kiện
kịch sử xảy ra bắt nguồn từ đặc điểm địa lí hoặc do điều kiện địa lí tác động,
18


chi phối. Do vậy kiến thức địa lí có ý nghĩa đặc biệt quan trong trong dạy học
lịch sử. Bài học lịch sử gắn với bản đồ và kiến thức địa lí luôn tạo ra sự hấp
dẫn, giúp học sinh nắm chắc sự kiện, biết lí giải bản chất sự kiện qua sự chi
phối của yếu tố địa lí.
3.2 Sử dụng kiến thức địa lí giúp học sinh khắc sâu kiến thức bài học
lịch sử
Kiến thức Địa lí nói chung, bản đồ Địa lí nói riêng có ưu thế trong việc
khắc sâu kiến thức lịch sử cho học sinh.

19


mạng có thể tiến nhanh phát huy thắng lợi và nếu gặp khó khăn có thể lui về để
bảo toàn lực lượng. Theo các triền núi phía Đông, Khu giải phóng có thể liên
lạc với biển và Hải Phòng. Theo các triền núi phía Tây, có thể liên lạc với khu
Tây Bắc và các tỉnh miền núi Trung bộ. Tóm lại, Khu giải phóng có vị trí rất cơ
động, “tiến có thể đánh”, “lui có thể giữ”
Hay khi nói về âm mưu của Pháp – Mĩ trong kế hoạch Rơve giáo viên sử
dụng lược đồ, giúp học sinh xác định rõ tầm quan trọng của tuyến biên giới
Việt – Trung, những khó khăn đối với cuộc kháng chiến của quân và dân ta khi
Pháp triển khai kế hoạch Rơve. Giáo viên nhấn mạnh:
“ Chiến trường Biên giới có tầm quan trọng về chiến lược nên Pháp bố trí
ở đây một lực lượng quân sự khá mạnh. Đường quốc lộ chiến lược số 4 dài
300km qua các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn. Tại đây địch có 11 tiểu đoàn và 9 đại
đội, trong đó có 4 tiểu đoàn Âu Phi làm lực lượng cơ động. Rơ ve chủ trương
khóa chặt biên giới Việt Trung bằng một hệ thống phòng thủ vững chắc trên
đường số 4 với các cứ điểm: Đình Lập, Lạng Sơn, Na Sầm, Thất Khê, Đông
Khê, Cao Bằng để cô lập cách mạng Việt Nam. Đồng thời chúng tung quân
đánh rộng ra vùng trung du, thiết lập hành lang Đông Tây: Hải Phòng – Hà
Nội – Hòa Bình – Sơn La hòng ngăn chặn con đường liên lạc giữa Việt Bắc với
đồng bằng Liên khu III và liên khu IV.
Với binh lực lớn và tinh nhuệ, hệ thống phòng thủ vững chắc, Bộ chỉ huy
Pháp đặt nhiều hi vọng vào khả năng phòng thủ của Liên khu biên giới. Tuy
nhiên liên khu này có nhiều điểm bất lợi: Thế bố trí thành tuyến kéo dài trên
một con đường độc đạo với vị trí cô lập cách xã nhau hàng chục km; địa hình
rừng núi, phức tạp khiến quân cơ động ứng chiến bằng cơ giới khó phát huy tác
dụng.”
Khi dạy bài 18, Giáo viên sử dụng hình ảnh Tượng đài ghi lại những chiến
thắng hiển hách trên đèo Bông Lau tích hợp kiến thức Địa lí để khắc họa cho

nằm ở phía Tây vùng rừng núi Tây Bắc, gần biên giới Lào, cách Hà Nội 300
km, cách Luôngphabăng 200 km, cách hậu phương của ta (Việt Bắc, Thanh Nghệ - Tĩnh) từ 300 đến 500 km. Đối với Pháp, đây là vị trí chiến lược then
chốt, có thể trở thành một căn cứ lục quân và không quân trong âm mưu xâm
lược của chúng ở Đông Dương và Đông Nam Á. Trước mắt, Điện Biên Phủ có
tác dụng thu hút chủ lực của ta, tạo cho chúng bình định đồng bằng Bắc Bộ,
đánh chiếm liên khu V. Điện Biên Phủ từ chỗ không nằm trong nội dung của kế
hoạch Nava đã trở thành tâm điểm của kế hoạch Nava.
Để thực hiện mưu đồ trên, Nava tăng dần số quân chiếm đóng ở Điện Biên
Phủ lên 16.200 tên, gồm những đơn vị thuộc các binh chủng tinh nhuệ nhất ở
Đông Dương. Nava cho xây dựng ở đây 49 cứ điểm, 2 sân bay, chia làm 3 phân
khu: Trung tâm Mường Thanh, Bắc và Nam. Tất cả các vị trí đều nằm trong
công sự và giao thông hào chìm dưới mặt đất rất kiên cố,… Pháp – Mĩ coi Điện
Biên Phủ là “pháo đài bất khả xâm phạm”, “cái máy nghiền khổng lồ” và đưa
ra lời tuyên bố sẽ giữ căn cứ này với bất cứ giá nào”.
3.3. Sử dụng bản đồ giúp học sinh hiểu rõ diễn biến sự kiện lịch sử
Bản đồ lịch sử được tích hợp kiến thức địa lí giúp học sinh hiểu rõ sự
kiện lịch sử trên các khía cạnh, như: Tại sao xảy ra ở vị trí không gian đó?
Diễn biến thế nào? Mối liên quan của các sự kiện trong những vị trí không
gian khác nhau ra sao?
Chẳng hạn, khi dạy về chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947,
Giáo viên sử dụng lược đồ chiến dịch Việt Bắc, kết hợp miêu tả, tường
21


thuật, giúp học sinh hiểu rõ về âm mưu, thủ đoạn của Pháp khi tấn công
lên Việt Bắc và những thắng lợi của ta trong chiến dịch Việt Bắc thu
đông năm 1947.

Lược đồ chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947
+ Sau khi chiếm vùng đồng bằng Bắc Bộ và các đô thị lớn tại miền Bắc,

quy mô lớn lên căn cứ địa kháng chiến của ta ở Tây Bắc và Việt Bắc.
Ngày 19-12-1946: đại bộ phận quân Pháp rút khỏi Việt Bắc.
Khi dạy về chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950, giáo viên sử dụng
lược đồ chiến dịch Biên giới để Học sinh hiểu rõ diễn biến chiến dịch:

23


Lược đồ chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950
- Sáng ngày 16-9-1950: quân ta nổ súng đánh Đông Khê, mở màn chiến
dịch. Đông Khê là một cứ điểm, địch tương đối yếu (có 1 tiểu đoàn), nhưng lại
là vị trí trọng yếu, mất Đông Khê, địch phải cho quân ứng cứu, Cao Bằng phải
rút chạy… ta có cơ hội tiêu diệt quân tiếp viện và quân rút chạy của địch. Hơn
nữa, Đông Khê ở xa Hà Nội, nếu địch tiếp viện cũng mất nhiều thời gian. Vì
vậy, ta quyết định đánh Đông Khê.
- Sau hai ngày chiến đấu quyết liệt, bộ đội ta tiêu diệt được vị trí Đông Khê.
Thất Khê bị uy hiếp trực tiếp. Cao Bằng hoàn toàn bị cô lập. Thế trận phòng
thủ trên đường số 4 của địch bị rung chuyển.
- Đúng như ta phán đoán, Đông Khê thất thủ đã gây nên phản ứng dây chuyền
trong giới cầm quyền quân sự và chính trị Pháp. Tổng chỉ huy quân đội viễn
chinh Pháp ở Đông Dương phải ra lệnh rút quân khỏi Cao Bằng theo đường số
4. Kế hoạch trên được thực hiện bằng một cuộc hành quân kép.
+ Một mặt, địch cho binh đoàn từ Thất Khê do Lơ Pa giơ chỉ huy lên chiếm lại
Đông Khê để đón binh đoàn từ Cao Bằng do Sác tông chỉ huy kéo về.
+ Mặt khác, chúng huy động hầu hết lực lượng dự bị chiến lược ở Bắc Bộ mở
chiến dịch mang tên Phô cơ đánh chiếm thị xã Thái Nguyên, hi vọng thu hút chủ
lực của ta ở mặt trận biên giới để đỡ đòn cho đồng bọn và trấn an dư luận trước
việc thất thủ Đông Khê.
- Nắm được ý đồ của địch, quán triệt phương châm “đánh điểm diệt viện”, trên
mặt trận Biên giới, bộ đội ta kiên nhẫn, mai phục chờ đánh quân tiếp viện.

Lược đồ hình thái chiến trường Đông Xuân 1953 -1954
- Tháng 12/1953, quân ta mở chiến dịch Tây Bắc, giải phóng toàn bộ thị xã
Lai Châu. Nava phải điều quân lên tập trung tại Điện Biên Phủ.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status