BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
CAO THỊ PHƯƠNG THÚY
DẠY HỌC TRUYỆN CỔ TÍCH TẤM CÁM
Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH
Chuyên ngành: Li luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Thị Lan
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc của mình, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới
cô giáo TS Trịnh Thị Lan - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong
quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy cô giáo trong Khoa
Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội II cùng các thầy cô đã tận tình
giảng dạy trong những chuyên đề cao học vừa qua, giúp bản thân tôi có được
vốn kiến thức đa dạng, phong phú, sâu sắc.
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn, tôi đã luôn nhận
được sự động viên của bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình. Tôi
xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Học viên
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học truyện cổ tích Tấm Cám ở
THPT theo định hướng phát triển năng lực của học sinh ............................... 11
1.1. Những vấn đề lí luận về dạy học theo định hướng phát triển năng lực học
sinh trong môn Ngữ văn ở trường phổ thông.................................................. 11
1.1.1.Quan điểm về năng lực .......................................................................... 11
1.1.2. Quan điểm về dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.. 14
1.1.3. Quan điểm định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học Ngữ
văn ở trường phổ thông ................................................................................... 25
1.2. Truyện cổ tích Tấm Cám và dạy học truyện cổ tích Tấm Cám trong
chương trình Ngữ văn 10 THPT ..................................................................... 28
1.2.1. Khái quát về truyện cổ tích ................................................................... 28
1.2.2. Truyện cổ tích trong chương trình Ngữ văn 10 và khả năng dạỵ học
truyện cổ tích trong chương trình Ngữ văn 10 theo định hướng phát triển năng
lực .................................................................................................................... 32
1.3. Thực tiễn dạy học truyện cổ tích Tấm Cám trong nhà trường ................. 37
1.3.1. Về việc dạy học truyện cổ tích Tấm Cám của giáo viên ...................... 37
1.3.2. Về việc học truyện cổ tích Tấm Cám của học sinh............................... 39
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1.................................................................................. 40
Chương 2: Tổ chức dạy học truyện cổ tích Tấm Cám ở THPT theo định
hướng phát triển năng lực của học sinh .......................................................... 41
2.1. Một số yêu cầu đối với việc tổ chức dạy học truyện cổ tích “Tấm Cám” ở
THPT theo định hướng phát triển năng lực của học sinh .............................. 41
2.1.1. Cần đảm bảo mục tiêu bài học cơ bản cho học sinh về kiến thức, kĩ
năng và thái độ ................................................................................................ 41
2.1.2. Đảm bảo phát triển một số năng lực chung và năng lực chuyên biệt ... 42
2.1.3. Cần tổ chức linh hoạt giờ học văn truyện cổ tích Tấm Cám cho học sinh
THPT ............................................................................................................... 43
2.2. Một số biện pháp tổ chức dạy học truyện cổ tích “Tấm Cám” ở THPT
Viết đầy đủ
1
THPT
Trung học phổ thông
2
KHTN
Khoa học tự nhiên
3
THCS
Trung học cơ sở
4
SGK
Sách giáo khoa
5
SGV
Phương diện so sánh
11
CTGD
Chương trình giáo dục
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Li do chọn đề tài.
1.1. Yêu cầu đổi mới của giáo dục nói chung và môn Ngữ văn ở THPT nói
riêng trong giai đoạn hiện nay
Thế giới đang thay đổi từng ngày. Nếu như ba cuộc cách mạng công
nghiệp trong lịch sử loài người trước đó diễn ra phải cách nhau gần 100 năm
(lần thứ nhất từ năm 1784, lần thứ hai từ năm 1870, lần thứ ba từ năm 1969)
thì cuộc cách mạng lần thứ tư lại diễn ra nhanh chóng, chỉ cách lần gần nhất
gần 30 năm. Cuộc công nghiệp cách mạng lần thứ tư đang diễn ra từ những
năm 2000, còn được gọi là cuộc cách mạng số. Hai cuộc cách mạng công
nghiệp nối tiếp nhau ra đời, kinh tế tri thức phát triển mạnh đã đem lại cơ hội
phát triển vượt bậc, đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với
mỗi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển.
Theo Hội Hoàng gia Anh, chỉ trong vòng 10, 15 năm nữa, 70% các nghề
nghiệp hiện có sẽ biến mất và sẽ xuất hiện những nghề nghiệp mới. Mặt khác,
những biến đổi về khí hậu, tình trạng cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường,
mất cân bằng sinh thái và những biến động về chính trị, xã hội cũng đặt ra
những thách thức có tính toàn cầu. Để bảo đảm phát triển bền vững, nhiều
Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 (28/11/2014) về đổi mới
chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, góp phần đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo. Trong bản Nghị quyết có nhấn mạnh một số
nội dung như mục tiêu đổi mới “nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về
chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và
định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ
kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng
lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học
sinh”, “Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng: phát triển toàn
diện năng lực và phẩm chất người học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, làm
việc nhóm và khả năng tư duy độc lập: đa dạng hóa hình thức tổ chức học
tập, tăng cường hiệu quả sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là công
nghệ thông tin và truyền thông; giáo dục ở nhà trường kết hợp với giáo dục
gia đình và xã hội”, “Đổi mới căn bản phương pháp đánh giá chất lượng
giáo dục theo hướng hỗ trợ phát triển phẩm chất và năng lực học sinh; phản
ánh mức độ đạt chuẩn quy định trong chương trình; cung cấp thông tin chính
xác, khách quan, kịp thời cho việc điều chỉnh hoạt động dạy, hướng dẫn hoạt
động học nhằm nâng cao dần năng lực học sinh”.
Và mới đây nhất, Bộ giáo dục và đào tạo đã công bố Dự thảo về
Chương trình giáo dục phổ thông (Chương trình tổng thể) (24/01/2017)
và xin ý kiến của các cán bộ quản lí, giáo viên và nhân dân trên toàn quốc. Dự
thảo nhấn mạnh mục tiêu cơ bản của Chương trình giáo dục trung học phổ
thông “giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực của
người lao động, nhân cách công dân, ý thức về quyền và nghĩa vụ đối với Tổ
quốc; khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời; khả năng lựa chọn nghề
nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản
thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc bước vào cuộc sống lao động; khả
phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.
1.2. Đặc điểm, vị trí, vai trò quan trọng của thể loại truyện cổ tích nói
chung, tru ện cổ tích Tấm Cám nói riêng
Trong chương trình Ngữ văn THPT, các sáng tác dân gian là những giá
trị văn học được tiếp cận đầu tiên. Các tác phẩm được lựa chọn dựa trên
nguyên tắc tích hợp và phát triển chương trình Ngữ văn THCS theo cấu trúc
lịch sử văn học. Ở chương trình lớp 10, học sinh được học thêm tác phẩm
thuộc thể loại sử thi , truyền thuyết và truyện cổ tích dân gian.
Truyện cổ tích là những sáng tác tự sự dân gian, thường kể về số phận
của những con người bất hạnh trong xã hội. Các sáng tác ấy được truyền
miệng và tồn tại từ hết thế hệ này đến thế hệ khác, thể hiện quan niệm đạo
đức, lí tưởng và mơ ước của nhân dân về hạnh phúc và công lí xã hội. Truyện
cổ tích cũng như nhiều sáng tác dân gian khác có ảnh hưởng sâu sắc, trở thành
nền tảng của văn học viết Việt Nam. Truyện cổ tích không chỉ là những giấc
mơ đẹp của con người lao động xưa với bao điều kỳ thú và hấp dẫn, mà còn là
bài học, niềm tin, ước mơ về những điều tốt đẹp và lương thiện. Con người
hướng về cổ tích không chỉ thỏa mãn cho riêng mình niềm say mê đối với văn
học mà còn tìm đến sự trong sáng và bình an cho tâm hồn. Trong nhà trường,
việc đưa vào chương trình giảng dạy những câu truyện cổ cũng nhằm mục
đích giáo dục cho học sinh tình yêu thương, lòng nhân hậu, tính vị tha và
những đức tính quý báu khác để hoàn thiện nhân cách.
Tấm Cám là một trong số những truyện cổ tích tiêu biểu, đặc sắc, phổ
biến nhất của truyện cổ tích thần kì trong văn học dân gian Việt Nam. Không
phải chỉ đến khi tiếp cận với chương trình Ngữ văn 10 THPT học sinh mới
được biết đến tác phẩm này mà có thể, các em được nghe kể qua lời của bà,
của mẹ; được đọc bằng những cuốn truyện từ thời thơ ấu. Có thể nói, Tấm
Cám đã nuôi dưỡng tâm hồn, ước mơ, lòng hướng thiện và niềm tin vào cái
Đẹp, cái Tốt của người Việt biết bao thế hệ. Chính vì vậy, lựa chọn dạy – học
thức, vừa rèn luyện các kĩ năng, vừa hình thành và bồi đắp các giá trị sống,
các năng lực và phẩm chất cần có.
Chính bởi những lí do cơ bản trên mà chúng tôi đã lựa chọn và nghiên
cứu đề tài Dạ học tru ện cổ tích Tấm Cám” ở trung học phổ thông theo
định h ớng phát triển năng
c của học sinh với mong muốn đóng góp một
phần nhỏ vào công cuộc đổi mới chung, phù hợp với bối cảnh và yêu cầu giáo
dục của Việt Nam trong hiện tại.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Nghiên c u về việc dạy học truyện cổ tích Tấm Cám ở tr
ng THPT.
Là một trong những sáng tác cổ tích đặc sắc nhất của văn học dân gian
Việt Nam, truyện cổ tích Tấm Cám được lựa chọn và đưa vào chương trình
giáo dục từ rất sớm. Chính vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài
viết tập trung nghiên cứu phương pháp dạy học văn bản này, kể cả ở THCS và
THPT.
+ Về nghiên cứu:
GS Đinh Gia Khánh đã tập trung nghiên cứu truyện Tấm Cám để từ đó
rút ra được những vấn đề thi pháp của truyện cổ tích tình tiết, nhân vật, xu
hướng lịch sử hóa và xu hướng khái quát hóa, tính kì diệu, tính chất quốc tế
hóa..), và tất nhiên cũng từ đó rút ra được những quy luật phát triển của văn
học dân gian.
Tiếp sau đó, rất nhiều nhà nghiên cứu như: Chu Xuân Diên, Hoàng
Tiến Tựu, Bùi Văn Tiếng…đã có những công trình nghiên cứu về giá trị, đặc
c nói chung
c nói riêng.
Nghiên cứu về dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học
sinh nói chung đã được đề cập đến trong những năm 90 của thế kỉ, được vận
dụng linh hoạt trong nền giáo dục của nhiều quốc gia. Ở Việt Nam, các nhà
giáo dục hàng đầu cũng đã rất tâm huyết với vấn đề này, tập trung nghiên cứu
những cơ sở lí luận, nguyên tắc vận dụng phù hợp với đặc điểm tình hình
riêng của đất nước. Những tác giả đó phải kể đến Nguyễn Văn Cường, Lê
Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội….Đối với riêng môn Ngữ văn, những tác
giả đó phải kể đến Đỗ Ngọc Thống, Bùi Mạnh Hùng, Phạm Minh Diệu, Bùi
Minh Đức….Những công trình nghiên cứu hoặc những kinh nghiệm sẻ chia
của các tác giả đều rất thiết thực trong hướng đi thay đổi của giáo dục nói
chung và dạy học bộ môn Ngữ văn nói riêng.
3. Mục đich nghiên cứu
- Tổng quan việc nghiên cứu dạy học truyện cổ tích trong nhà trường
- Tìm ra một cách thức tiếp cận, dạy- học truyện cổ tích Tấm Cám một
cách hiệu quả nhằm tăng cường chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu mới
của thời đại.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp/ hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của dạy học
theo định hướng phát triển năng lực học sinh nói chung và dạy học truyện cổ
tích Tấm Cám nói riêng.
- Đề xuất cách thức tổ chức dạy học cho truyện cổ tích Tấm Cám và các
năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh.
- Thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của đề xuất trên theo định
Chương 2: Tổ chức dạy học truyện cổ tích Tấm Cám ở THPT theo định
hướng phát triển năng lực của học sinh.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở li luận và thực tiễn của dạy học truyện cổ tích Tấm Cám
ở THPT theo định hướng phát triển năng lực của học sinh
1.1. Những vấn đề li luận về dạy học theo định hướng phát triển năng lực
học sinh trong môn Ngữ văn ở trường phổ thông
1.1.1.Quan điểm về năng
c
1.1.1.1. Khái niệm năng lực
Thuật ngữ năng lực có nguồn gốc tiếng Latinh “competentia”( Nguyễn
Trọng Khanh , Phát triển năng lực và tư duy kĩ thuật, NXB Đại học Sư phạm,
2011) có nghĩa là gặp gỡ. Trong tiếng Anh, năng lực có thể được dùng với
những thuật ngữ như capability, ability, competency, capacity…[23, tr.11]
Capability là khả năng mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt
động nhất định.
Competency- Năng lực hành động là khả năng thực hiện hiệu quả các
hành động, các vấn đề liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở
hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động.
Ở Việt Nam, thuật ngữ năng lực cũng được sử dụng khá phổ biến.
Theo Từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên, Nhà xuất bản Đà
Nẵng, 1996, trang 639), từ năng lực có nghĩa gốc là: a) Khả năng, điều kiện
chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; b) Phẩm
chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động
nào đó với chất lượng cao.
phát triển nghề nghiệp. Năng lực được bao gồm ba yếu tố cơ bản: Kiến thức
( Knowledge), Kỹ năng Skill), Thái độ ( Attitude).
(Nguồn: Internet)
Như vậy, khái niệm năng lực được hiểu và được dùng với nhiều nghĩa
cụ thể gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong những tình huống và ngữ cảnh
riêng biệt. Hiểu một cách đơn giản nhất, năng lực là những khả năng, kĩ xảo
học được hay sẵn có của cá nhân nhằm giải quyết các tình huống xác định,
cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng một cách có
trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống ấy bằng những cách thức
phù hợp nhất [23, tr. 13]
1.1.1.2. Phân loại năng lực
Có nhiều quan điểm và tiêu chí phân loại năng lực khác nhau nhưng
nhìn chung, các nhà nghiên cứu phân chia ra hai loại chính là năng lực chung
general competence) và năng lực cụ thể, chuyên biệt (specific competence).
Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống
và làm việc bình thường trong xã hội. Theo quan niệm của EU, mỗi năng lực
chung cần: a) Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng; b)
Giúp cho các cá nhân đáp ứng được đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và
phức tạp; c) Chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia nhưng rất
quan trọng với tất cả mọi người.
Năng lực cụ thể, chuyên biệt là năng lực riêng được hình thành và phát
triển do một lĩnh vực nào đó.
Các năng lực của con người phần lớn sẽ được hình thành và phát triển
nhờ giáo dục. Vì vậy, mục tiêu của giáo dục cần phải tập trung vào phát triển
những năng lực ấy để đào tạo ra những con người phù hợp với yêu cầu của
thời đại mới.
nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo
thực hiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn.
Trong chương trình định hướng năng lực, mục tiêu học tập, tức là kết quả học
tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các năng lực
(Competency). Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể
quan sát, đánh giá được.
Chúng ta có thể thấy rõ bản chất và ưu điểm của chương trình giáo dục
theo định hướng phát triển năng lực người học qua bảng so sánh dưới đây:
CTGD
PDS
Chương trình giáo dục
Chương trình giáo dục
định hướng nội dung
định hướng năng lực
Mục tiêu dạy học được
Kết quả học tập cần đạt được mô tả
S
Mục
tiêu giáo mô tả không chi tiết và chi tiết và có thể quan sát, đánh giá
dục
không nhất thiết phải được; thể hiện được mức độ tiến bộ của
- Giáo viên chủ yếu là người tổ chức,
thụ tri thức, là trung tâm hỗ trợ HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri
dạy học của quá trình dạy học. HS thức. Chú trọng sự phát triển khả năng
tiếp thu thụ động những giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp,…;
tri thức được quy định sẵn.
- Chú trọng sử dụng các quan điểm,
phương pháp và kỹ thuật dạy học tích
cực; các phương pháp dạy học thí
nghiệm, thực hành.
Hình
Chủ yếu
dạy học lý
thức dạy thuyết trên lớp học
Tổ chức hình thức học tập đa dạng;
chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa,
học
nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng
tạo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông trong dạy và
học.
Để xác định các năng lực chung cho chương trình giáo dục của một
quốc gia, cần dựa trên các yêu tố cơ bản:
(1) Yêu cầu phát triển của đất nước trong một giai đoạn cụ thể, nhất là
yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và đào tạo một thế hệ công dân đáp ứng
được những thách thức trong tương lai.
(2) Thực trạng năng lực của học sinh nói riêng và của người lao động nói
chung của đất nước
(3) Xu thế quốc tế về phát triển năng lực cho học sinh trong nhà trường
phổ thông nhằm đáp ứng thị trường lao động.
Mặc dù cùng dựa trên cơ sở như vậy nhưng việc xác định hệ thống
năng lực chung của mỗi quốc gia lại hết sức đã dạng và phong phú. Thống kê
chương trình gần đây của 11 nước theo hướng tiếp cận năng lực có 35 năng
lực khác nhau. Tuy nhiên, nhiều nước thống nhất 8 năng lực chung cần phát
triển:
Năng lực tư duy, phê phán logic
Năng lực giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ
Năng lực tính toán, ứng dụng số
Năng lực đọc- viết
Năng lực làm việc nhóm- quan hệ với người khác
Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông
Năng lực sáng tạo, tự chủ
Năng lực giải quyết vấn đề
Trong Dự thảo chương trình giáo dục tổng thể của Bộ giáo dục và
đào tạo tháng 7 năm 2015 và tháng 1 năm 2017, các nhà nghiên cứu đã xác
định hệ thống các năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh.
(1) Năng lực chung: Năng lực tự chủ, năng lực hợp tác, năng lực sáng
tạo.
2) Năng lực chuyên biệt: Năng lực giao tiếp, năng lực tính toán, năng