UBND HUYỆN
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÍ CHỈ ĐẠO
TRONG TRƯỜNG THCS NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẠI
TRÀ VÀ TỶ LỆ ĐỖ VÀO LỚP 10 THPT
Năm học 2013 - 2014
0
Phần 1: MỞ ĐẦU
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “ Một số giải pháp đổi mới quản lí chỉ đạo trong
trường THCS nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại trà và tỉ lệ đỗ vào
lớp 10 THPT”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản lí trường học THCS
3. Tác giả:
Họ và tên: Nam (nữ): Nam
Ngày tháng/năm sinh:
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ, đơn vị công tác: HT trường THCS
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
Tên đơn vị: trường THCS
Địa chỉ: Khu
Điện thoại: 03203.
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có) :
Tên đơn vị: trường THCS
Địa chỉ: Khu
Điện thoại: 03203
mỗi người học, đó là chất lượng đích thực của quá trình dạy học.
- Yêu cầu chất lượng dạy học ở bậc THCS trong giai đoạn mới:
Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố, phát triển những nội
dung đã học ở Tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông
cơ bản về Tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội,
khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết
tối thiểu về kĩ thuật và hướng nghiệp. Là bậc học có nhiệm vụ phổ cập giáo
dục bậc THCS làm tiền đề cho phổ cập giáo dục bậc trung học, do vậy bậc
học THCS có nhiệm vụ đào tạo nguồn cho bậc học THPT và dạy nghề để tạo
ra nguồn nhân lực có đủ phẩm chất, trí tuệ, năng lực chuyên môn đáp ứng cho
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chính vì vậy cần có sự
tăng cường nội dung giáo dục, nội dung đào tạo và giáo dục hướng nghiệp để
ngày càng nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực.
- Đội ngũ giáo viên là lực lượng chủ yếu, quan trọng nhất trong mỗi
nhà trường và là lực lượng quyết định cho sự thành công của quá trình dạy
học. Năng lực chuyên môn, phương pháp sư phạm, uy tín cá nhân của mỗi
giáo viên có ảnh hưởng to lớn đến chất lượng đào tạo của nhà trường cũng
như thương hiệu của nhà trường. Uy tín của nhà trường luôn gắn liền với uy
tín của giáo viên tài năng và tâm huyết với nghề.
- Các nhà quản lý giáo dục ở các trường THCS thông qua công tác
quản lý chuyên môn nhằm phát huy hết nội lực của người giáo viên để phục
vụ cho hoạt động giáo dục. Nhà quản lý giáo dục biết gắn kết tập thể giáo
3
viên lại với nhau để tạo ra sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ
chính trị và mục tiêu giáo dục của nhà trường.
- Quản lý hoạt động chuyên môn chính là điều khiển, chỉ đạo các hoạt
động dạy học trong nhà trường làm cho nó đi theo một quỹ đạo. Nhà quản lý
phải làm thế nào để vận hành bộ máy giáo dục đó một cách khoa học, có tổ
quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục. Nhà nước tổ chức đào
tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng đãi ngộ, bảo đảm các điều
kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò và trách
nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn
vinh nghề dạy học.
1.2.4. Các văn bản của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT Hải Dương:
- Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều
cấp học.
- Sách giáo khoa, tài liệu chuẩn kiến thức, kỹ năng các mộn học THCS.
- Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ các năm học của các cấp ngành Giáo
dục.
4
- Hướng dẫn đánh giá xếp loại học sinh theo thông tư 58 của Bộ.
- Hướng dẫn nội dung giảm tải các môn học cấp THCS của Bộ.
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA NHÀ TRƯỜNG TRƯỚC KHI ÁP DỤNG ĐỀ TÀI:
2.1. Đặc điểm tình hình nhà trường:
- Trường được chia tách với trường THPT từ năm 1996.
- Quy mô trường lớp hằng năm có 8 lớp với số lượng học sinh dao
động trong khoảng từ 220 đến 270 em.
- Về cơ sở vật chất: Tổng diện tích: 1820 m2, khuôn viên diện tích thì
thiếu và chật hẹp, thiếu phòng học bồi dưỡng và các phòng chức năng. Có thể
nói về cơ sở vật chất của nhà trường là yếu nhất trong toàn huyện.
- Về đội ngũ: có 22 cán bộ, giáo viên và nhân viên, giáo viên trình độ
đại học đạt 50%.
- Về chất lượng đầu vào lớp 6 hàng năm rất thấp, đều xếp cuối huyện
và cuối tỉnh.
+ Đầu vào lớp 6 năm học 2010-2011: xếp thứ 257/273 trường THCS
trong tỉnh, môn Tiếng Việt tỷ lệ yếu kém là 48,2% (Yếu: 26,8%, Kém:
+ Hành chính phục vụ: 4
5
+ Về tổ chức đảng và đoàn thể:
Chi bộ: 14 Đảng viên chính thức
Cấp uỷ: 03 đồng chí (Hiệu trưởng, Hiệu phó, CT Công đoàn)
Công đoàn: 22 đoàn viên; BCH: 3 đồng chí (3 nữ)
Chi đoàn giáo viên: 10 đoàn viên, BCH gồm: 2 đồng chí
2.2. Thực trạng chất lượng giáo dục đại trà và tỉ lệ đỗ vào lớp 10 THPT
của nhà trường trước khi nghiên cứu áp dụng:
2.2.1. Về chất lượng dạy học:
- Chất lượng 2 mặt giáo dục:
Năm
học
2 mặt
GD
Học
kiểm
2010
2011
Học
lực
Học
kiểm
2011
51,4
16
6,4
Tốt
Khá
TB
Yếu
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
84
112
34
0
8
72
116
34
0
Loại
Kết quả
SL
%
97
8
81
92
45
3
37,6
38,0
21,4
3,1
3,5
35,4
40,2
19,7
1,3
Đánh giá
Chưa đạt KH
Vượt KH
Vượt KH
Đạt KH
Gần đạt KH
Gần đạt KH
Vượt KH
Gần đạt KH
Vượt KH
Chưa đạt KH
Chưa đạt KH
Chưa đạt KH
Đạt KH
Lên lớp sau kiểm tra
lại trong hè
91,1%
163/184 = 88.6%
(toàn huyện 97,38%)
Đánh giá
Chưa đạt KH
Chưa đạt KH
Chưa đạt KH
thấp hơn TB
huyện
Chưa đạt KH
thấp hơn TB
huyện
2.2.2. Về chất lượng tốt nghiệp:
- Năm học 2010 - 2011: có 65/69 em tốt nghiệp = 94,3%
- Năm học 2011 - 2012: có 36/43 em tốt nghiệp = 83,7% (toàn huyện 97,22%)
2.2.3. Về chất lượng thi đỗ vào lớp 10 THPT:
- Năm học 2010 - 2011:
6
+ Tỷ lệ học sinh thi đỗ vào 2 hệ công lập và bán công là 52/65 em tốt
nghiệp THCS, đạt 80%;
+ Điểm trung bình xếp thứ 19 trong 19 trường THCS của huyện, xếp
thứ 261/273 trường trong tỉnh.
- Một số môn học tỉ lệ học sinh đạt trung bình còn thấp như môn Toán,
Ngữ văn, Hóa, Ngoại ngữ, Vật lý nên ảnh hưởng tới kết quả xếp loại chung
của học sinh.
- Cán bộ quản lý còn e ngại, nể nang, có nhắc nhở nhưng chưa đôn đốc,
uốn nắn một cách kiên quyết, chưa có cơ chế đánh giá thi đua hợp lí khuyến
khích được đội ngũ giáo viên và học sinh thi đua hết mình để khẳng định
mình trước tập thể. Năm học 2010 - 2011 tôi mới chuyển công tác về đơn vị
mới từ giữa năm học nên chưa thể thay đổi ngay các nền nếp cũ của đơn vị
chẳng hạn như xóa bỏ lớp chọn.
- Cơ sở vật chất của nhà trường có thể nói là yếu nhất huyện, còn thiếu
thốn chật hẹp, phòng học còn thiếu, nhà trường phải học 2 ca, không có
7
phòng học để phụ đạo cho học sinh, thiếu các phòng chức năng, không có sân
chơi bãi tập, chưa đáp ứng được yêu cầu giáo dục hiện nay.
- Thiết bị dạy học còn thiếu và cũ nát nên có ảnh hưởng tới hiệu quả
của môn học.
- Nhiều bậc phụ huynh còn chưa quan tâm tới tình hình học tập của con
em mình, còn phó thác cho nhà trường.
2.4. Một số vấn đề đặt ra trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đại trà
và tỉ lệ đỗ vào lớp 10 THPT của nhà trường:
Trên cơ sở phân tích thực trạng của nhà trường, tôi thấy muốn nâng cao
chất lượng giáo dục đại trà và tỉ lệ đỗ vào lớp 10 THPT của nhà trường thì cần
tập trung vào một số vấn đề then chốt như sau:
- Đổi mới công tác quản lý chỉ đạo
- Xây dựng kế hoạch chuyên môn cụ thể, chi tiết, linh hoạt, phù hợp với
điều kiện thực tế của nhà trường và các hướng dẫn của các cấp các ngành.
- Bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Đề ra các giải pháp
nâng cao chất lượng giáo dục trong các buổi sinh hoạt chuyên môn theo định
8
trường. Có kế hoạch cử giáo viên tham gia các lớp đào tạo chuyên môn
nghiệp vụ.
- Xây dựng một ngôi trường thân thiện mà ở đó mọi người biết thương
yêu và giúp đỡ lẫn nhau.
- Phân công giáo viên đúng chuyên môn nghiệp vụ.
- Minh bạch thu chi tài chính của nhà trường.
- Quy định chức năng và quyền hạn của mỗi thành viên trong nhà
trường.
- Không độc đoán, chuyên quyền, không trù dập, biết lắng nghe và tôn
trọng những ý kiến đóng góp của mọi người. Làm sao giáo viên xem trường
như là " ngôi nhà của chung" của mình thì họ mới an tâm công tác lâu dài. Cố
gắng tìm cách cải thiện đời sống tinh thần và vật chất cho giáo viên, nhân
viên.
- Phổ biến, quán triệt đầy đủ các chủ trương, chính sách, giải pháp giáo
dục, các văn bản pháp quy, hướng dẫn của các cấp các ngành để toàn thể cán
bộ giáo viên thấy rõ thực trạng để từ đó đề ra các giải pháp cụ thể cho hoạt
động giáo dục của mình.
- Xây dựng kế hoạch năm học cụ thể, linh hoạt, thông báo cho giáo
viên biết được nhiệm vụ và yêu cầu của năm học này là gì.
- Phân tích cho giáo viên nhận thức rõ thực trạng của nhà trường các
mặt mạnh, mặt yếu những tồn tại cần khắc phục, để tạo sự đồng thuận từ tập
thể, từ đó thống nhất đưa ra các giải pháp cụ thể, phù hợp với đặc điểm của
nhà trường, phù hợp với đối tượng học sinh, BGH và giáo viên cùng bàn giải
pháp để tháo gỡ những khó khăn.
3.1.2. Xóa bỏ lớp chọn, phân chia lại đối tượng đồng đều giữa các lớp
trong khối:
- Nhà trường mỗi khối có 2 lớp với tổng số học sinh cả khối dao động
trên đều được giải quyết hài hòa, tạo ra được môi trường thi đua bình đẳng
giữa hai lớp, giữa các giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm phụ trách 2
lớp, các lớp đều có nhân tố tích cực để chọn làm cán bộ lớp, làm cán sự các
bộ môn và các em có điều kiện để học hỏi lẫn nhau được.
- Chính vì vậy chúng tôi quyết định xóa bỏ lớp chọn từ năm học 2011
-2012. Việc chia lại lớp được thực hiện sau khi tổ chức kiểm tra lại và xét lên
lớp sau hè. Việc chia lại lớp được thực hiện khá kĩ lưỡng tỉ mỉ, đảm bảo đồng
đều trên mọi phương diện; số nam - nữ, số học sinh hạnh kiểm tốt, khá, trung
bình, yếu, số học sinh có học lực giỏi, khá, trung bình, yếu và kém, số học
sinh cá biệt, số học sinh có hoàn cảnh đặc biệt éo le cũng được cân nhắc để
chia cho đều, số học sinh ở các khu cụm dân cư cũng được cân nhắc chia cho
đều. Sau khi chia xong chúng tôi tính lại điểm trung bình học lực và trung
bình các môn học, nhất là Toán và Ngữ văn để cân nhắc điều chỉnh lại cho
đồng đều giữa 2 lớp A1 và A2, sau đó đưa ra hội đồng tham khảo lấy ý kiến
của các giáo viên để Ban giám hiệu quyết định điều chỉnh lại cho hợp lý.
- Việc phân công chuyên môn và chủ nhiệm lớp chúng tôi thực hiện
bình thường trước khi chia lại lớp nhưng chưa phân công vào lớp cụ thể nào
cả, mà chỉ tạm phân dạy và chủ nhiệm lớp ví dụ là 9A 1 hay 9A2, sau khi điều
chỉnh phân chia lớp xong chúng tôi mới quy định lớp nào là 9A, lớp nào là 9B
thông qua việc bắt thăm của 2 giáo viên chủ nhiệm. Điều này để tạo ra sự
công bằng khách quan trong việc phân chia lại lớp, từ đó tạo ra môi trường thi
đua lành mạnh công bằng giữa các lớp và giữa các giáo viên.
3.1.3. Tăng cường phụ đạo học sinh yếu:
Với cách đo chất lượng là tính điểm trung bình toàn trường như hiện
nay của Phòng và Sở thì mọi sự cố gắng nỗ lực làm bài thi và khảo sát chất
lượng của các đối tượng học sinh đều có vai trò nâng thành tích chung là như
nhau, mà việc dạy để học sinh yếu tăng thêm 1 hoặc 2 điểm dễ hơn đối với
các học sinh khá và giỏi. Xác định như vậy nên nhà trường đã tập trung đầu tư
làm chất lượng chung thông qua việc nâng cao chất lượng ở đối tượng này
như sau:
Chia sẻ và thông cảm với gia đình vì con học chưa tiến bộ bởi nguyên
nhân này nguyên nhân khác. Nêu ra một số trường hợp học sinh điển hình
trượt đà dẫn tới bỏ học và mắc các tệ nạn xã hội để tăng cường sự quan tâm
của gia đình với việc học tập của con họ. Ví dụ như trường hợp em Quyến ở
xã Long Xuyên đã phạm tội giết người khi đang học lớp 9 tại trường THCS
thuộc huyện Gia Lộc cũng có nguyên nhân từ việc bỏ học chơi điện tử bị lưu
ban.
Phổ biến cụ thể kế hoạch dạy phụ đạo của nhà trường. Nêu rõ ý nghĩa
của việc tổ chức dạy phụ đạo này là thể hiện trách nhiệm của nhà trường và
của giáo viên đối với con em họ. Nêu ra một số biện pháp phối hợp giữa gia
đình với nhà trường trong việc quản lí động viên để giáo dục các em tiến bộ.
Họp riêng theo đơn vị lớp cùng giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn
với các nội dung chính là báo cáo cụ thể tình hình học tập của từng em, thảo
luận, trao đổi, chia sẻ thống nhất biện pháp quản lí động viên các em học tập
tốt ở trường và ở nhà.
- Theo dõi học sinh:
+ Việc theo dõi sĩ số lớp phụ đạo này cũng được thực hiện kiểm diện
thường xuyên hàng tuần, Ban giám hiệu kiểm tra và điện thoại trực tiếp về gia
đình kịp thời vào đầu buổi học để thông báo và kiểm tra xác minh lí do vắng
mặt của học sinh.
+ Việc theo dõi sự tiến bộ của học sinh do giáo viên bộ môn và giáo
viên chủ nhiệm cùng đảm nhiệm ở 2 tiêu chí là nhận thức của các em có tiến
bộ không và điểm số của các em thay đổi tăng - giảm sau mỗi lần khảo sát
chất lượng đề chung toàn trường hay toàn huyện. Qua đó giáo viên sẽ biết
phải dạy các em cái gì và dạy như thế nào để điểm khảo sát lần sau cao hơn
lần trước.
11
- Triệu tập hội nghị họp cha mẹ học sinh lớp phụ đạo học sinh yếu lần 2
vì chất lượng các lớp dưới là ảo. Kết quả khảo sát được thông báo kịp thời về
gia đình và đăng trên trang web nhà trường và gửi tin nhắn đến cha mẹ học
sinh nắm được. Nhờ làm tốt việc tổ chức coi chấm nghiêm túc, thông báo kịp
thời đã có tác dụng thiết thực. Từ đó giáo viên phải biết dạy như thế nào, học
sinh phải cố gắng học ra sao, bố mẹ cần quan tâm động viên con như thế nào.
Năm học trước phòng giáo dục chỉ tổ chức khảo sát chất lượng cuối kì thì nhà
trường tổ chức khảo sát thi tháng mỗi kì 2 đợt với tinh thần cũng nghiêm túc.
Đề khảo sát được nhà trường thuê giáo viên trường khác, thậm chí là huyện
khác ra đề để đánh giá chất lượng khách quan hơn.
3.1.6. Xây dựng cơ chế, chính sách thi đua khen thưởng phù hợp động viên
được các cá nhân, tập thể làm chất lượng tốt.
- Ngoài việc thực hiện các quy định của ngành về thi đua khen thưởng,
nhà trường xây dựng và đưa vào quy chế khen thưởng cho giáo viên bồi
dưỡng có học sinh giỏi cấp huyện với giải thưởng khá cao tới 1000.000đ cho
mỗi giải học sinh giỏi cấp huyện. Mức này có lẽ là khá cao trong huyện, bởi
12
có thế mới động viên thúc đẩy giáo viên phấn đấu vì hầu hết nguồn học sinh
giỏi không có mà giáo viên phải chọn bồi dưỡng các em từ khá lên giỏi. Còn
với học sinh đạt học sinh giỏi cấp huyện trở lên cũng có mức thưởng cao hơn
các trường trong cụm và trong huyện.
- Để khuyến khích giáo viên dạy tốt các môn ôn thi vào lớp 10 THPT
nhà trường quy định nếu giáo viên dạy lớp nào có thành tích cao thì được
thưởng. Mặc dù phần thưởng chỉ là 500.000đ/giáo viên nhưng cũng khích lệ
được họ cố gắng hết sức để được khẳng định mình. Năm học vừa qua nhà
trường đã chi thưởng cho 5 giáo viên với số tiền là 2.500.000đ, nguồn thưởng
được trích từ 20% tỉ lệ quản lí dạy thêm học thêm.
3.2. Nhóm các giải pháp về cơ sở vật chất:
- Với điều kiện cơ sở vất chất của nhà trường chỉ có 4 phòng học 2 ca,
được tốt thì giáo viên phải dạy tốt từ lớp dưới chứ không đổ lỗi kết quả cuối
cấp kém là do lớp dưới người khác dạy chưa tốt. Và kết quả thực tế đã khẳng
định hiệu quả của giải pháp này là cả hai lớp 9 năm qua đều có thành tích cao
trong việc thi vào lớp 10 THPT.
13
- Việc xây dựng kế hoạch dạy tự chọn cũng đã được thực hiện đồng
thời với giải pháp tạm bỏ phòng Tin học, nhà trường chuyển học tự chọn Tin
học sang học theo chủ đề bám sát môn Toán, Ngữ văn và Tiếng Anh. Nhờ vậy
mà kết quả khảo sát Toán, Ngữ văn, Anh qua 3 đợt trong học kì 1 năm học
này đã tăng lên rõ rệt (xem phần hiệu quả của đề tài).
3.3.2. Tổ chức bồi dưỡng xây dựng đội ngũ
Trong phạm vi đề tài này tôi không đề cập đến việc xây dựng khối đoàn
kết nội bộ nữa, vì bản thân nội bộ nhà trường có truyền thống đoàn kết thống
nhất từ trước đến nay. Tôi chỉ đề cập đến việc bồi dưỡng nâng cao chuyên
môn nghiệp vụ cho giáo viên. Có nhiều biện pháp để phát triển đội ngũ giáo
viên. Với đặc điểm tình hình riêng của nhà trường và vận dụng các nguyên tắc
bồi dưỡng phát triển, tôi đề xuất một số biện pháp sau:
3.3.2.1. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và lòng nhân ái sư phạm
- Trong quá trình bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ, phẩm chất
đạo đức của người thầy phải được coi trọng. Trong bất cứ hoàn cảnh nào
người thầy cũng phải xứng đáng là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.
Người hiệu trưởng khi xây dựng phong cách người thầy phải chú ý tới hai
mặt. Đó là thái độ đối với công việc và cách ứng xử trước những vấn đề, tình
huống trong quan hệ với cấp trên, với đồng nghiệp, với học sinh hoặc tình
huống của thế thái nhân tình. Người thầy muốn làm tốt công tác giáo dục phải
có tác phong mẫu mực, tôn trọng và công bằng trong đối xử với học sinh, phải
xây dựng uy tín trước học sinh, nhân dân và xã hội. Dù trong hoàn cảnh nào
cũng không làm hoen ố danh dự người thầy. Phải xây dựng thói quen làm việc
pháp luật…). Hoặc đổi mới phương pháp giảng dạy và giáo dục theo hướng
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
+ Bồi dưỡng cho giáo viên năng lực thiết kế giáo án môn học, năng lực
ra đề thi, chấm thi, trả bài.
+ Bồi dưỡng cho giáo viên năng lực ứng xử các tình huống trong giảng
dạy và giáo dục.
+ Đối với giáo viên chủ nhiệm cần bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt
động tập thể, năng lực thuyết phục, cảm hoá học sinh.
+ Giáo viên chủ nhiệm là người thay mặt hiệu trưởng quản lý toàn diện
các hoạt động giáo dục trong lớp. Giáo viên chủ nhiệm là người cố vấn trong
tập thể học sinh, là người trực tiếp giáo dục học sinh, trực tiếp chỉ đạo, kiểm
tra, đánh giá công bằng, khách quan quá trình rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng
của học sinh trong lớp, là người trực tiếp làm việc với cha mẹ học sinh. Do đó
giáo viên chủ nhiệm cần rèn luyện kỹ năng vận dụng các tri thức khoa học
giáo dục vào thực tiễn sinh động và đa dạng trong quá trình giao tiếp, giáo
dục học sinh của mình.
3.3.2.3. Bồi dưỡng năng lực chuyên môn
- Năng lực chuyên môn là nền tảng, là đòn bẩy của năng lực sư phạm.
Muốn có năng lực sư phạm tốt phải có năng lực chuyên môn vững vàng.
- Năng lực chuyên môn hay trình độ chuyên môn bao gồm các yếu tố
như:
+Kiến thức khoa học về bộ môn và các kiến thức liên quan.
+Phương pháp giảng dạy bộ môn với từng bài, kiểu bài.
+Sự sáng tạo, khả năng đúc rút và phổ biến kinh nghiệm.
+Khả năng tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về chuyên môn
cho mình và đồng nghiệp.
+Chất lượng bài dạy, giờ dạy.
+Chất lượng học tập của học sinh.
- Do đó, bồi dưỡng năng lực chuyên môn là bồi dưỡng những nội dung
sau:
giáo dục.
3.3.2.5. Bồi dưỡng kiến thức khoa học bổ trợ
- Trước xu thế toàn cầu hoá, các nước đang mở rộng hợp tác và hội
nhập, đặc biệt bước vào thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học công nghệ và
hội nhập đang phát triển như vũ bão, Ngoại ngữ và tin học đang trở thành thứ
vũ khí không thể thiếu được đối với sự hợp tác và phát triển. Nước ta phong
trào học ngoại ngữ và tin học đang dấy lên rầm rộ.
- Cũng giống như nhiều nhà trường khác trong huyện, đội ngũ giáo
viên nhà trường đang gặp khó khăn về trình độ ngoại ngữ và tin học. Vốn
ngoại ngữ và tin học mà nghèo nàn sẽ là cản trở rất lớn trong việc nâng cao
chất lượng giảng dạy, giáo dục và nhiều hoạt động khác. Do đó phải tổ chức
bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ và tin học cho giáo viên. Phải tổ chức cho giáo
viên học ngoại ngữ, đặc biệt là Tiếng Anh để giáo viên biết sử dụng ở mức độ
cần thiết. Phải bồi dưỡng cho giáo viên hiểu được tin học, biết sử dụng máy vi
tính và các thiết bị công nghệ hiện đại để hỗ trợ cho giảng dạy và các hoạt
động giáo dục khác.
3.4. Nhóm các giải pháp về công tác phối hợp:
3.4.1. Phối hợp với tổ chức Đoàn đội
- Ở nhà trường việc quản lí và thực hiện nền nếp giờ học chính khóa
của học sinh được giáo viên chủ nhiệm và Đoàn đội duy trì thực hiện khá tốt,
nên chúng tôi khá yên tâm. Điểm thi đua các lớp được cập nhật thường xuyên
kịp thời trên trang web nhà trường, được thông báo tại bảng tin và dưới cờ
hàng tuần. Để việc học bài trên lớp và chuẩn bị bài ở nhà của học sinh được
tốt Ban giám hiệu yêu cầu Đoàn đội đưa nội dung kiểm tra sách giáo khoa, vở
ghi, vở chuẩn bị bài về nhà, đồ dùng học tập vào tiêu chí chấm thi đua hàng
ngày. Do vậy nền nếp học tập của học sinh đã tốt hơn, tiến bộ hơn rất nhiều.
Chính vì vậy mà phong trào hoạt động Đội và thanh thiếu niên của nhà trường
năm học 2012 - 2013 đã được huyện đoàn về kiểm tra và đánh giá rất cao.
Liên đội và đồng chí giáo viên Tổng phụ trách đều được Tỉnh đoàn tặng giấy
khen năm học 2012 - 2013.
Điều kiện tiên quyết cho một thành quả giáo dục thực thụ chỉ có được khi có
sự đồng lòng phối hợp chặt chẽ, thiện chí và bền vững giữa bậc làm cha làm
mẹ với nhà trường. Coi trọng điều đó, Ban Giám hiệu và đội ngũ giáo viên
chủ nhiệm trường đã không ngừng thiết lập và củng cố mối quan hệ này, bắt
đầu bằng cuộc họp cha mẹ học sinh đầu năm học. Kết quả các năm qua mối
quan hệ giữa nhà trường với các bậc cha mẹ học sinh ngày càng khăng khít,
cha mẹ học sinh đã ủng hộ rất nhiều cả về vật chất và tinh thần, điều đặc biệt
là cha mẹ học sinh đã rất tin tưởng và yên tâm khi gửi gắm con mình vào học
tại trường. Sau đây là cách làm cụ thể việc họp hội nghị cha mẹ học sinh hàng
năm:
- Họp hội nghị với cha mẹ học sinh toàn trường được tổ chức định kì
trong một năm 3 lần. Đợt 1 họp vào đầu năm học, đợt 2 họ vào đầu học kì 2,
đợt 3 sau khi kết thúc năm học. Riêng lớp 9 có thêm một đợt nữa vào thời
điểm tháng 4 hàng năm để chuẩn bị cho việc ôn thi tập trung.
- Nội dung các đợt họp hội nghị với cha mẹ học sinh gồm 2 phần:
Phần 1: Họp chung toàn trường, gồm các nội dung chính sau:
+ Tổ chức tuyên bố lí do, giới thiệu đại biểu và chương trình làm việc.
+ Hiệu trưởng nhà trường báo cáo đánh giá kết quả năm học trước hoặc
kì học trước và chủ trương, phương hướng kế hoạch, các mục tiêu phấn đấu
của nhà trường trong năm học này, đồng thời thông báo các khoản tiền thu
17
theo Văn bản Pháp luật ngành giáo dục quy định cho năm học 2013-2014.
Phổ biến các quy định chung của nhà trường yêu cầu học sinh phải thực hiện
như: Điều lệ nhà trường, nội quy nhà trường, nội quy Liên đội, và các quy
định khác có liên quan.
+ Đại diện cha mẹ học sinh nhà trường báo cáo đánh giá kết quả hoạt
động phối hợp của Hội cha mẹ học sinh năm qua, báo cáo tình hình tài chính
công khai, phổ biến phướng hướng của năm học mới. Trích đọc nội dung cần
+ Thông qua biên bản và nghị quyết hội nghị.
+ Báo cáo phản ảnh nhanh kết quả hội nghị họp cha mẹ học sinh của
lớp về Ban giám hiệu.
3.5. Nhóm các giải pháp tổ chức kế hoạch ôn tập bồi dưỡng ôn thi vào lớp
10 THPT
Chất lượng học sinh thi đỗ vào lớp 10 THPT chính là kết quả của chất
lượng giáo dục đại trà sau 4 năm học THCS để đánh giá hiệu quả công tác
giáo dục của một trường THCS. Để có tỉ lệ học sinh thi đỗ vào lớp 10 THPT
đạt và cao hơn so với mặt bằng chung của huyện và tỉnh trong những năm qua
18
nhà trường đã thực hiện nghiêm túc từ công tác nâng cao chất lượng giáo dục
đại trà trong cả 4 năm học và công tác lên kế hoạch bồi dưỡng ôn thi vào lớp
10 THPT cho học sinh lớp 9 cụ thể như sau:
3.5.1. Lập kế hoạch về thời gian bồi dưỡng ôn thi vào lớp 10 THPT
- Việc tổ chức dạy bồi dưỡng ôn tập cho học sinh lớp cuối cấp chuẩn bị
hành trang bước vào kì thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT hàng năm được chia
ra làm 2 giai đoạn, đó là:
+ Bồi dưỡng ôn luyện trong năm học: Thực hiện từ đầu năm học đến
cuối tháng 5 hàng năm. Mỗi tuần học 3 buổi, chia đều cho 2 môn Ngữ văn và
Toán, do giáo viên dạy chính khóa bồi dưỡng.
+ Bồi dưỡng ôn thi giai đoạn tập trung: từ cuối tháng 5 đến trước ngày
thi với thời lượng tiết dạy dự kiến các môn dao động xung quang số liệu sau:
Môn Toán
108 tiết
Môn Ngữ văn
108 tiết
để lại làm bảo bối để phục vụ việc dạy thêm của riêng mình. Với tư tưởng ấy
thì sẽ làm chậm sự tiến bộ của cả mình và đồng nghiệp.
19
+ Sau mỗi năm dạy ôn hai giáo viên lại ngồi cùng nhau rút kinh
nghiệm, thêm bớt bổ sung cho bộ tài liệu ngày thêm hoàn chỉnh hơn. Riêng
bộ tài liệu ôn thi môn Toán của các giáo viên trường tôi cũng được nhiều đồng
nghiệp đánh giá rất cao về tính công phu và hiệu quả của nó. Nhờ vậy mà kết
quả điểm TB môn toán toàn trường trong mùa thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT
năm 2013 xếp thứ 2 trong toàn huyện, chỉ sau trường THCS Vũ Hữu.
3.5.2. Lựa chọn bồi dưỡng, giao nhiệm vụ cho giáo viên dạy dạy ôn thi
- Xác định tỉ lệ đỗ vào lớp 10 THPT là mục tiêu trọng tâm của nhà
trường nên ngay từ đầu năm BGH nhà trường đã tổ chức lấy ý kiến của học
sinh khối 9 đối với các giáo viên đang dạy các môn thi.
- Thông qua việc thăm dò này BGH nhà trường có những giải pháp về
đội ngũ giáo viên ôn thi vào lớp 10 THPT. Để đi đến quyết định cử giáo viên
nào ôn thi vào lớp 10 THPT, ôn cho lớp nào BGH còn tham khảo từ các
nguồn thông tin khác như: từ bản thân giáo viên giảng dạy, phụ huynh học
sinh, tổ nhóm chuyên môn… để từ đó có những quyết định đúng đắn kịp thời.
Nếu nguồn giáo viên của trường không đáp ứng được nhu cầu và nguyện
vọng ôn thi của học sinh trong trường, BGH chủ động liên hệ với các đơn vị
trường bạn trên địa bàn để mời giáo viên đến ôn thi. Tuy nhiên cần cân nhắc
giữa việc mời giáo viên trường khác đến dạy có thuận lợi trước mắt là chất
lượng giáo viên sẽ hơn, nhưng khó khăn là giáo viên học sinh chưa quen
nhau, và cái khó nữa là giáo viên tại trường sẽ không nỗ lực cố gắng phấn đấu
nữa vì lãnh đạo chưa tin tưởng mình. Ngược lại nếu giao trách nhiệm cho giáo
viên tại trường dạy ôn sẽ được lợi nhiều hơn, vừa là bồi dưỡng giáo viên của
trường mình, vừa không làm mất uy tín giáo viên của trường, và dĩ nhiên
cũng vừa có chất lượng tốt (nếu chất lượng giáo viên ở trường đạt mức Trung
kia lại không khá, thậm chí có em còn yếu và khó đạt được tới điểm 5. Do vậy
đặt ra mục tiêu là phải dạy cho học sinh tiến bộ môn còn yếu nhiều hơn để hi
vọng em sẽ có tổng điểm đạt 25 điểm. Với nhóm học sinh này nhà trường sẽ
chỉ đạo giáo viên phải nắm sát lực học của từng em, đánh giá được em này thi
sẽ đạt tầm điểm mấy, giao nhiệm vụ cho giáo viên phải theo dõi phát hiện
những kiến thức, kĩ năng còn thiếu, còn yếu, còn hổng để bồi dưỡng phụ đạo
thêm cho các em trong quá trình ôn thi để các giảm khỏa lấp những lỗ hổng
kiến thức.
- Đối với nhóm học sinh yếu:
+ Với quan điểm cũng giống như lớp phụ đạo học sinh yếu, với cách đo
chất lượng là tính điểm trung bình toàn trường như hiện nay của Sở thì mọi sự
cố gắng nỗ lực làm bài thi của các đối tượng học sinh đều có vai trò nâng
thành tích chung là như nhau, mà việc dạy để học sinh yếu tăng thêm 1 hoặc 2
điểm dễ hơn đối với các học sinh khá và giỏi. Xác định mục tiêu như vậy nên
nhà trường yêu cầu giáo viên cần quan tâm đến nhóm đối tượng này, mỗi lớp
cũng không quá nhiều em diện yếu kém, chỉ có vài em nên giáo viên cố gắng
quan tâm hơn thì có thể sát sao kèm được các em trong quá trình ôn thi.
Ngược lại chia theo lớp chọn, để rồi dồn hết học sinh yếu kém cả khối vào
vào một lớp học thì 1 giáo viên không thể kèm cặp xuể, vì khả năng chỉ có
nhất định, và nếu như thế thì vô tình ta đã bỏ mặc cho một số em học yếu. Do
vậy sẽ làm ảnh hưởng nhiều đến kết quả chung của toàn trường.
+ Với nhóm học sinh này, nhà trường chỉ đạo giáo viên lên kế hoạch ôn
tập sát với lực học thực tế của học sinh. Chỉ dạy những kiến thức kĩ năng rất
cơ bản để giúp các em không bị mất điểm các câu dễ, các câu chống điểm liệt
và điểm kém. Những đơn vị kiến thức đó sẽ được giáo viên dạy đi kiểm tra lại
nhiều lần để giúp học sinh nắm được kiến thức và kỹ năng cơ bản để khi vào
phòng thi học sinh làm bài đạt được điểm số tối đa có thể.
- Đối với nhóm các em học khá cứng và giỏi:
Ngoài việc dạy như các đối tượng học sinh đại trà ra cũng cần quan tâm
giao thêm bài cho các em; dạy cho các em thêm phần kiến thức nâng cao để
tích cho các em thấy đây là một kỳ thi quan trọng nhưng sẽ không quá nhiều
áp lực nếu các em được tập dượt thi thử và chuẩn bị tốt về tâm lí cũng như về
kiến thức.
+ Đồng thời nhà trường tổ chức cho các em học tập quy chế thi thật
nghiêm túc để tránh tình trạng các em bỡ ngỡ, mắc lỗi khi bước vào phòng
thi. Vì vậy trong quá trình tham gia thi học sinh đã có tâm lý thoải mái và
không có học sinh nào vi phạm quy chế thi đó cũng là một yếu tố tạo nên sự
thành công của nhà trường trong việc nâng cao chất lượng hàng năm. Hầu hết
các em đi thi đều đạt điểm cao hơn điểm khảo sát ở trường.
3.5.5. Tư vấn phân luồng cho học sinh
- Qua kết quả thi thử tuyển sinh vào 10, giáo viên tư vấn cho học sinh
lựa chọn trường để thi sao cho phù hợp với sức học của học sinh và điều kiện
của gia đình.
- Với học sinh có tổng điểm ở tốp cao có thể thi vào trường THPT Bình
Giang, còn lại các em tập trung thi tại trường THPT Kẻ Sặt.
- Đối với diện học sinh thi thử có tổng điểm thuộc tốp cuối thì nhà
trường tư vấn cho các em đăng kí học các một số các trường nghề như trường
Cao đẳng nghề - Thương mại và Công nghiệp đóng tại Thị trấn Lai Cách Cẩm Giàng hoặc một số trường nghề liên kết với Trung tâm GDTX - Hướng
nghiệp - Dạy nghề Bình Giang.
- Kết quả nhà trường cũng có những em đạt kết quả điểm ở tốp 5 tại
trường THPT Bình Giang và có em đứng thứ 2 tại trường THPT Nguyễn
Thiện Thuật - Mỹ Hào - Hưng Yên trong kì thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT 2
năm vừa qua.
- Thực tế việc tư vấn phân luồng cho học sinh đăng kí vào học các
trường nghề trong 2 năm qua của nhà trường vẫn chưa được tốt. Đa số các em
vẫn đăng kí tiếp tục thi tuyển vào lớp 10 THPT theo nguyện vọng của bố mẹ
mặc dù biết trước hy vọng đỗ là rất mong manh. Nếu năm học 2012 - 2013
nhà trường làm tốt được việc phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS như
22
Ngữ
Toán
văn
13
8
12
12
8
7
11
11
11
Điểm KSCL cuối kì 1
Môn
Toán
Môn Ngữ
văn
8
10
1
10
10
8
Điểm TBm
Môn
2 mặt
GD
Học
kiểm
2010
-2011
Học
lực
2011
-2012
Học
kiểm
Học
lực
Tốt
Khá
TB
Yếu
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Chỉ tiêu
SL
%
155
72
116
34
Loại
Kết quả
SL
%
97
39,9
121
49,8
25
10,3
0
0,0
7
2,9
93
38,3
126
51,9
17
7,0
36,5
48,7
14,8
0
Gần đạt KH
Vượt KH
Gần đạt KH
Vượt KH
Chưa đạt KH
Chưa đạt KH
Chưa đạt KH
Đạt KH
Vượt KH
Chưa đạt KH
Chưa đạt KH
Học
kiểm
2012
-2013
Học
lực
Học
kiểm
2013
-2014
(Học
kì 1)
Học
20
0
0
39,1
45,3
15,1
0,4
7,1
31,1
52,9
8,9
0,00
3
102
84
34
0
14
87
98
21
0
116
100
15
0
20
0,0
6,36
39,55
44,55
9,5
0,0
48,5
41,5
10
0
12,7
35,8
45
6,5
0
Chưa đạt KH
Đảm bảo và vượt Kế
hoạch đề ra, Cao hơn
so với các năm trước
Đảm bảo và vượt Kế
hoạch đề ra, Cao hơn
so với các năm trước
Đảm bảo và vượt Kế
hoạch đề ra, Cao hơn
so với các năm trước
Đảm bảo và vượt Kế
hoạch đề ra, Cao hơn
so với các năm trước
141/184 = 76.6%
(toàn huyện 90,97)
Lên lớp sau kiểm tra
lại trong hè
91,1%
163/184 = 88.6%
(toàn huyện 97,38%)
Lên lớp thẳng
87,2%
151/172 = 87,8%
Lên lớp sau kiểm tra
lại trong hè
90,8%
159/172 = 92,4%
Nội dung
Lên lớp thẳng
Lên lớp sau kiểm tra
lại trong hè
Kết quả