Phòng, chống suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên hiện nay theo tư tưởng hồ chí minh - Pdf 52

U
TR

N

N

O

V N

NV N

Ỗ T Ị N UN

P ÒN ,
ỐN SUY T OÁ
O Ứ

ÁN B , ẢN V ÊN ỆN N Y
THEO T T ỞN

ÍM N

LUẬN V N T



N

ÍN


UYÊN N

O Ứ

V ÊN ỆN N Y

ÍM N

N :

ÍN

TRỊ

M s : 60310201

LUẬN V N T



ÍN

N

N
P S.TS. L

N


hươn 1. T
T OÁ
ẢN

O

T ỞN





ÁN B ,



Í MN
ẢN

VỀ P ÒN ,
V ÊN TRON

ỐN
ỀU

SUY
ỆN

ẦM QUYỀN ..................................................................................... 9


hợp trong phòng chống suy thoái đạo đức .............................................. 40
* T ểu kết chươn 1 ................................................................................... 43


hươn 2. T Ự TR N V
O Ứ




Ả P ÁP P ÒN

ÁN B , ẢN

V ÊN

ỐN SUY THOÁI

ỆN N Y T EO T

T ỞN

Í M N ............................................................................................... 44

2.1. Thực trạn phòn , ch n suy tho

đạo đức của c n bộ, đản

viên ............................................................................................................. 44
2.1.1. Thành tựu trong phòng, chống suy thoái đạo đức ........................ 44

ẾT LUẬN .................................................................................................. 103
N

MỤ T

L ỆU T

M

ẢO ................................................... 105


MỞ ẦU
1. Lý do chọn đề tà
Sinh thời, hủ tịch ồ hí Minh luôn quan tâm đặc biệt đến công tác giáo
dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm cho họ trở thành những người vừa
có tài, vừa có đức để phục vụ Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

ồ hí Minh cho

rằng, mỗi người cán bộ, đảng viên muốn hoàn thành thành tốt nhiệm vụ cách
mạng vẻ vang, muốn được dân tin, dân yêu thì cái tài, cái đức của họ phải hòa
quyện vào nhau, kết hợp chặt chẽ với nhau, trong đó, đức phải là “gốc”, là “nền
tảng”. Người khẳng định: “ ũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có
nguồn thì sông cạn.

ây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách

mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không
lãnh đạo được nhân dân” [31, tr.14]. Từ sau thắng lợi của

1


mục tiêu, lý tưởng của

ảng, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ

Nhân dân. Song, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng
viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tình trạng quan liêu,
tham nhũng, lãng phí, kèn cựa địa vị, bè phái, chạy chức, chạy quyền, độc
đoán, vi phạm kỷ luật …diễn ra ngày một nghiêm trọng. Những hiện tượng
tiêu cực này ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng lực, uy tín, vai trò lãnh đạo,
giảm sút sức chiến đấu của

ảng và tính tiền phong gương mẫu của người

đảng viên, làm mục ruỗng bộ máy

ảng, Nhà nước từ bên trong, nhất là đối

với những cán bộ lãnh đạo, quản lý có chức, có quyền.

ó cũng là điều kiện

để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá chế độ.
Tại

ại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI ,

ảng ộng sản Việt Nam


2


trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, xây dựng
đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chiến lược đủ năng lực, phẩm chất,
ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong
nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan
liêu”. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu tư tưởng ồ hí Minh về phòng, chống
suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên nước ta hiện nay là nhiệm vụ có ý
nghĩa rất quan trọng.
iện nay, tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về vận dụng tư tưởng


hí Minh về phòng, chống suy thoái đạo đức cán bộ, đảng viên và vận

dụng tư tưởng ồ hí Minh về phòng, chống suy thoái đạo đức vào thực tiễn
hiện nay. Song, chưa có công trình khoa học nào luận giải, đánh giá, kiến
nghị những giải pháp phòng, chống suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên
một cách có hệ thống theo tư tưởng



hí Minh từ góc tiếp cận chính trị

học. Với những lý do chủ yếu trên, tôi chọn đề tài: “Phòng, chống suy thoái
đạo đức của cán bộ, đảng viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tổn quan tình hình n h ên cứu l ên quan đến đề tà


uốc gia



hí Minh làm chủ


nhiệm; đề tài “Nâng cao tầm trí tuệ của
mới” do tác giả Nguyễn Văn

ảng nhằm đẩy mạnh sự nghiệp đổi

òa, Ban Khoa giáo Trung ương (nay là Ban

Tuyên giáo Trung ương) làm chủ nhiệm; đề tài “Vấn đề đảng viên và phát
triển ảng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, của tác
giả Mạch

uang Thắng,

ọc viện hính trị quốc gia

vấn đề lý luận về xây dựng

ảng đối với một

ồ hí Minh; “Một số

ảng cầm quyền lãnh đạo xây

H

M



ềp ò



bộ

Nghiên cứu đề tài tư tưởng ồ hí Minh về phòng, chống suy thoái đạo
đức của cán bộ đảng viên tác giả Phạm Minh ạc có công trình “Xây dựng con
người Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong điều kiện kinh tế thị
trường mở cửa và hội nhập quốc tế”. Tuy nhiên, công trình được nghiên cứu từ
năm 2008, cho đến nay đã có rất nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra với những khó
khăn, phức tạp trong phòng, chống suy thoái đạo đức của cán bộ đảng viên đòi
hỏi cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu để có những giải pháp phòng, chống suy
thoái đạo đức của cán bộ đảng viên phù hợp hơn trong giai đoạn mới.

4


i sâu nghiên cứu phòng, chống phòng, chống suy thoái đạo đức của cán
bộ đảng viên, trong đề tài độc lập cấp Nhà nước T L - 2003/17 “Nghiên cứu,
phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của

ảng


ơ



4

XI” Nhà xuất bản hính trị quốc gia, à

Nội, 2012, đã trình bày những vấn đề chung về suy thoái tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống và những biểu hiện của nó.

uán triệt sâu sắc Nghị quyết

Trung ương 4 khóa X , tác giả đã đánh giá, phân tích thực trạng, nguyên
nhân, đồng thời đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm phòng, chống suy thoái
tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên hiện nay.
Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Thế (2008), “Một số vấn đề cấp thiết
trong phòng chống suy thoái đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay
theo Tư tưởng



hí Minh”,

p



ý





9; oàng Trang (2006), “Phòng chống tham nhũng

hiện nay nhìn từ tư tưởng đạo đức ồ hí Minh”,

p

ửĐ

5;

ức Vượng, “ hống tham ô, lãng phí, quan liêu - một tư tưởng lớn của hủ tịch
ồ hí Minh”, Báo Nhân dân ngày 18/5/2006; Trần Thị iền (2005): “Bác ồ
nói về tham nhũng và chống tham nhũng”,

p



1; Nguyễn uốc

Bảo (2006), “ ồ hí Minh bàn về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí”,
p

ý
Đ

7; Trương Vĩnh Trọng (2007),

ồ hí Minh về phòng, chống suy thoái đạo

ảng viên và vận dụng tư tưởng

chống suy thoái đạo đức cán bộ,



hí Minh về phòng,

ảng viên vào thực tiễn sự nghiệp đổi mới,

nhưng do tính thời sự, tầm quan trọng của vấn đề, nhất là yêu cầu cấp bách

6


của thực tiễn đặt ra, nên tác giả quyết định tiếp tục lựa chọn và đi sâu nghiên
cứu đề tài luận văn thạc sĩ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống suy
thoái đạo đức của cán bộ, Đảng viên hiện nay” từ góc tiếp cận chính trị học
học nhằm giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách này.
2.2. Những vấn đề luận văn sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu
- Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu quan điểm của ồ hí Minh về
suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên; trên cơ sở đó phân tích, đánh giá và
xác định những vấn đề đặt ra, cần giải quyết.
- Vận dụng tư tưởng ồ hí Minh, đề xuất một số giải pháp nhằm giải
quyết những vấn đề đặt ra trong phòng, chống suy thoái đạo đức của cán bộ,
ảng viên hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn và đề


hí Minh và đường lối của

ảng về xây dựng đội ngũ cán bộ,

đảng viên; về phòng chống suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên trong xây
dựng và chỉnh đốn ảng.
Luận văn chú trọng tổng kết thực tiễn, tham khảo kết quả nghiên cứu
của các công trình khoa học có liên quan đến đề tài trong những năm gần đây
ở nước ta.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành
và liên ngành trong khoa học xã hội và nhân văn như phương pháp lôgic, lịch
sử, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, gắn lý luận với thực tiễn, v.v., để
thực hiện mục đích và nhiệm vụ của luận văn đặt ra.
6. ón

óp của luận văn

Góp phần làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về suy thoái đạo đức và phòng,
chống suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên.
Làm rõ những biểu hiện suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên hiện
nay, phân tích nguyên nhân của thực trạng đó.
Cung cấp những giải pháp có thể tham khảo trong phòng, chống suy
thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo trong nghiên cứu,
giảng dạy, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh ở các học viện, nhà trường.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 02 chương, 05 tiết

1.1.1. Quan niệm về suy thoái đạo đức
Suy thoái là tình trạng suy giảm, sút kém dần về số lượng và chất lượng
so với mức độ, trạng thái, chuẩn mực đã đạt được. Sự suy thoái thường diễn
ra từ từ, thầm lặng, trong một quá trình lâu dài, không đột ngột, không dễ
nhận thấy. Nó bắt đầu xảy ra ở một hoặc vài bộ phận cấu thành nào đó, khi
không được ngăn chặn kịp thời sẽ loang dần ra kéo theo các bộ phận khác.
Xét một cách tổng quát, suy thoái là quá trình biến đổi về lượng theo chiều
hướng xấu, dần dần dẫn đến sự biến đổi về chất, cuối cùng là sự biến mất, sự
tan rã và chuyển hóa thành chất khác.
Suy thoái đạo đức nói chung được hiểu là sự biến đổi về phẩm chất đạo
đức của mỗi người, mỗi tổ chức xã hội theo chiều hướng xấu dần. Suy thoái
đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với suy thoái tư tưởng - chính trị, lối sống.
iện nay, suy thoái đạo đức biểu hiện ở chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực
dụng, vụ lợi, vị kỷ; tệ tham nhũng, hối lộ, bòn rút, lãng phí của công; lối sống
cơ hội, buông thả; tình trạng lời nói không đi đôi với việc làm; tệ quan liêu,
xa dân,…Trước xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự tác động tiêu cực
của mặt trái kinh tế thị trường càng làm cho tình trạng suy thoái đạo đức trong
cán bộ, đảng viên diễn ra phức tạp, gây ra hậu quả xấu trên nhiều mặt, đe dọa
đến sự ổn định về chính trị và sự tồn vong của chế độ.
Vấn đề đạo đức được

ồ hí Minh đề cập đến một cách toàn diện. Tư

tưởng ồ hí Minh đặc biệt được mở rộng trong lĩnh vực đạo đức của cán bộ,
đảng viên, nhất là khi ảng đã trở thành ảng cầm quyền. Trong bản Di chúc

9


bất hủ, Người viết: “ ảng ta là một

ảng và trong mỗi cán bộ đảng viên đều do chủ nghĩa cá nhân. hủ nghĩa cá
nhân là một loại giặc, nó còn ác hơn cả giặc ngoại xâm. Bởi vì, chủ nghĩa cá
nhân ở ngay trong con người ta, trong tổ chức của ta, không thể dùng súng, dùng
lựu đạn để tiêu diệt nó. ấu tranh chống nó cực kỳ khó khăn và phức tạp. Vì chủ
nghĩa cá nhân mà một bộ phận cán bộ, đảng viên sinh ra các bệnh sau:
B



:

ồng chí mình mắc khuyết điểm, lẽ ra phải kỷ luật với

một hình thức tương xứng, nhưng vì cảm tình nên chỉ phê bình qua loa cho
xong chuyện. Thậm chí có nơi còn che đậy cho nhau, lừa dối cấp trên, giấu
giếm đoàn thể. ó trường hợp cấp trên cử đoàn kiểm tra về, lại tìm mọi cách
mua chuộc cả đoàn kiểm tra. Sự thật không được phanh phui, cái xấu vẫn
được dung dưỡng - một mầm bệnh nan y bắt đầu phát triển.

uần chúng

không chỉ nghi ngờ sự sai phạm từ đơn vị, từ tổ chức mà còn nghi ngờ, thiếu
tin cả hệ thống tổ chức.

10


B

é bè é



: Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc,

chỗ chính, không từ dưới làm nên. Làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được
thì ít, suýt ra thì nhiều, để làm báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng
tuếch. ồ hí Minh coi đây là một loại bệnh nguy hiểm.
B
ú

b
ã ọ

b

ú

ơ

. Do chạy theo thành tích mà vẽ vời, khoa

trương, dối trá. Những khuyết điểm, hạn chế thì giấu giếm, đậy điệm lại, còn
thành tích thì thổi lớn lên, để được khen, được nhận danh hiệu này, huân
chương nọ, nhưng tai hại vô cùng.

11


B


ảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm
, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

1.1.2. Biểu hiện suy thoái đạo đức
Mộ




ĩ







hí Minh nói rõ nguyên nhân sâu xa, bao trùm của căn bệnh nêu

trên, theo ồ hí Minh là chủ nghĩa cá nhân - một thứ trở lực nằm ngay trong
mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi con người.

ồ hí Minh chỉ rõ: hủ nghĩa cá

nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống
dốc. Không ít cán bộ, đảng viên không chỉ suy giảm mà đã đánh mất lý tưởng

12




ảng Lao động Việt Nam ngày 3-2-1969, Người đã chỉ rõ

những tật bệnh bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân: “ hủ nghĩa cá nhân đẻ ra
trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô,
lãng phí… Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này
bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng ham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân
mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân.

13

hủ nghĩa cá


nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội, Người cách mạng phải tiêu
diệt nó”[33, tr.611].
H

ắ b

ộ bò

ú

ã

p

Nạn tham nhũng, hối lộ, bòn rút, lãng phí của công chưa được ngăn
chặn, thậm chí ở một số lĩnh vực có chiều hướng gia tăng cả về quy mô, mức

hính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình

cũng là tham ô.

ứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là: ăn cắp của công,

khai gian, lậu thuế” [ 12, tr.355 – 356].

14


Thông qua cách giải thích đơn giản, ồ hí Minh đã chỉ rõ cho cán bộ
và nhân dân ta thấy rõ thế nào là tham ô. Theo quan điểm của

ồ hí Minh

thì đối tượng tham ô bao gồm cả cán bộ và nhân dân, mặc dù các hành động
có thể khác nhau nhưng các hành động đó đều là ăn cắp của công thành của
tư, còn cán bộ thì còn ăn bớt của bộ đội và đục khét nhân dân, đó là hành
động xấu xa mà

ảng và nhân dân ta cần phải phòng, chống.Ngoài việc giải

thích thế nào là tham ô, ồ hí Minh còn chỉ rõ các hình thức biểu hiện tham
ô của cán bộ và nhân dân ta.
Trong tác phẩm " ần, kiệm, liêm, chính",
“Liêm là trong sạch, không tham lam”.





ồ hí Minh đã chỉ rõ vấn đề này và lấy ví dụ cụ thể để cho cán bộ và

15


nhân dân ta nhìn nhận rõ. Trong bài phát động sản xuất và tiết kiệm năm
1952, Người giải thích: “… Nói đến tham ô, có người chỉ nghĩ đến ăn cắp
của công làm của tư mà không thấy thứ tham ô gián tiếp. Thí dụ một cán bộ,
hính phủ, nhân dân trả lương hàng tháng đều cho, nhưng lại kém lòng trách
nhiệm, đứng núi này trông núi nọ, làm việc chậm chạp, ăn cắp giờ của hính
phủ, của nhân dân” [30, tr.435].
Theo



hí Minh, trong ba kẻ thù tham ô, lãng phí, quan liêu, thì

tham ô là kẻ thù nguy hiểm nhất, bởi nó là hành động xấu xa nhất, tội lỗi đê
tiện nhất trong xã hội. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám.
Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng,

ồ hí Minh thường xuyên nhắc

nhở cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hành tiết kiệm, chống tham ô.
gần cuối đời, trong thư gửi Ban chấp hành
Nghệ

n vào ngày 21 tháng 7 năm 1969,


hỉ trong một thời ngắn nhân dân cả nước đã tự đóng góp

được 370 kg vàng 20 triệu đồng vào

uỹ độc lập và 40 triệu vào quỹ quốc

16


phòng, thông qua đó góp phần xây dựng nguồn tài chính của đất nước ngày
càng phát triển.

ồ hí Minh khẳng định: “ ủa công là do mồ hôi nước mắt

của đồng bào góp lại” [40, tr.458], vì vậy, ồ hí Minh đề nghị cán bộ và bộ
đội phải thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí.
Nếu để xảy ra tham ô sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân đối với
ảng, ảnh hưởng đến tiền đồ của cách mạng. Trong bài Thực hành tiết kiệm,
chống tham ô, lãng phí, quan liêu,

ồ hí Minh khẳng định rằng: “Tham ô,

lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của hính
phủ. Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm
trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta” [30, tr.357].
ồng thời, Người cũng chỉ rõ tham ô dù cố ý hay không, cũng là bạn
đồng minh của thực dân và phong kiến. Vì nó làm chậm trễ công cuộc kháng
chiến và kiến quốc của ta. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ
của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính.
ể kháng chiến thắng lợi, xây dựng nước nhà, chiến sĩ thì hy sinh




ồ hí Minh đã nhiều lần bàn đến căn bệnh nói không đi đôi với làm.
Người chỉ ra “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì theo lối quan chủ,
miệng thì nói phụng sự quần chúng nhưng họ lại làm trái với lợi ích của quần
chúng, trái ngược với những phương châm và chính sách của

ảng và chính

phủ trước nhân dân” [12,tr.176].
ồ hí Minh cho rằng, một số cán bộ, đảng viên nói nhiều, làm ít, nói
mà không làm, “nói một đằng, làm một nẻo”, nói và làm sai nghị quyết, thậm
chí phát ngôn tùy tiện, vô nguyên tắc. ó người giữ vị trí lãnh đạo cao trong
ảng, bộ máy nhà nước khi đang đương chức nói khác, khi nghỉ hưu nói khác,
thậm chí ngay sau khi nhận quyết định nghỉ hưu đã đưa ra những tuyên bố trái
ngược với những điều mình từng nói trước đây. Nguy hại hơn, một số cán bộ,
đảng viên còn dung túng, a dua, kích động nhân dân biểu tình, gây rối, tán phát
tài liệu xấu, gieo rắc nghi ngờ, bất mãn trong nội bộ tổ chức đảng và nhân dân.
ồ hí Minh chỉ ra: lời nói đi đôi với việc làm tức là nói thì phải làm là
sự thể hiện thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tư tưởng và hành động, nhận
thức và việc làm. ối với mỗi người để thực hiện việc thống nhất giữa lời nói
và việc làm phải có nhận thức và quyết tâm vượt qua chính mình. Với các cán
bộ, đảng viên thì lời nói đi đôi với việc làm càng cần thiết, vì cán bộ là gốc của
mọi công việc, là những tấm gương để quần chúng noi theo. Tốt nhất là miệng
nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước. Nói đi đôi với làm còn là
biểu hiện của sự gương mẫu, trung thực, trong sáng của cán bộ, đảng viên công

18


thời phát hiện, chấn chỉnh hay xử lý vi phạm, điều này dẫn đến công việc
không có hiệu quả, gây thiệt hại về tài sản, tiền bạc, công sức của Nhà nước,
của nhân dân. ái gì cũng dùng mệnh lệnh ép dân làm.

óng cửa lại mà đặt

kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra "cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng
theo".

ọ ngại đi xuống cơ sở để hiểu đúng thực tế, kiểm tra việc thi hành

chính sách, lắng nghe ý kiến của nhân dân. Trong lãnh đạo, chỉ đạo thì chung
chung, đại khái; không tự giác (thậm chí sợ) tự phê bình và phê bình; không
giữ đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách;
ngại tiếp xúc, đối thoại với quần chúng và cấp dưới. Những biểu hiện của

19


bệnh quan liêu rất nhiều, nhưng bộc lộ rõ nét là xa rời quần chúng và xa rời
thực tế. hính vì xa rời quần chúng và xa rời thực tế mà những kẻ quan liêu
có mắt cũng như mù, có tai cũng như điếc, không nắm bắt được tâm tư
nguyện vọng của quần chúng, không hiểu được tình hình thực tế, dẫn đến lãnh
đạo không sát, chỉ đạo vu vơ, vi phạm kỷ luật, kỷ cương...
Không dừng lại ở xác định, miêu tả đúng những triệu chứng của bệnh
quan liêu, Chủ tịch Hồ hí Minh đã đi sâu tìm hiểu nguyên nhân phát sinh căn
bệnh nguy hiểm này. Người cho rằng, bệnh quan liêu do nhiều nguyên nhân
khách quan và chủ quan gây ra. Về khách quan, bệnh quan liêu có từ xã hội cũ
và từ chế độ xã hội cũ lây truyền sang chế độ xã hội mới. Còn về nguyên nhân
chủ quan thì đó chính là những vấn đề thuộc về bản thân đội ngũ cán bộ, đảng

ã ộ

Sự suy thoái đạo đức xã hội đã thâm nhập sâu vào nhà trường, bệnh
viện, vào quan hệ thầy - trò, thầy thuốc - bệnh nhân. Truyền thống “tôn sư
trọng đạo” bị lối sống thực dụng, “thương mại hóa” chi phối, lấn át. Không ít

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status