ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘ I VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
TRẦN THỊ HÀ
MÔ HÌNH G IÁO DỤC HÒA NHẬP
CHO TRẺ KH IẾM THÍNH
TẠ I TRƯỜNG PHỔ THÔNG CƠ SỞ XÃ ĐÀN - HÀ NỘI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS . Nguyễn Hồi Loan
Hà Nội – 2015
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ............................................................... 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU ........................................................................... 4
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Tổng quan vấn đề giáo dục hòa nhập cho trẻ khiếm thính ......................... 3
3. Ý nghĩa của nghiên cứu ............................................................................. 6
4. Câu hỏi nghiên cứu.................................................................................... 6
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................. 6
6. Giả thuyết nghiên cứu ............................................................................... 7
7. Đối tượng và khách thể nghiên cứu ........................................................... 7
8. Phương pháp nghiên cứu ...........................................................................
7
83
3.3. Những tồn tại của mô hình GDHN cho TKT tại trường PTCS Xã Đàn – Hà
Nội.......................................................................................................... 92
3.4. Đề xuất vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp TKT
học hòa nhập tại trường PTCS Xã Đàn – Hà Nội.......................................... 94
KẾT LUẬN.................................................................................................. 97
KHUYẾN NGHỊ .......................................................................................... 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 99
PHỤ LỤC ................................................................................................... 103
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Nội dung
Viết tắt
1
Công tác xã hội
CTXH
2
Giáo dục hòa nhập
GDHN
Trẻ khiếm thính
TKT
NVCTXH
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Những nhu cầu đặc thù của trẻ khuyết tật
Bảng 1.2: Các giai đoạn phát triển tư duy TKT trong tham chiếu với trẻ bình
thường
Bảng 1.3: Bảng thể hiện chức năng, vai trò của từng chuyên gia trong nhóm
chuyên gia đa chức năng của Kirk Gallagher Anastasiow
Bảng 1.4: So sánh các yếu tố của GDHN và các yếu tố không phải của GDHN
Bảng 2.1: Hiểu biết của giáo viên về GDHN
Bảng 2.2: Mức độ đáp ứng về cơ sở vật chất trong GDHN
Bảng 2.3: Mức độ yêu thích của HSKT với các môn học
Bảng 2.4: Cách tiến hành điều chỉnh nội dung các môn học cho TKT
Bảng 2.5: Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học trong GDHN của giáo
viên Bảng 2.6: Mức độ thực hiện các yêu cầu của TKT trong giờ học hòa nhập
Bảng 2.7: Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức bài học của
HSKT
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện sự chênh lệch giữa số lượng HSKT và số lượng
HSBT theo khối lớp tại trường PTCS Xã Đàn – Hà Nội năm học 2013 – 2014
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ thể hiện lượng kiến thức HSKT tiếp thu được trong giờ học
Biểu đồ 3.2: Biểu đồ thể hiện kết quả học tập của HSKT
MỞ ĐẦU
nhiều
2
mặt. Việc giáo dục người khuyết tật nói chung và sự phát triển ngành giáo dục
đặc biệt nói riêng đang được các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước
chú trọng phát triển. Nhiều trường Đại học, Cao đẳng bắt đầu mở các
khóa đào tạo chính quy và không chính quy chuyên ngành Giáo dục đặc
biệt để đáp ứng về đội ngũ giáo viên cho các trường chuyên biệt và trường
hoà nhập. Đến nay, hệ thống quản lý giáo dục trẻ khuyết tật được hình thành
ở 64 tỉnh, thành phố và bắt đầu đi vào hoạt động. Mạng lưới các cơ sở đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên cho giáo dục trẻ khuyết tật được
hình thành và đang phát triển. Các chương trình giáo dục trẻ khuyết tật
được xây dựng và triển khai thực hiện. Phương thức giáo dục hòa nhập
cho trẻ khuyết tật phù hợp hoàn cảnh nước ta đang ngày càng được áp
dụng rộng rãi. Số trẻ khuyết tật đi học ngày càng tăng và đến nay đã có hơn
269.000 trẻ khuyết tật được đi học trong các trường, lớp hòa nhập và 7.000
trẻ trong các trường chuyên biệt trên toàn quốc. [26]
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, GDHN cho trẻ
khuyết tật tại Việt Nam vẫn còn những hạn chế và đang đứng trước nhiều
thách thức. Cộng đồng chưa nhận thức đầy đủ vai trò và trách nhiệm của
xã hội trong việc giáo dục trẻ khuyết tật. Cơ sở vật chất cho giáo dục trẻ
khuyết tật còn kém về chất lượng và thiếu về số lượng, các cơ sở giáo dục
chưa có những trang thiết bị tối thiểu và cần thiết để dạy trẻ khuyết tật như
sách giáo khoa và các đồ dùng dạy học đặc thù cho từng loại trẻ khuyết tật.
Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy trẻ khuyết tật chưa được đào
tạo, bồi dưỡng đủ về số lượng và chất lượng để đáp ứng nhu cầu đi học
ngày càng tăng của trẻ khuyết tật. Hầu hết đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
các cấp chưa được bồi dưỡng kiến thức về giáo dục trẻ khuyết tật và quản lý
GDHN cho trẻ khuyết tật nói chung, cho TKT nói riêng là một vấn đề
cần được quan tâm nhằm giúp cho các em có được điều kiện tốt nhất đáp
ứng nhu cầu học tập của các em, phát huy được những thế mạnh của
bản thân, vượt qua mặc cảm, tự ti để vươn lên trong cuộc sống. Chính vì
vậy, vấn đề này đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu trên nhiều
khía cạnh khác nhau ở cả trong nước và nước ngoài.
Trong những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, trên thế giới đã có nhiều
công trình nghiên cứu có giá trị về hiệu quả của TKT trong môi trường giáo
dục hòa nhập như:
5
Nghiên cứu của M. Johnson, J.C. Johnson vào những năm 1962 – 1963,
của Conrad những năm 1970 ở Vương quốc Anh về kết quả học tập của TKT
6
trong các trường hòa nhập cho thấy: TKT thua kém trẻ bình thường ở
các môn học như đọc, ngôn ngữ và toán nhưng lại vượt trội so với những
TKT học trong các trường chuyên biệt về các kỹ năng đọc và trình độ phát
triển ngôn ngữ. [25, tr. 14]
Các nghiên cứu của Reiser tại Hoa Kỳ trên hàng nghìn TKT trong các
môi trường giáo dục khác nhau như chuyên biệt, hội nhập và hòa nhập, còn
khẳng định thêm: trong môi trường càng ít bị tách biệt thì kết quả học tập của
TKT càng cao hơn. Bởi giáo viên ở các trường này yêu cầu cao hơn và ở đó
TKT lấy trẻ bình thường làm “mẫu chuẩn” để vươn tới nên động cơ học tập
tích cực hơn. Mặt khác, ở đó “TKT hàng ngày được bao bọc, buộc phải tham
gia và trao đổi với nhau bằng ngôn ngữ nói” và có nhiều cơ hội rèn luyện và
những người xung quanh. [41]
Tác giả Lê Văn Tạc trong công trình “Dạy học hòa nhập có TKT bậc
tiểu học theo phương thức hợp tác nhóm” tập trung nghiên cứu dạy học hòa
nhập cho TKT theo phương thức hợp tác nhóm nhằm phát triển nhận
thức, nâng cao khả năng giao tiếp cho các em đã khẳng định: Mọi TKT đều
có thể học tập và phát triển có hiệu quả trong môi trường GDHN nếu giáo
viên, học sinh đón nhận sự đa dạng và tạo môi trường cho TKT tham gia hoạt
động học tập. Dạy học theo phương thức hợp tác nhóm là cơ hội, điều kiện
tăng cường khả năng tương tác, hỗ trợ tích cực lẫn nhau, khả năng giao tiếp,
tạo điều kiện cho trẻ phát huy hết khả năng của mình nhằm góp phần nâng
cao kết quả học tập, tăng cường kỹ năng giao tiếp và kỹ năng xã hội cho TKT.
[25]
Tác giả Lê Văn Tạc cùng cộng sự trong đề tài “Phương pháp nâng cao
khả năng giao tiếp cho TKT tuổi mẫu giáo và tiểu học trong môi trường
GDHN” đã nghiên cứu về khả năng giao tiếp của TKT và khẳng định: Khả
năng giao tiếp của TKT trong môi trường GDHN phụ thuộc vào tính tích cực
của bản thân trẻ, mức độ nắm bắt và sử dụng phương tiện giao tiếp tổng
hợp của giáo viên và trẻ nghe bình thường, sự đổi mới phương pháp dạy
học và tạo điều kiện để trẻ có nhiều cơ hội trong giao tếp hơn. [28]
Tác giả Vương Hồng Tâm trong Luận án “Sử dụng kết hợp các phương
tiện giao tiếp để phát triển nhận thức của TKT tiểu học trong lớp hòa
nhập” một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của các phương tiện giao
tiếp trong hoạt động nhận thức của TKT ở trường hòa nhập”.
9
Các công trình nghiên cứu trên đều đề cập đến vai trò, ý nghĩa và
sự cần thiết của GDHN đối với TKT dưới các góc độ khác nhau cả về lý luận và
thực tiễn. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập cụ thể đến vấn đề GDHN
Nghiên cứu mô hình GDHN trong học tập cho TKT tại trường PTCS
Xã Đàn – Hà Nội. Từ đó, đề xuất vai trò của nhân viên CTXH trong việc trợ giúp
TKT học hòa nhập tại trường PTCS Xã Đàn – Hà Nội.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
11
1) Nghiên cứu mô hình GDHN cho TKT tại trường PTCS Xã Đàn – Hà Nội.
Từ đó, chỉ ra những thuận lợi, khó khăn của TKT trong quá trình học hòa nhập
tại trường.
12
2) Tìm hiểu nhu cầu của TKT trong quá trình học tập tại trường PTCS
Xã Đàn – Hà Nội.
3) Đánh giá mô hình GDHN tại trường PTCS Xã Đàn – Hà Nội. Trên cơ
sở đó, đề xuất vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp
TKT học hòa nhập tại trường PTCS Xã Đàn – Hà Nội.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Mô hình GDHN cho TKT tại trường PTCS Xã Đàn – Hà Nội đã đạt
được nhiều thành tựu quan trọng, đáp ứng được một phần nhu cầu học tập
của các em.
Do hạn chế về khả năng nghe nên TKT gặp nhiều khó khăn trong việc
lĩnh hội tri thức, dẫn đến kết quả học tập chưa cao.
7. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Mô hình GDHN cho TKT tại trường PTCS Xã Đàn – Hà Nội.
Khách thể nghiên cứu:
+ Khách thể nghiên cứu chính: HSKT học hòa nhập tại trường PTCS
TKT trong quá trình học tập tại trường PTCS Xã Đàn – Hà Nội để từ đó cung
cấp đúng các dịch vụ và các hỗ trợ cần thiết mà trẻ khiếm thính mong
muốn để việc học tập của các em đạt hiệu quả hơn.
(4) Tiếp cận dựa trên lý thuyết học tập xã hội
Theo lý thuyết này thì học tập về bản chất là một quá trình xã hội
hóa mà con người lĩnh hội những hành vi xã hội thông qua ba con đường
chính: bắt chước, tập nhiễm và học chính quy. Do đó, hòa nhập giáo dục
cho TKT thực chất chính là quá trình xã hội hóa trẻ đứa trẻ. Đối với trẻ
khuyết tật, trong quá trình học tập các em đều gặp những khó khăn nhất
định. TKT do hạn chế về khả năng nghe nên các em gặp rất nhiều khó khăn
trong quá trình học hòa nhập. Vì vậy, NVCTXH cần có những biện pháp hỗ
trợ để trẻ lĩnh hội được những tri thức trong điều kiện trẻ không nghe được.
(5) Tiếp cận dựa trên lý thuyết siêu đẳng và bù trừ
Trẻ em bị khuyết tật thường có mong muốn vươn lên để được
như người khác. Khi đó trẻ sẽ tập trung, huy động hết năng lực của bản thân
để đạt được mong muốn. Chính vì vậy, NVCTXH khi trợ giúp TKT trong quá
14
trình học tập để đạt hiệu quả cần tìm hiểu những mong muốn, nhu cầu của
trẻ.
15
8.2. Phương pháp thu thập thông tin
(1) Phương pháp phân tích tài liệu:
Phân tích những công trình nghiên cứu có liên quan tới vấn đề GDHN
cho TKT nói riêng, GDHN cho trẻ khuyết tật nói chung trên những tài liệu đã
công bố, in ấn.
17
9. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Trường PTCS Xã Đàn – Hà Nội
- Thời gian: Từ tháng 02 năm 2014 đến tháng 10 năm 2014.
- Nội dung: Nghiên cứu mô hình GDHN cho TKT tại trường PTCS Xã
Đàn – Hà Nội
18
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH
GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ KHIẾM THÍNH
1.1. Các khái niệm công cụ
1.1.1. Khuyết tật
Khái niệm khuyết tật
Theo Công ước về Quyền của người KT năm 2006: “Người KT bao
gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ,
thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có
thể cản trở sự tham gia đầy và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền
tảng công bằng như những người khác trong xã hội”. [10]
Theo Luật Người khuyết tật Việt Nam ban hành ngày 17/06/2010:
“Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ
thể hoặc chức năng làm suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ, giác quan
trong một thời gian dài được biểu hiện dưới các dạng khuyết tật và do các
rào cản xã hội, thiếu các điều kiện hỗ trợ phù hợp dẫn tới bị cản trở sự