Phát triển vận tải đa phưong thức - Pdf 52

ĐẠI HỌC
QUỐC GIA TP.HCM
KHOA KINH TẾ - LUẬT

BỘ MÔN: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
TIỂU LUẬN MÔN VẬN TẢI BẢO HIỂM QUỐC TẾ
Giáo viên hướng dẫn
Thạc sỹ Hoàng Lâm Cường
Nhóm sinh viên thực hiện
1.Nguyễn Xuân Đại K074020291
2.Ngô Thị Mỹ Linh K074020319
3.Trần Thị Ái Mỹ K074020328
4.Lê Thị Kim Ngọc K074020336
5.Nguyễn Thị Ý Nhi K074020344
6.Lê Thị Thục Oanh K074020346
7.Đặng Thị Thanh Thi K074020364
8.Đỗ Thị Ngọc Vũ K074020386
9.Châu Sô K074020395
1
TP.HCM – THÁNG 06/2010
MỤC LỤC
a. Hệ thống kết cấu hạ tầng, phương tiện giao thông đường bộ ................................. 11
b. Hệ thống kết cấu hạ tầng, phương tiên giao thông đường sắt ................................ 13
c. Hệ thống kết cấu hạ tầng đường, phương tiên giao thông đường biển ................... 17
d. Hệ thống kết cấu hạ tầng đường, phương tiện giao thông hàng không ................. 20
CHƯƠNG 4 .................................................................................................................. 28
CÁC DOANH NGHIỆP VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TẠI VIỆT NAM ........... 28
I. Giới thiệu chung: ....................................................................................................... 28
9.Vận Tải - Giao Nhận Quốc Tế Và Bảo Hiểm Hàng Hả, Dương Hữu Hạnh, NXB Thống kê .............. 44
..................................................................................................................................
LỜI NÓI ĐẦU

nhất hai phương thức vận tải khác nhau trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương
thức, theo đó hàng hóa được người vận tải đa phương thức nhận trách nhiệm để đưa
từ một địa điểm đến giao ở một địa điểm thuộc một nước khác.
Công ước cũng định nghĩa người vận tải đa phương thức là “Một người tự
mình hoặc thông qua một người khác thay mặt mình kí một hợp đồng vận tải đa
phương thức và hoạt động như là một bên chính chứ không phải là một đại lí hay là
người thay mặt người gửi hàng hay những người chuyên chở tham gia vận tải đa
phương thức và chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng”.
* Một số khái niệm về vận tải đa phương thức theo luật pháp Việt
Nam:
Trong luật pháp Việt Nam, khái niệm vận tải đa phương thức mới chỉ được
nêu với một mức độ nhất định.
Luật Hàng hải Điều 87 và 88 đưa ra định nghĩa về vận tải liên hiệp. Điều 87
định nghĩa, vận tải liên hiệp là việc vận chuyển hàng hóa có sự tham gia của các
phương thức vận tải khác nhau: đường bộ, đường thủy và đường không. Tuy nhiên,
Bộ luật không nói đến việc hàng hóa phải được vận chuyển từ nước này sang nước
khác.
Nghị định 125/2003/NĐ-CP đưa ra một số định nghĩa về vận tải đa phương
thức như sau:
- “Vận tải đa phương thức quốc tế” (gọi tắt là vận tải đa phương thức) là việc
vận chuyển hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trên cơ sở một
4
hợp đồng vận tải đa phương thức từ nơi người kinh doanh vận tải đa phương thức
tiếp nhận hàng hóa ở một nước đến một địa điểm được chỉ định giao trả hàng ở
nước khác.
- “Người kinh doanh vận tải đa phương thức” là doanh nghiệp kí kết hợp
đồng vận tải đa phương thức, tự chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng đó mà không
phải là đại lý hoặc đại diện của người gửi hàng hoặc thay mặt người vận chuyển
tham gia các hoạt động vận tải đa phương thức.
- “Hợp đồng vận tải đa phương thức” là văn bản theo đó người kinh doanh

3. Các mô hình vận tải đa phương thức:
- Mô hình vận tải đường biển - vận tải hàng không (Sea/Air):
+ Sự kết hợp giữa tính kinh tế của vận tải biển và sự ưu việt về tốc độ của
vận tải hàng không – tức hai ưu thế của 2 loại hình vận tải này (tàu biển à cảng
chuyển tải à máy bay à đất liền).
+ Áp dụng chuyên chở hàng hoá có giá trị cao, quý hiếm như: đồ điện, điện
tử và hàng hóa có tính thời vụ cao như quần áo, đồ chơi và được dùng nhiều trên thế
giới, nhất là tuyến đường Viễn Đông, châu Á.
- Mô hình vận tải ô tô - vận tải hàng không (Road/Air):
+ Sử dụng để phối hợp cả ưu thế của vận tải ô tô và vận tải hàng không (ô tô
à cảng hàng không hoặc cảng hàng không à ô tô).
+ Có tính linh động cao.
- Mô hình vận tải đường sắt - vận tải ô tô (Rail/Road):
Sự kết hợp giữa tính an toàn và tốc độ của vận tải đường sắt với tính cơ động
của vận tải ô tô ( trailer à nhà ga đi à lên toa xe à nhà ga đến à ô tô à người
nhận).
- Mô hình vận tải đường sắt - đường bộ - vận tải nội thuỷ - vận tải
đường biển (Rail/Road/Inland waterway/Sea)
6
+ Mô hình vận tải phổ biến để chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu (đường
sắt/ đường bộ/ đường nội thuỷ à cảng nước XK à đường biển à cảng nước NK
à đường sắt/ đường bộ/ đường nội thuỷ à người nhận).
+ Loại kết hợp các phương thức vận tải trên được dùng khi hàng được chở
bằng đường biển từ một nước này đến một nước khác. Các phương thức vận tải như
đường bộ, đường sắt,… được dùng để chở hàng từ 1 trung tâm ở trong nội địa của
các nước đi ra cảng và từ cảng của nước đến về các trung tâm tiêu thụ ở trong nội
địa. Thích hợp với các loại hàng chở bằng container trên các tuyến đường không
yêu cầu gấp rút về thời gian.
- Mô hình cầu lục địa (Land Bridge)
Hàng hoá (container) được vận chuyển bằng đường biển vượt qua các đại

Chỉ có các công ty hoạt động trong lĩnh vực vận tải hoặc có liên quan đến lĩnh vực
vận tải bước đầu áp dụng vào thực tế như : Vietfract, Vietrans, Transimex,
Vicoship, Vosa, Gemartrans…Mức áp dụng chưa đạt độ hoàn thiện hoặc mới chỉ
thức hiện 1 quy trình vận tải đan phương thức như công đoạn thuê phương tiện vận
tải, công đoạn giao nhận hàng hóa trong phạm vi nội địa…
Năm 1982, công ty Vietfracht thực hiện tổ chức chuyên chởloo hàng xuất
khẩu từ thành phố Hồ Chí Minh đi Paris theo các chặng đường sau:
Sài Gòn – Biển Đen ( chở bằng tàu biển của hãng Interlighter)
Biển Đen – Regenburg ( chở bằng tàu kéo, xà lan)
Regenburg – Paris (chở bằng tàu hỏa)
Đó là chuyến hàng đầu tiên áp dụng vận tải đa phương thức do Cơ quan vận
tải giao nhận của Việt Nam đứng ra tổ chức. Sau đó, phương pháp vận tải này bị
gián đoạn vì luồng hàng không ổn định, giá thuê phương tiện vận tải thủy bộ ở các
nước châu Âu khá cao, các khâu thủ tục có liên quan chưa được liên hoàn. Mãi đến
năm 1987-1988, công ty Viêtfracht lại triển khai một hợp đồng vận tải đa phương
thức để chuyên chở hàng nhập khẩu của Lào từ Singapore về Savanakhet theo các
chặng đường sau:
Singapore- Đà Nẵng ( chở bằng tàu biển)
Đà Nẵng – Savanakhet (chở bằng ô tô)
Từ năm 1990 trở lại đây, công ty Vietfracht tiếp tục thực hiện một số hhowpj
đòng vận tải đa phương thức, ở các tuyến chuyên chở hàng hóa đến các tình phía
9
Nam Trung Quốc. Hiện tại, công ty Vietfracht chủ yếu làm nhiệm vụ đại lý cho các
hãng nước ngoài trong việc kinh doanh vận tải đa phương thức.
Công ty Vietrans cũng đã tích cực tham gia hình thức tổ chức vận tải đa
phương thức theo sơ đồ biển – ô tô – hàng không. Tuy nhiên, công ty Vietrans chủ
yếu lại làm đại lý cho các hãng vận tải đa phương thức nước ngoài về một số nghiệp
vụ như: thủ tục giao nhận hàng ở cảng, ở các sân bay và chuyển giao hàng cho các
chủ hàng tại điểm nhận, hoặc sử dụng vận đơn, chứng từ vận tải đa phương thức
của hãng đó dể thực hiện việc gom hàng và chở hàng tới các cảng trung gian…

hàng không.
a. Hệ thống kết cấu hạ tầng, phương tiện giao thông đường bộ
Mạng lưới giao thông đường bộ
Mạng lưới giao thông đường bộ cả nước có tổng chiều dài 210.006 km, gồm
đường quốc lộ 14.935 km, chiếm 7.1%; đường tỉnh 17.450 km, chiếm 8.3%; đường
huyện 36.905 km, chiếm 17.6%; đường xã 132.054 km, chiếm 62.9%; đường đô thị
3.211 km, chiếm 1.5%; đường chuyên dùng 5.451 km, chiếm 2.6%. Tuy nhiên
đường có tiêu chuẩn kỹ thuật cao chiếm tỷ lệ thấp. Hiện còn 663 xã chưa có đường
ô tô vào trung tâm. Ðường có bề rộng mặt đường 2 làn xe còn ít, ngay trên hệ thống
quốc lộ cũng chỉ chiếm 26.2%. Chỉ có 15.5% chiều dài toàn mạng được rải mặt
nhựa. Các cầu trên tuyến có tải trọng thấp, khổ hẹp chiếm 20%, trong đó có 6.1% là
cầu tạm. Hành lang bảo vệ an toàn giao thông chưa đảm bảo đúng tiêu chuẩn, hai
bên quốc lộ, tỉnh lộ có nhiều nhà dân ở.
Trong hơn 10 năm qua, năng lực vận tải ôtô có tốc độ phát triển khá cao: ôtô
vận tải hàng hoá tăng trưởng bình quân mỗi năm trên 13,5% đầu phương tiện với
gần 15% tổng trọng tải.
Tính đến cuối tháng 6/2006, trong tổng số 631.580 xe ôtô các loại đang hoạt
động trên toàn quốc, có 220.712 xe con (chiếm 34,9%), 82.728 xe khách (13%),
239.470 xe tải (37,9%), 58.458 xe chuyên dùng (9,2%) và 30.212 các loại xe khác
11
(4,7%).Trong đó có hơn 60% xe con, 70% xe khách và 75% xe tải, 50% xe chuyên
dùng đang hoạt động kinh doanh vận tải thuộc các doanh nghiệp và hộ gia đình.
Hàng năm lượng xe này đáp ứng khoảng 53% khối lượng vận chuyển hàng (120
triệu tấn), 10% tổng lượng luân chuyển hàng (7,4 tỷ TKm), 85,2% lượng vận
chuyển khách (780 triệu lượt người) và 52% tổng lượng luân chuyển khách (30 tỷ
người km).
Theo tuổi sử dụng, lượng ôtô từ 10 năm trở xuống chiếm 51,2% và từ trên 15
năm chiếm 28,9%. Theo sức chở, xe từ 10 đến 25 chỗ chiếm 9%, từ 26 đến 46 chỗ
chiếm 2,6%, từ 46 đến 25 chiếm 1,4%, xe tải trọng đến 2 tấn chiếm 16%, trên 2 tấn
đến 7 tấn chiếm 13,2%, trên 7 tấn chiếm 8,6%.

khổ 1.435mm và 9% là đường lồng (lồng chung 2 khổ 1.000mm và 1.435mm).
Chiều dài của các loại đuờng
Đường chính và đuờng nhánh 2.632 km
Trong đó:
- Đường khổ 1.000 mm 2.237 km
- Đường khổ 1.435 mm 158 km
- Đường lồng 237 km
Đường tránh và đuờng nhánh 511 km
Tổng cộng 3.143 km
Ngoài các tuyến đường sắt trong nước, đường sắt Việt Nam còn có tiềm năng
nối liền với các tuyến đường sắt của Trung Quốc và khu vực ASEAN.
Một số cơ sở hạ tầng khác của ngành
13
Phương tiện giao thông vận tải đường sắt
Số lượng đầu máy toa xe của ngành ( số liệu 2005 – 2006)
14
Hạn chế còn tồn tại
• Vấn đề thứ nhất của vận tải đường sắt là khổ đường và hệ thống biển báo.
85% trong số 2.600km đường sắt của nước ta là khổ hẹp 1m, chỉ phù hợp với
đầu máy hơi nước và toa xe cỡ nhỏ thời Pháp. Nay do nhu cầu vận tải và đổi mới kỹ
thuật, khổ đường này phải “chịu đựng” đầu máy diesel có công suất kéo các toa tàu
khối lượng lớn nên ngành đường sắt giống như chàng lực sĩ đi trên đôi chân khẳng
khiu suy dinh dưỡng. Mặc dù Tổng công ty đường sắt đã nỗ lực rất lớn trong việc
đổi mới nhiều loại tà vẹt, ray, gia cố cầu cống, hệ thống tín hiệu, đổi mới cách thức
điều hành... song khổ đường lạc hậu 1m tồn tại hơn 100 năm đã và đang trở thành
“hàm chặn trên” (limitted - upper) của bài toán kinh tế - kỹ thuật. Với khổ đường
hẹp như vậy, việc tăng tốc độ vận chuyển hàng hóa là không thể do tàu hàng có
nguy cơ lật nếu chạy ở tốc độ cao. Các toa tàu hàng chạy trên khổ 1,000m của Việt
Chủng loại đầu máy
Số lượng đầu

CDr
4
15
Nam cũng chỉ có thể chở tối đa là 30 tấn hàng, so với 60 tấn hàng của toa chạy trên
khổ 1,435 của Trung Quốc, con số này quả thật rất nhỏ bé.
● Vấn đề thứ hai của vận tải đường sắt là tình trạng “già nua” của đầu máy và
toa xe. Được biết toàn ngành Đường sắt hiện có 5.237 toa xe chở hàng, trong đó có
3.449 toa xe đã hết khấu hao cơ bản. Có nhiều toa xe sử dụng từ những năm
1954-1960 với đủ chủng loại của Pháp, Trung Quốc, Rumani, ấn Độ, Bỉ… khiến
việc quản lý, sử dụng gặp rất nhiều khó khăn.
Số lượng các toa xe đã có thời hạn sử dụng xấp xỉ 50 năm chiếm khoảng 1/3
số toa xe hiện có, số toa xe có thời hạn sử dụng xấp xỉ 40 năm cũng không dưới 1/3.
Những toa xe này đã rất lạc hậu về mặt kĩ thuật và xuống cấp trầm trọng, nhiều toa
xe đã hỏng nặng phần thùng, sàn và thành toa. 600 toa xe được nhập về trong
khoảng thời gian từ 1978 đến 1983 và được coi là “ khá mới” hiện cũng đã võng
xà cạnh, nứt gãy cột, thành xe, thùng xe và hệ thống cửa xe đều đã phình hoặc rỉ sét
nặng. Ngay cả các toa xe mới chế tạo sau này cũng có nhiều vấn đề đáng lo ngại, có
không ít toa xe chưa hết thời gian bảo hành đã hư hỏng.
Năm 2007 có gần 3.000 toa xe đến kỳ sửa chữa nhỏ và gần 500 toa xe đến kỳ
sửa chữa lớn, nhưng do thiếu kinh phí nên nhiều toa xe phải “đắp chiếu” nằm chờ
khiến tình trạng khan hiếm toa xe càng trở nên trầm trọng và gia tăng nguy cơ mất
an toàn khi vận chuyển.
Tương tự toa xe, các đầu máy xe lửa vận tải của ngành đường sắt cũng rất “lụ
khụ”. Nhiều đầu máy đã sử dụng 50 – 60 năm, sức kéo thấp, nhiên liệu tiêu thụ cao
nên ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ chuyên chở các tàu hàng. Theo nhiều lái tàu, các
đầu máy khi không thể kéo tàu khách nữa mới chuyển sang kéo tàu hàng nên cũ kĩ
lạc hậu là chuyện đương nhiên.
• Vấn đề thứ ba là việc thiếu các toa xe chuyên dụng và phương tiện bốc xếp
Lâu nay hầu hết các ga chở hàng lớn như Yên Viên, Sóng Thần, Lào Cai,
Xuân Giao… đều không có đủ toa xe để xếp hàng. Sản lượng vận tải đường dài

trưởng vận tải hàng hoá tại cảng Hải Phòng là 25%. Đây là tốc độ cao nhất tại
Việt Nam và sẽ còn tiếp tục tăng trưởng cao hơn trong thời gian tới. Cảng Hải
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status