Hành vi sử dụng thực phẩm an toàn của người dân thành phố hà nội nghiên cứu trường hợp tại quận thanh xuân, quận hà đông, thành phố hà nội - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------

NGUYỄN NGỌC DIỆU LINH

HÀNH VI SỬ DỤNG THỰC PHẨM AN TOÀN
CỦA NGƢỜI DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP QUẬN THANH XUÂN,
QUẬNHÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

NGUYỄN NGỌC DIỆU LINH

HÀNH VI SỬ DỤNG THỰC PHẨM AN TOÀN
CỦA NGƢỜI DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP QUẬN THANH XUÂN,
QUẬNHÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC


Chƣơng 2 THỰC TRẠNG HÀNH VI SỬ DỤNG THỰC PHẨM AN TOÀN
CỦA NGƢỜI DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI................................................... 32
2.1. Hành vi lựa chọn thực phẩm an toàn .................................................... 32
2.1.1. Lựa chọn địa điểm, nguồn cung cấp thực phẩm an toàn ................ 32
2.1.2. Thời gian và tần suất mua thực phẩm an toàn ................................ 41
1


2.1.3. Thông tin về thực phẩm an toàn ....................................................... 45
2.2. Hành vi chế biến và lƣu trữ thực phẩm an toàn .................................. 50
2.2.1. Thiết bị chế biến thực phẩm an toàn ................................................ 50
2.2.2. Làm sạch thực phẩm an toàn ............................................................ 52
2.2.3. Quy trình lưu trữ thực phẩm an toàn ............................................... 55
2.2.4. Sử dụng thực phẩm đã chế biến sẵn ................................................. 59
2.3. Những khó khăn khi lựa chọn thực phẩm an toàn cho gia đình ........ 65
2.3.1. Chia sẻ kiến thức về an toàn thực phẩm cho người thân. ............... 65
2.3.2. Những khó khăn khi lựa chọn thực phẩm an toàn ......................... 66
2.4. Sự quan tâm đến thực phẩm an toàn .................................................... 69
2.4.1. Đánh giá mức độ an toàn của thực phẩm hiện nay ......................... 69
2.4.2. Khía cạnh đáng quan tâm nhất của an toàn thực phẩm. ................ 73
2.4.3. Nhu cầu an toàn cho các loại thực phẩm ......................................... 78
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 ................................................................................... 80
CHƢƠNG 3NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HÀNH VI SỬ DỤNG
THỰC PHẨM AN TOÀN CỦA NGƢỜI DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ..... 83
3.1. Ảnh hƣởng của một số đặc điểm nhân khẩu xã hội đến hành vi lựa
chọn thực phẩm an toàn. ............................................................................... 83
3.1.1. Giới tính và mức độ quan tâm đến an toàn thực phẩm ................... 83
3.1.2. Mức thu nhập và hành vi tiêu dùng thực phẩm của người dân ..... 85
3.2. Ảnh hưởng của truyền thông đến hành vi lựa chọn thực phẩm an toàn..... 87
3.2.1. Ảnh hưởng của các chương trình phổ biến kiến thức về TPAT ..... 87

Vệ sinh an toàn thực phẩm

3


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Hành vi lựa chọn địa điểm mua thực phẩm của người dân ................ 36
Bảng 2.2. Quỹ thời gian để mua thực phẩm cho gia đình................................... 43
Bảng 2.3. Số lần mua thực phẩm tươi trong tuần của người dân........................ 44
Bảng 2.4. Phương tiện tìm hiểu thông tin về thực phẩm an toàn của người dân 45
Bảng 2.5. Cách kiểm tra thực phẩm an toàn của người dân ............................... 48
Bảng 2.6. Đánh giá của người dân về mức độ ảnh hưởng của các thiết bị nhà bếp
tới sự an toàn của đồ ăn ....................................................................................... 50
Bảng 2.7. Một số hình thức sơ chế thực phẩm an toàn của người dân ............... 52
Bảng 2.8. Lựa chọn của người dân về vật dụng giữ thực phẩm an toàn trong tủ
lạnh ...................................................................................................................... 55
Bảng 2.9. Địa điểm mua thực phẩm chế biến sẵn của người dân. ...................... 60
Bảng 2.10. Lựa chọn của người dân về vật dụng đựng thực phẩm chế biến sẵn
khi còn nóng ........................................................................................................ 62
Bảng 2.11. Mức độ thường xuyên chia sẻ kiến thức về thực phẩm an toàn với
người thân trong gia đình. ................................................................................... 65
Bảng 2.12. Những khó khăn của người dân trong việc lựa chọn........................ 66
Bảng 2.13. Đánh giá của người dân về mức độ an toàn của thực phẩm hiện nay .... 71
Bảng 2.14. Mức độ ưu tiên các tiêu chí khi lựa chọn thực phẩm. ...................... 74
Bảng 2.15. Nhu cầu an toàn cho một số loại thực phẩm..................................... 78
Bảng 3.1. Tương quan giữa giới tính và mức độ quan tâm đến an toàn thực phẩm
của người dân ...................................................................................................... 84
Bảng 3.2. Tương quan giữa mức thu nhập và hành vi tiêu dùng thực phẩm của
người dân ............................................................................................................. 85
Bảng 3.3. Một số chương trình phổ biến về thực phẩm an toàn ......................... 87

Louis.
Kỹ nghệ thực phẩm phát triển ồ ạt cùng với ngành công nghệ hóa học,
công nghệ sinh học… làm bao người đã từng thở phào tưởng chừng giải quyết
được các vấn đề cơ bản của câu chuyện ăn uống, nhưng rõ ràng các bệnh phát
sinh từ bữa ăn càng gia tăng. Cộng thêm sự vô ý thức về vấn đề vệ sinh an toàn
thực phẩm nói chung của nhiều người tham gia chuỗi cung ứng thực phẩm khiến
người tiêu dùng ngày nay thêm lo lắng mất ăn mất ngủ.
Hiện nay, vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) là vấn đề đang báo động
được toàn xã hội quan tâm, vì nó có tác động trực tiếp thường xuyên đến sức
khỏe, thậm chí đến tính mạng của người tiêu dùng, ảnh hưởng đến phát triển
kinh tế thương mại, du lịch và an sinh xã hội, về lâu dài còn ảnh hưởng đến phát
triển nòi giống dân tộc.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện có hơn 400 các
bệnh lây truyền qua thực phẩm không an toàn, hơn 1/3 dân số các nước phát
triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm. VSATTP đã
được đặt lên hàng đầu nghị trình tại nhiều hội nghị y tế và sức khỏe cộng đồng
toàn cầu, nhưng tình hình gần như không được cải thiện bao nhiêu, nhất là khi
thế giới liên tiếp xảy ra thiên tai và nguồn nước sạch ngày càng hiếm. Khi người
dân không đủ miếng ăn thì việc kiểm tra chất lượng những gì mà họ ăn đã trở
thành điều khá xa vời.
6


Thống kê ngộ độc thực phẩm tại Việt Nam (Theo thống kê của trung tâm
Nghiên cứu Thực phẩm và Dinh dưỡng), mỗi năm Việt Nam có chừng 250 - 500
vụ ngộ độc thực phẩm với 7.000 - 10.000 nạn nhân và 100 – 200 ca tử vong.
Nhà nước cũng phải chi trên 3 tỉ đồng cho việc điều trị, xét nghiệm và điều tra
tìm nguyên nhân. Tiền thuốc men và viện phí cho mỗi nạn nhân ngộ độc do vi
sinh vật tốn chừng 300.000 – 500.000 đồng, các ngộ độc do hóa chất (thuốc trừ
sâu, phẩm màu…) từ 3 – 5 triệu đồng, nhưng các chi phí do bệnh viện phải chịu

dân Việt Nam đã phát triển sản xuất nhiều mặt hàng hơn như rau, gạo, hoa quả,
mật ong, thịt, thủy sản…
Qua tìm hiểu, cho thấy các công trình nghiên cứu về vấn đề ATTP còn ít,
nghiên cứu về hành vi sử dụng thực phẩm an toàn của người dân cũng vậy. Vì
thế, tác giả quyết định thực hiện đề tài “Hành vi sử dụng thực phẩm an toàn
của người dân thành phố Hà Nội”(Nghiên cứu trường hợp tại hai quận Thanh
Xuân và quận Hà Đông) làm luận văn tốt nghiệp bậc cao học. Tác giả thực hiện
đề tài với mục đích góp phần xây dựng cách nhìn cũng như hành vi sử dụng thực
phẩm của người dân thành phố Hà Nội, nhất là đối với thực phẩm đã được gán
mác an toàn. Từ đó cũng đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao sự quan tâm
cũng như các chế tài của Nhà nước đối với việc tiêu dùng thực phẩm an toàn,
nhằm bảo vệ sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
2. Ý nghĩa của đề tài
2.1. Ý nghĩa lý luận
Vận dụng một số lý thuyết xã hội học như: Lý thuyết cấu trúc - chức
năng, lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết sự lựa chọn hợp lý, lý thuyết hành vi
xã hội để phân tích hành vi sử dụng thực phẩm an toàn của người dân thành phố.
Vì vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài được coi là một luận chứng góp phần làm
sáng tỏ hơn những lý thuyết đó.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu thực hiện nhằm góp phần cung cấp thông tin cho các nhà
khoa học, các cán bộ địa phương về thực trạng thực phẩm an toàn và thực trạng
sử dụng thực phẩm an toàn của người dân hiện này. Đồng thời, nghiên cứu này
còn giúp cộng đồng nâng cao nhận thức và hiểu biết về thực phẩm an toàn hiện
nay trên thị trường. Ngoài ra, kết quả của đề tài có thể làm nguồn tài liệu tham
8


khảo cho sinh viên, học viên cao học ngành xã hội học, cũng như những cá nhân
quan tâm đến vấn đề này.

đình. Trong nội dung nghiên cứu về chế biến thức ăn và kỹ năng nấu ăn để đảm
bảo dinh dưỡng, đảm bảo sức khỏe. Nghiên cứu đã chỉ ra người trả lời đã chủ
động hơn trong việc giảm dầu mỡ trong nấu ăn, tích cực sử dụng cách chế biến
thức ăn như: hấp, nướng, luộc và tăng lượng tiêu thụ trái cây, rau xanh. Bên
cạnh đó, các cách sử dụng dụng cụ để chế biến thực phẩm đa dạng, nghiên cứu
này cũng đề cập đến sự thay đổi giá trị của thực phẩm qua các công cụ chế biến
như: lò vi sóng. Như vậy, trong đề tài này của Viện Nghiên cứu chính sách Anh
Quốc đã có những nội dung nghiên cứu gần giống như đề tài của tôi, như về việc
chế biến thực phẩm hay cách lựa chọn thực phẩm, v.v… Đề tài này đã đưa ra
những quan tâm của mình với hành vi tiêu dùng thực phẩm sao cho có lợi cho
sức khỏe người tiêu thụ thực phẩm.
Trong đề tài “Nghiên cứu nhận thức và thực hành an toàn thực phẩm
trong các hộ gia đình ở Trinidad” (2005), được nghiên cứu bởi tác giả Deryck
Damian Pattron. Tác giả là nhà nghiên cứu với nhiều mối quan tâm và cho ra đời
rất nhiều nghiên cứu về thực phẩm, sự an toàn của thực phẩm và sử dụng thực
phẩm để nâng cao sức khỏe con người. Trong tác phẩm này, tác giả đã tiến hành
nghiên cứu tại 350 hộ gia đình sống tại Trinidad – Đông Ấn Độ nhằm đánh giá
nhận thức về thực hành an toàn thực phẩm. Kết quả nghiên cứu cho thấy¸ có
95% hộ gia đình chưa biết cách chế biến biến, vận chuyển, tồn trữ và bảo quản
thực phẩm an toàn. Nghiên cứu cũng chỉ ra cho ta thấy, có 98% hộ gia đình
không rửa tay trước khi chế biến thực phẩm và trước khi ăn. Và chỉ có 45% bếp
nấu ăn gia đình là sạch sẽ, vệ sinh. Việc vệ sinh các vật dụng chế biến thực
phẩm như: dao, kéo, thớt, … được thực hiện giữa các lần sử dụng và sử dụng
giữa các loại thực phẩm khác nhau chiếm 57% số hộ gia đình được nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu của đề tài này cho thấy việc thực hiện ATTP của các hộ gia
đình tại Trinidad chưa đạt tiêu chuẩn cơ bản để đảm bảo sức khỏe. Từ đó, việc
nâng cao nhận thức về an toàn thực phẩm cho người dân bằng việc mở các lớp
giáo dục cộng đồng là rất cần thiết. Từ đề tài này, tác giả nhận thấy có những sự
tương đồng về nội dung nghiên cứu với đề tài của mình.
10

tài thạc sỹ của tôi. Kết quả của đề tài này chỉ ra, người dân khi mua sản phẩm có
đọc các thông tin trong nhãn mác nhưng hầu như không hiểu chúng là 19%. Họ
11


mua các sản phẩm chủ yếu tại các siêu thị hay các cửa hàng chiếm 20%, còn
mua hàng tại các chợ địa phuơng không nhiều chiếm 14%. Khi mua các sản
phẩm họ mua vì sức khỏe của mình là chủ yếu chứ không quan tâm nhiều đến
thương hiệu, hay vì thương hiệu mà mua hàng. Nhóm tác giả còn chỉ ra, trên 3040% thu nhập của người dân ở tầng lớp trung bình là cho việc tiêu dùng thức ăn,
thực phẩm. Và người dân có xu hướng tiêu dùng thực phẩm hữu cơ (59%), và
càng ngày càng giảm sự tiêu dùng cho thịt.
Đề tài “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh an toàn thực
phẩm của người tiêu dùng thực phẩm tại huyện Châu Thành năm 2012” –
Trương Văn Dũng. Tác phẩm đã đặt ra 2 mục tiêu nghiên cứu: một là, mô tả
kiến thức, thái độ, thực hành của người tiêu dùng thực phẩm tại huyện Châu
Thành; hai là, xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành
của người tiêu dùng thực phẩm. Tác giả thực hiện nghiên cứu trên mẫu gồm 700
người trên 18 tuổi tại huyện Châu Thành. Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ
người có kiến thức đúng là 90,14%, tỷ lệ người có thái độ đúng là 84,14%, tỷ lệ
người có thực hành đúng là 89,14%. Tác giả đưa ra một số mối liên quan đến
kiến thức, thái độ, hành vi như sau: mối liên quan giữa kiến thức đúng với các
yếu tố độ tuổi, học vấn, thời gian tham gia nội trợ, thu nhập kinh tế; mối liên hệ
giữa độ tuổi và thực hành đúng với các yếu tố học vấn, nghề nghiệp, thời gian nội
trợ, thu nhập, kinh tế và nhà ở. Nghiên cứu này cũng chỉ rõ ra rằng: tỷ lệ người
tiêu dùng trong huyện có kiến thức, thái độ và thực hành khá tốt về vệ sinh ATTP,
cần tăng cường công tác tuyên truyền trực tiếp và tập trung vào nhóm người tiêu
dùng dưới 30 tuổi, người có học vấn thấp, người nông dân, người có kinh tế thấp
không ổn định, hộ nghèo và cận nghèo.
Trong đề tài “Understanding markets trends and consumers in Vietnam”
(Tìm hiểu xu hướng thị trường và tiêu dùng ở Việt Nam), do tổ chức IES

những khuyến nghị nhằm giúp người dân có sự lựa chọn đúng đắn thực phẩm
cho gia đình, nâng cao chất lượng cuộc sống.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu hành vi tiêu dùng thực phẩm và thực phẩm an toàn của người
dân thành phố Hà Nội, bao gồm: địa điểm mua hàng, cách thức mua hàng, sự
lựa chọn thực phẩm, chế biến và bảo quản thực phẩm an toàn, đến hành vi tiếp
cận thông tin về thực phẩm an toàn.
13


Bên cạnh đó, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua thực phẩm
an toàn của người dân, như: tuổi, giới tính, học vấn, kinh tế gia đình.
Từ đó, đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao hành vi sử dụng thực
phẩm an toàn của người dân thành phố Hà Nội.
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Hành vi sử dụng thực phẩm an toàn của người dân thành phố Hà Nội.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Người dân sống tại thành phố Hà Nội, chủ yếu người dân trong hai quận
Thanh Xuân và quận Hà Đông.
5.3. Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: quận Hà Đông và quận Thanh Xuân, thành phố
Hà Nội. Hai quận này, có lượng dân trong độ tuổi lao động cao, đặc điểm công
việc của dân cư đa dạng. Như vậy sẽ tìm hiểu được hành vi sử dụng thực phẩm
an toàn của người dân ở mọi ngành nghề công tác và ở các điều kiện kinh tế
khác nhau.
Thời gian nghiên cứu: tháng 5 năm 2016 – tháng 5 năm 2017
Nội dung nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu hành vi sử dụng thực
phẩm an toàn trên các khía cạnh: hành vi mua và sử dụng cũng như chế biến
thực phẩm, nhất là thực phẩm an toàn trong các gia đình của người dân thành

Trong đó:

Nt² x pq
N² + t² pq

n: Dung lượng mẫu cần chọn
N: Tổng thể nghiên cứu
t: Hệ số tin cậy của thông tin
: Phạm vi sai số chọn mẫu
Pq: Phương sai của tiêu thức thay phiên (0,25)

Do p+q = 100% =1 và p=q-1 (tức là p = q = 0,5 và pq = 0,25)
Trong 524.491 người, với yêu cầu mức độ tin cậy là 99,7% (t = 3), sai số
không vượt quá 10% (0,1). Áp dụng công thức trên ta có:
n=

524.491 x 3² x 0,25
524.491 x 0,1² + 3² x 0,25

= 224 (người)

Từ kết quả trên, với tình hình số lượng dân cư thực tế của hai quận nên
tác giả đã phát ra 250 phiếu để khảo sát điều tra thông tin.Tính đại diện của
15


thông tin được đảm bảo bằng cách phân chia đồng đều các bảng hỏi tới những
người dân tại các phường trong 2 quận này.Sau đó số phiếu thu về được 242
phiếu để thu thập xử lý số liệu.
Sau khi thu thập thông tin bằng bảng hỏi, tác giả đã thống kê được cơ

sao? Kiến thức về thực phẩm an toàn của người dân như thế nào?
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc lựa chọn thực phẩm an toàn của
người dân?
7.2. Giả thuyết nghiên cứu
Người dân có xu hướng lựa chọn thực phẩm rõ nguồn gốc, trong thời hạn
sử dụng tốt nhất và quan tâm đến thành phần dinh dưỡng.
Người dân quan tâm của đến chất lượng bữa ăn hàng ngày thông qua hành
vi chế biến, bảo quản, lưu trữ thực phẩm an toàn cho gia đình.
Một số yếu tố tác động đến hành vi tiêu dùng thực phẩm của người dân
như: trình độ học vấn, giới tính, thu nhập, nghề nghiệp…
8. Khung lý thuyết
Điều kiện Kinh tế - Xã hội

-

Thu nhập
Giới tính
Học vấn
Nghề
nghiệp

Lựa chọn thực
phẩm an toàn

Hành vi sử dụng thực phẩm an
toàn của người dân

Chế biến, bảo
quản, lưu trữ
thực phẩm an

Nói tóm lại, hành vi là một chuỗi các hành động lặp đi lặp lại hay hành vi
là cách ứng xử của con người đối với một sự kiện, sự vật, hiện tượng trong một
hoàn cảnh, tình huống cụ thể, nó được thể hiện bằng lời nói, cử chỉ, hành động
nhất định. Điều này được hình thành và thúc đẩy dựa trên hệ thống các nhu cầu
của con người. Hành vi con người hàm chứa các yếu tố kiến thức, thái độ, niềm
tin, giá trị xã hội cụ thể của con người, các yếu tố này thường đan xen nhau, liên
kết chặt chẽ với nhau. Trên thực tế, hành động của chúng ta thường khác với
những gì chúng ta quan niệm. Hành vi của con người được quy định bởi năm
loại yếu tố như sau: cấu trúc vật chất; các cảm thọ đến từ môi trường; các sự
tưởng tượng; các hành vi đã qua; và tâm thức, bao gồm ý thức, tiềm thức và vô
thức. Trong đề tài này, hành vi là hành động lựa chọn địa điểm, nơi cung cấp
thực phẩm an toàn; hành động chế biến, bảo quản, lưu trữ thực phẩm an toàn và
nhận thức của người tiêu dùng về thực phẩm an toàn.
1.1.2. Thực phẩm
Thực phẩm hay còn được gọi là thức ăn là bất kỳ vật phẩm nào, bao gồm
chủ yếu các chất: chất bột, chất béo, chất đạm, hoặc nước, mà con người hay
động vật có thể ăn hay uống được, với mục đích cơ bản là thu nạp các chất dinh
18


dưỡng nhằm nuôi dưỡng cơ thể hay vì sở thích. Khái niệm thực phẩm lại tùy
thuộc vào mỗi vùng miền mỗi con người.
Các thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật, động vật, vi sinh vật hay các
sản phẩm chế biến từ phương pháp lên men như rượu, bia. Mặc dù trong lịch sử
thì nhiều nền văn minh đã tìm kiếm thực phẩm thông qua việc săn bắn và hái
lượm, nhưng ngày nay chủ yếu là thông qua trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt và
các phương pháp khác.
Phần lớn các nền văn hóa đều có nghệ thuật ẩm thực. Văn hóa ẩm thực là
một tập hợp cụ thể của các truyền thống, thói quen, sở thích, cách thức chọn lựa
thực phẩm và tập quán trong nấu ăn. Việc nghiên cứu các khía cạnh của ẩm thực

động vật sống không được nuôi bằng kháng sinh và hooc môn tăng trưởng
(Organic Foods Production Act, 1990).
Theo như Gracia và Magistris (2007), mục đích của thực phẩm an toàn là
để loại bỏ những hóa chất độc hại trong thực phẩm để tăng cường độ bổ dưỡng
và an toàn cho thực phẩm. Thêm vào đó thực phẩm an toàn cũng được xác định
là thực phẩm được sản xuất không sử dụng hóa chất, thuốc trừ sâu độc hại, chất
làm màu mỡ, thuốc diệt cỏ. Quá trình sản xuất và nuôi trồng thực phẩm an toàn
sử dụng những phương pháp toàn diện như bón phân, luân canh, vi sinh vật theo
quá trình phát triển tự nhiên của vật nuôi hay cây trồng.
Hiệp hội tiêu chuẩn thực phẩm an toàn thuộc Bộ nông nghiệp Mỹ
(USDA) năm 2000 đã thiết lập tiêu chuẩn quốc gia cho thuật ngữ “ thực phẩm
an toàn”. Họ đã khẳng định thực phẩm an toàn được xác định bởi những yếu tố
mà nó không được có trong quá trình sản xuất chứ không phải là những yếu tố
phải có. Ví dụ thực phẩm an toàn phải được nuôi trồng trong điều kiện môi
trường trong sạch, rau quả không được trồng trong điều kiện nước thải độc hại,
không được dùng các chất làm màu mỡ tổng hợp, thuốc trừ sâu, công nghệ biến
đổi gen, hóc môn tăng trưởng, phóng xạ và kháng sinh.
Theo Tổ chức nông nghiệp và thực phẩm thế giới (FAO), thực phẩm an
toàn là những thực phẩm được nuôi trồng trong điều kiện tự nhiên không có hóa
chất, kháng sinh, công nghệ biến đổi gen hay bất kỳ hóa chất tổng hợp nào.
Tóm lại, trong luận văn này này tác giả sẽ sử dụng khái niệm của Perry và
Schultz (2005), Thực phẩm an toàn là những loại thực phẩm được nuôi trồng và
20


sản xuất trong điều kiện không sử dụng các chất làm màu mỡ nhân tạo, thuốc trừ
sâu, thuốc làm tăng trưởng, thuốc tăng trọng cho vật nuôi và các chất biến đổi
gen nhằm đảm bảo tính nguyên vẹn của sản phẩm đầu ra.
1.1.4. Hành vi sử dụng thực phẩm an toàn
Hành vi sử dụng thực phẩm an toàn hay còn gọi là hành vi tiêu dùng thực

là hành vi được chủ thể gắn cho một ý nghĩa chủ quan nhất định.Nói cách khác,
hành động xã hội là những hành động có ý thức, chủ thể hiểu được mình định
thực hiện hành động gì, và sẽ thực hiện nó như thế nào, khác hẳn những hành
động bản năng - sinh học. Đối chiếu với cách lựa chọn thực phẩm an toàn,
chúng ta thấy cũng hoàn toàn không phải hành động bản năng - sinh học (như ăn
uống, ngủ, nghỉ), mà còn là hành động có sự tham gia của ý thức, thể hiện ở sự
lựa chọn của chủ thể về nhiều khía cạnh. [7] Nghĩa là, hành vi lựa chọn thực
phẩm an toàn chính là một dạng hành động xã hội.
Khi nói tới hành động xã hội, người ta đều hiểu rằng đó là loại hành động
có liên quan đến người khác trên cơ sở định hướng và lí giải có tính chủ quan
của chủ thế hành động. Về mặt phương pháp luận, chủ thể nhận thức cần phân
biệt hai nội dùng hành động đó là cái “Ý” và cái “Nghĩa”. Cái “Ý” liên quan đến
việc lí giải thế giới nội tâm, tinh thần của cá nhân, cái “Nghĩa” liên quan đến
việc lí giải và dự đoán khả năng phản ứng từ phía người khác trong tình huống
hành động.
Trong quan hệ xã hội, con người phải thực hiện các hành động xã hội trên
nguyên tắc thông hiểu là thấu hiểu tình huống hành động, động cơ, mục đích,
phương tiện hành động trên cơ sở của tri thức kinh nghiệm. Trong quá trình
hành động, từ tron thế giới nội tâm, chủ thế hành động không những chịu sự tác
động của các yếu tố duy lý mà còn chịu sự tác động của các yếu tố phi lí nhưu
tình cảm, xúc cảm, ý chí. Do vậy sự tách bạch giữa các yếu tố duy lý và phi lí là
rất khó khăn. [8]
Vậy theo mô hình hành động xã hội theo các nhà xã hội học đưa ra thì hành
động xã hội gồm chủ thế, nhu cầu của chủ thể, hoàn cảnh hay chính môi trường
của hành động. Trong đó nhu cầu của chủ thể tạo ra động cơ thúc đẩy hành động
để thỏa mãn nó và tùy theo từng hoàn cảnh hành động, môi trường hành động,
các chủ thế hành động sẽ lựa chọn phương án tối ưu nhất với họ.
22



23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status