HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
DƯƠNG NGÔ HÙNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC CẤP XÃ HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP – 2016
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
DƯƠNG NGÔ HÙNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC CẤP XÃ HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ
: 60.62.01.15
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. PHẠM VĂN HÙNG
HÀ NỘI, NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi
hoàn thành luận văn./.
Hà Nội, ngày 15 tháng 01 năm 2016
Tác giả
Dương Ngô Hùng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
MỤC LỤC
Lờ ii
iLờ
i
iM
ii
ục
Da
nh
Da
v
v
vi
nh
2.1 0
1
.4
2.1
.5
2.1
2
1
6
1
.6
2.2
Cơ
2.2
7
2
3
.1 lư 2
2.2n 3
.2 ng 2
2.2cán 4
2
.3
2.2
.4
3.1 nh
Đá
4
4
1
4
.4
nh
3.2Ph
3.2 ươ
Ph
2
4
3
4
.1
3.2 ươ
Ph
.2
ươ
3.3Hệ
3
4
4
4
nh
4.2 Ch
.1
4.2 ất
Ch
9
4
9
5
.2
4.2 ất
Ch
.3
4.2 ất
Ch
2
5
9
6
.4
ất
4.3Đá
4.3 nh
Th
1
7
4.5 iYê 9
.1 u20
20
4.5 Nh
.2 ữn
7
9
8
0
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
4.5.3 Mục tiêu nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã huyện Lục Nam
84
4.5.4 Giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã huyện Lục Nam
85
PH 99
Ầ
5.1 99
Kế
5.2 10
Ki
5.2
.1
5.2
Công nghiệp hóa
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
CNTT
Công nghệ thông tin
CHXHCN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
HĐND
Hội đồng nhân dân
HĐH
Hiện đại hóa
MTTQ
Mặt trận Tổ quốc
QLNN
Quản lý nhà nước
3.2 T
ìn
3.3 K
ết
4.1 T
ổ
4.2 T
ổ
4.3 T
ổ
v
à
4.4 T
ổ
4.5 T
ổ
4.6 T
ổ
c
ô
4.7 K
ết
c
h
4.8 T
ổ
c
á
4.9 T
ổ
5
5
7
5
9
6
0
6
2
6
7
8
1
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
4.1
Tổng hợp nhận xét, đánh giá cán bộ, công chức cấp xã
ương Đảng khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 18/3/2002 về
“Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị cơ sở xã, phường,
thị trấn”. Ngày 30 tháng 01 năm 2008 Ban Chấp hành Trung ương Đảng kỳ họp
thứ 6, khoá X đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW xác định "Thực hiện mạnh
mẽ chủ trương trẻ hoá, tiêu chuẩn hoá, thể chế hoá và từng bước nhất thể hoá
chức danh cán bộ; tạo bước chuyển có tính đột phá về xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức ở cơ sở".
Để đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội, triển khai thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở địa phương, cơ sở, thực hiện tốt cải
cách hành chính nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà Xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và
vì dân, ngày 08 tháng 11 năm 2011 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30c/NQCP về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 –
2020, trong 5 mục tiêu chương trình là thực hiện tốt nội dung “Xây dựng và nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”.
Tại kỳ họp thứ 4, ngày 13 tháng 11 năm 2008, Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật cán bộ, công chức số
22/2008/QH12 quy định rõ về cán bộ, công chức cấp xã; ngày 22/10/2009 Chính
phủ ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, chế độ,
chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
động không chuyên trách ở cấp xã...
Thời gian qua, thực hiện Nghị quyết của Trung ương và các Nghị định của
Chính phủ; Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Giang đã có nhiều giải pháp tích cực để
nâng cao trình độ, năng lực cho cán bộ, công chức cấp xã. Ngày 11 tháng 7 năm
2014 Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Đề án số 05-ĐA/TU về tạo nguồn Bí
thư đảng ủy, chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn đến năm 2025 và những năm
nhiều chế độ chính sách thay đổi thường xuyên nhưng chậm được cập nhật. Việc
áp dụng công nghệ thông tin, xử lý thông tin trong công việc còn nhiều hạn chế,
hiệu quả thực thi công vụ chưa cao, nên phần nào ảnh hưởng tới công tác quản
lý, điều hành ở địa phương. Chưa có những đổi mới nâng cao hiệu quả công tác,
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
Từ những lý do trên, nhằm đánh giá thực trạng, những tồn tại, hạn chế,
những bất cập và rút ra những bài học kinh nghiệm quản lý đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã có tâm, có tầm, có tài và có sức khỏe để thực thi nhiệm vụ được giao
đảm bảo sự hài lòng của người dân, tôi chọn đề tài nghiên cứu ‘‘Giải pháp
nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã huyện Lục Nam, tỉnh Bắc
Giang" nhằm củng cố kiến thức chuyên môn, rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa
học; đồng thời góp phần vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp xã huyện
Lục Nam, tỉnh Bắc Giang thời gian qua, từ đó đề xuất định hướng và hệ thống
các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên
địa bàn trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cán bộ,
công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng;
- Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và các
yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng của đội ngũ này đối với huyện Lục Nam;
- Đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ,
công chức cấp xã huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang trong những năm tới.
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý, lãnh đạo, chỉ đạo,
thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Lục
Nam, tỉnh Bắc Giang. Chất lượng trong công tác của đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã; các chế độ, chính sách liên quan đến cán bộ, công chức cấp xã. Thực hiện
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện.
Chủ thể nghiên cứu: Cán bộ, công chức cấp xã; cán bộ, công chức thuộc
UBND huyện, huyện ủy Lục Nam nơi trực tiếp quản lý cán bộ, công chức cấp
xã; cơ quan tham mưu Phòng Nội vụ, Chi cục thống kê huyện Lục Nam; Sở Nội
vụ tỉnh Bắc Giang và các đơn vị liên quan.
Khách thể nghiên cứu của đề tài là: Những quy định về cán bộ, công chức;
cán bộ, công chức cấp xã, chế độ, chính sách, công tác quản lý, đánh giá; đào tào
và bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1 Phạm vi về nội dung
- Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
huyện; những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công chức cấp xã trên địa
bàn huyện.
- Công tác đánh giá xếp loại và sử dụng cán bộ, công chức cấp xã trên địa
bàn huyện.
- Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện
Lục Nam, tỉnh Bắc Giang trong những năm tới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
1.4.2.2 Phạm vi về không gian
b. Công chức cấp xã: Theo Điều 3, Nghị định 92/2009/NĐ-CP, ngày 22/10/2009
của Chính phủ công chức là “công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức
danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã trong biên chế và hưởng lương
từ ngân sách nhà nước, gồm có 7 chức danh: Trưởng công an xã, Chỉ huy trưởng
Quân sự; Công chức Văn phòng – thống kê; Địa chính nông nghiệp – xây dựng và
môi trường; Tài chính – kế toán; Tư pháp – hộ tịch; Văn hóa – xã hội” (Chính phủ,
2009).
Tóm lại, cán bộ, công chức cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu hoặc
tuyển dụng vào giữ chức vụ hoặc làm công tác chuyên môn ở cấp xã, có trách
nhiệm tham mưu, giúp Đảng ủy, HĐND, UBND cấp xã thực hiện nhiệm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực được phân công và thực hiện các nhiệm
vụ khác được giao.
2.1.1.2 Chất lượng, chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
a. Chất lượng:
Từ điển Hán Việt của Hoàng Phê (2000), Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất
bản Đà Nẵng thì: Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người,
một sự vật, sự việc.
Theo tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Á: "chất lượng là mức độ phù hợp
với yêu cầu người tiêu dùng".
Tóm lại, dù tiếp cận theo cách nào thì ‘chất lượng’ cũng phải đảm bảo phù
hợp với tiêu chuẩn đã được công bố, phù hợp với những đòi hỏi của người sử
dụng, kết hợp cả tiêu chuẩn và đòi hỏi của người tiêu dùng.
b. Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã: Hiểu một cách khái quát là “cái tạo nên
phẩm chất, giá trị của một con người, một sự việc”. Theo đó, chất lượng cán bộ,
- Chất lượng cán bộ, công chức là: trình độ, năng lực công tác, kỹ năng,
phương pháp, khả năng hoàn thành nhiệm vụ, là tập hợp khả năng về quản lý,
điều hành, giao tiếp, khả năng thích ứng và xử lý công việc được gói gọn, phản
ảnh bởi chữ Tài của cán bộ, công chức.
- Chất lượng cán bộ, công chức được biểu hiện qua: Trí lực có thể lực, sức
khỏe, để phát huy năng lực, sở trường của bản thân và không ngần ngại tham gia
công việc được giao trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào.
Từ đó cho thấy, chất lượng cán bộ, công chức cấp xã trước hết do chất
lượng từng cán bộ, công chức tạo nên, nhưng phụ thuộc vào cơ cấu của đội ngũ
đó. Vì vậy, có thể thấy rằng: Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là
tổng hợp các yếu tố: tâm, tầm, tài, sức khỏe… hội tụ đầy đủ những yếu tố và mức
độ đáp ứng yêu cầu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
2.1.2 Yêu cầu cán bộ, công chức cấp xã
Ngày 18 tháng 3 năm 2002, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khóa IX) ban hành Nghị quyết về đổi mới, nâng cao chất
lượng hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn đã nêu rõ: “Xây dựng đội ngũ
cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với nhân dân,
biết phát huy sức mạnh, không tham nhũng, không ức hiếp dân. Mọi đảng viên
phải nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu, vững vàng về chính trị, đạo đức
trong sáng, có lối sông lành mạnh, gắn bó với nhân dân”.
Để cụ thể hóa quan điểm của Đảng trên, ngày 05/12/2011 Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 112/2011/NĐ-CP về công chức xã, phường, thị trấn, Bộ
Nội vụ là cơ quan giúp Chính phủ về công tác cán bộ, ngày 16/01/2004 của Bộ
trưởng Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV về ban hành quy
định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức cấp xã, Thông tư số 06/2012/TTBNV ngày 30/10/2012 hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và
tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn.
2.1.2.1 Yêu cầu chung
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
2.1.3 Vai trò của cán bộ, công chức cấp xã
Vai trò của cán bộ, công chức cấp xã gồm những nội dung sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
- Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quyết định trong việc
triển khai tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước tại cơ sở. Là người giữ vai trò trụ cột, có tác
dụng chi phối mọi hoạt động, do vậy họ không những phải nắm vững đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, đoàn thể cấp trên để tuyên truyền,
tổ chức cho quần chúng thực hiện mà còn phải am hiểu sâu sắc đặc điểm, tình
hình kinh tế- xã hội, những yếu tố văn hóa địa phương để đề ra những biện pháp
cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách ấy cho phù hợp với điều kiện đặc thù
của địa phương (Đoàn Văn Tình, 2015).
- Cán bộ, công chức cấp xã là những người trực tiếp gần gũi, gắn bó với
nhân dân, sống, làm việc và hàng ngày có mối quan hệ chặt chẽ với dân.
Thông qua họ mà ý Đảng, lòng dân tạo thành một khối thống nhất, làm cho
Đảng, Nhà nước "ăn sâu, bám rễ" trong quần chúng nhân dân, tạo nên quan hệ
thống nhất, khăng khít giữa Đảng – Nhà nước với nhân dân, củng cố niềm tin của
nhân dân đối với Đảng và Nhà nước (Đoàn Văn Tình, 2015).
- Cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quyết định trong việc xây dựng,
củng cố nâng cao năng lực điều hành của chính quyền cơ sở, là trung tâm đoàn
kết, tập hợp mọi tiềm năng, nguồn lực ở địa phương, động viên nhân dân ra sức
thi đua hoàn thành thắng lợi các mục tiêu về kinh tế- xã hội, thực hiện tốt nhiệm
vụ chính trị của địa phương. Có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng. Thúc đẩy hoạt động của
MTTQ và các tổ chức chính trị xã hội ở cơ sở; dẫn dắt, định hướng các phong
trào, tổng kết rút kinh nghiệm, biểu dương và nhân rộng các điển hình tiên
lập trường kiên định, lòng trung thành; Có tinh thần giác ngộ, giáo dục mọi
người cùng thực hiện các chuẩn mực đạo đức và biết đặt lợi ích của mình trong
lợi ích của tập thể và xã hội).
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh (1974): Về đạo đức của người cán bộ, công
chức thì ta thấy được phạm trù trung tâm là “Đức” và “Tài” và theo Người thì coi
đạo đức là cái gốc, là nền tảng của người cán bộ cách mạng, là “nguồn cội” làm
cho tinh thần cách mạng không bao giờ cạn: “Cũng như sông phải có nguồn mới
có nước, không có nguồn thì sông cạn; cây phải có gốc, không có gốc thì cây khô
héo. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức thì dù có
tài giỏi đến mấy cũng không thể lãnh đạo nhân dân được”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh (1995): Đạo đức cán bộ, công chức là “công
bộc của dân”, là “đầy tớ của dân”, vì “Nước ta là dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách
nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính
quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến
xã do dân tổ chức nên. Tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Đạo
đức cán bộ, công chức chỉ có một mục đích: Vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của
nhân dân; chỉ có một tinh thần: Tận tụy, hy sinh vì dân, vì nước. Như vậy, đạo
đức nghề nghiệp theo quan điểm của Người là cán bộ, đảng viên phải hết lòng,
hết sức phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng; phải đi đầu, đi trước trong mọi công
việc, bởi vậy trong tác phẩm nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa
cá nhân, Người khẳng định: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.
Từ những lý do trên nghĩa rộng ra cái Tâm của cán bộ công chức bao
gồm: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, quan hệ trong công tác, là trung tâm
trong xử trí công việc, trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp xã.