Phần 1: MỞ ĐẦU
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp quản lí nhằm duy trì nề nếp học
sinh và nâng cao chất lượng đại trà ở trường THCS”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản lí trường học THCS
3. Tác giả:
Họ và tên:
Nam (nữ): Nam
Ngày tháng/năm sinh:
Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm
Chức vụ, đơn vị công tác: PHT trường THCS
Điện thoại:
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
Tên đơn vị: trường THCS
Địa chỉ: Thôn
Điện thoại:
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có) :
Tên đơn vị: trường THCS
Địa chỉ:
Điện thoại:
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Các trường THCS không là trường chuyên, không là trường chất lượng cao,
có quy mô lớp trường hạng 3
7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: từ năm học 2017 - 2018.
HỌ TÊN TÁC GIẢ (KÝ TÊN)
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN
VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
1
về đổi mới công tác quản lí, về đội ngũ, về công tác phối hợp với gia đình và các
tổ chức Đoàn đội trong nhà trường...Mặc dù đã có hiệu quả đối với nhà trường
trong năm qua, tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được
sự chia sẻ và đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, các bạn đồng sự để đề tài
này được đầy đủ hoàn thiện hơn.
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến.
2.1. Điều kiện.
- Học sinh và giáo viên cấp THCS
- Đảm bảo về đội ngũ cán bộ giáo viên đủ theo cơ cấu, có trình độ chuyên
môn – nghiệp vụ, có lòng nhiệt tình
- Đảm bảo về cơ sở vật chất và phương tiện dạy học cơ bản nhất phục vụ
cho việc giảng dạy của thầy cô giáo
2
2.2. Thời gian.
- Thời gian áp dụng sáng kiến từ năm học 2017 - 2018
2.3. Đối tượng áp dụng sáng kiến.
- Một số biện pháp chỉ đạo nhằm duy trì nền nếp học sinh và nâng cao
chất lượng đại trà ở trường THCS
- Học sinh và giáo viên cấp THCS
3. Nội dung sáng kiến.
3.1. Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến.
- Đối với bất cứ nhà trường nào thì chất lượng giáo dục cũng luôn là
thước đo quan trọng về sự thành công, uy tín, thương hiệu của nhà trường. Vì
vậy, với nhiệm vụ là một phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn bản thân tôi
luôn cố gắng học hỏi, tìm tòi để tìm ra những giải pháp tốt nhất nhằm củng cố,
duy trì nền nếp học sinh, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là chất
lượng đại trà của nhà trường.
- Để nâng cao chất lượng giáo dục, tôi thiết nghĩ phải thực hiện đồng bộ
4. Giá trị và kết quả đạt được của sáng kiến.
- Trước khi chưa áp dụng sáng kiến việc rèn luyện ý thức đạo đức học
sinh và mọi hoạt động nền nếp của học sinh chưa tốt dẫn đến chất lượng đại trà
toàn trường thấp, luôn đứng ở vị trí cuối cùng trong toàn huyện.
- Sau khi áp dụng sáng kiến nền nếp học sinh được cải thiện rõ ràng, các em
đã chấp hành tốt mọi nội qui, quy định của nhà trường, đã có ý thức tu dưỡng và
rèn luyện đạo đức tốt, học sinh đã tự giác học bài và làm bài tập ở nhà thường
xuyên và đều đặn hơn. Qua đó chất lượng đại trà cũng đã được cải thiện và nâng
lên rõ rệt
5. Đề xuất và kiến nghị để thực hiện áp dụng và mở rộng sáng kiến.
- Nhà trường tiếp tục quan tâm đáp ứng đủ các điều kiện về cơ sở vật
chất, tăng cường mua tài liệu, sách tham khảo phục vụ cho việc dạy và học bộ
môn. Bên cạnh đó tạo điều kiện cho GV được đi học trên chuẩn để nâng cao
trình độ giảng dạy.
+ Phòng bộ môn có đầy đủ trang thiết bị như: máy tính có kết nối mạng
Internet, máy chiếu projecter, bàn thực hành, các dụng cụ thực hành, bồn nước
rửa.
+ Tạo điều kiện tổ chức cho thầy và trò được đi tham quan thực tế trong
các tiết ngoại khóa để học tập, từ đó sẽ thu được nhiều tư liệu quý từ thực tế mỗi
địa phương. Qua đây cán bộ cán bộ giáo viên và nhân viên thoải mái hơn qua
những chuyến tham quan, học tập, tinh thần làm việc sẽ tốt hơn, cán bộ giáo
viên, nhân viên nhà trường sẽ gắn kết hơn, cống hiến hơn
- Đối với phòng giáo dục: Thường xuyên mở các chuyên đề về bồi dưỡng
nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, nhất là các chuyên đề như “Một
số biện pháp quản lí nhằm duy trì nền nếp học sinh và nâng cao chất lượng đại
trà ở trường THCS” và các phương pháp giảng dạy hiện đại, trao đổi kinh
nghiệm dạy thêm, bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu …
- Tổ chức các buổi thảo luận và giới thiệu các sáng kiến kinh nghiệm có
chất lượng cao, ứng dụng lớn trong thực tiễn.
học cơ sở. Nếu không có các giải pháp để phát triển giáo dục trung học cơ sở tạo
nền móng vững chắc thì không thể nói đến tương lai của lớp người xây dựng và
bảo vệ tổ quốc kế tiếp của lịch sử dân tộc.
- Đối với giáo dục vùng đồng bằng miền Bắc, đặc biệt là giáo dục của
huyện được nghiên cứu, trong những năm qua đã có những bước phát triển nhất
định. Tuy nhiên, chất lượng mũi nhọn và đại trà vẫn còn rất thấp, chưa thể đáp
ứng với mục tiêu giáo dục đề ra.
- Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về
trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân,
tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, xây dựng cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Chất lượng dạy và học phụ thuộc vào quá trình dạy học. “Quá trình dạy
học là một quá trình tương tác giữa giáo viên và học sinh. Trong đó dưới tác
5
động chủ đạo như tổ chức, điều khiển của giáo viên, học sinh tự giác tích cực tự
tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đã
đặt ra”.
- Chất lượng giáo dục là trình độ và khả năng thực hiện mục tiêu giáo dục,
đáp ứng ngày càng cao nhu cầu người học và sự phát triển toàn diện của xã hội.
- Chất lượng dạy học là chất lượng của người học hay tri thức phổ thông
mà người học lĩnh hội được vốn học phổ thông toàn diện, vững chắc ở mỗi
người học, đó là chất lượng đích thực của quá trình dạy học.
- Đội ngũ giáo viên là lực lượng chủ yếu, quan trọng nhất trong mỗi nhà
trường và là lực lượng quyết định cho sự thành công của quá trình dạy học.
Năng lực chuyên môn, phương pháp sư phạm, uy tín cá nhân của mỗi giáo viên
có ảnh hưởng to lớn đến chất lượng đào tạo của nhà trường cũng như thương
hiệu của nhà trường. Uy tín của nhà trường luôn gắn liền với uy tín của giáo
viên tài năng và tâm huyết với nghề.
Giáo viên : 16 đồng chí được chia thành 2 tổ chuyên môn :
1. Tổ Khoa học Tự nhiên : 9 giáo viên
2. Tổ Khoa học Xã hội : 9 giáo viên
+ Hành chính phục vụ: 4
+ Về tổ chức đảng và đoàn thể:
Chi bộ: 16 Đảng viên chính thức
Cấp uỷ: 03 đồng chí (Hiệu trưởng, Hiệu phó, CT Công đoàn)
Công đoàn: 24 đoàn viên; BCH: 3 đồng chí (1 nam, 2 nữ)
Chi đoàn giáo viên: 8 đoàn viên, BCH gồm: 2 đồng chí
2.2. Thực trạng chất lượng giáo dục đại trà của nhà trường trước khi
nghiên cứu áp dụng:
2.2.1. Về chất lượng dạy học năm học 2016 - 2017:
Hạnh kiểm HS:
Tốt
Tổng
số HS
SL
Khá
%
SL
Chỉ tiêu KH
297
21
7,10
1
0,33
17
5,82
3
1,03
26,4
7
66,66
Yếu
6,59
0,28
Học lực HS:
Tổng
%
Chỉ tiêu
KH
297
44
14,8
6
125
42,2
4
118
39,8
6
9
3,0
4
0
Toàn
huyện
23,3
8
39,6
8
35,2
6
1,5
1
0,1
6
HS đạt danh hiệu HSG, HSTT:
Kết quả đã đạt
Kế hoạch năm học
Học sinh giỏi
22 học sinh, tỉ lệ 7,53%
14,86%
Học sinh tiên tiến
113 học sinh, tỉ lệ 38,7%
42,24%
Chất lượng GD mũi nhọn:
Kết quả đã đạt
huyện
Hiệu quả GD:
Học sinh lên lớp thẳng
Học sinh lên lớp sau kiểm tra
lại
Học sinh ở lại lớp
Học sinh tốt nghiệp THCS
Học sinh bỏ học trong năm
học
Học sinh thi đỗ vào trường
THPT công lập/số HS tốt
nghiệp, xếp thứ
Kết quả đã đạt
94,17%
98,68%
Kế hoạch năm học
96,63% trở lên
99% trở lên
2,4%
96,92%
2 HS, tỉ lệ 0,68%
không quá 1%
98,4% trở lên
không vượt quá 1%
về truyền thụ một chiều, chưa đi sâu vào nội dung kiến thức cơ bản và rèn kĩ năng
thiết yếu cho HS, dạy còn hàn lâm, cá biệt còn đọc cho HS ghi chép, sự quan tâm đến
từng đối tượng HS chưa sâu sát, hiệu quả và chất lượng dạy còn thấp.
2.3. Một số vấn đề đặt ra trong việc củng cố, duy trì nền nếp và nâng cao
chất lượng giáo dục đại trà của nhà trường:
Trên cơ sở phân tích thực trạng của nhà trường, tôi thấy muốn củng cố,
duy trì và phát huy tốt được nền nếp học sinh, từ đó nâng cao chất lượng giáo
dục đại trà của nhà trường thì cần tập trung vào một số vấn đề then chốt như sau:
- Đổi mới công tác quản lý chỉ đạo
- Cần có sự đồng lòng, quyết tâm từ tập thể lãnh đạo đến tập thể sư phạm
nhà trường và các ban ngành đoàn thể
- Xây dựng kế hoạch chuyên môn cụ thể, chi tiết, linh hoạt, phù hợp với
điều kiện thực tế của nhà trường và các hướng dẫn của các cấp các ngành.
- Bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Đề ra các giải pháp
nâng cao chất lượng giáo dục trong các buổi sinh hoạt chuyên môn theo định kỳ.
- Tạo môi trường thi đua lành mạnh, công bằng trong học sinh và giáo
viên.
- Tạo mọi điều kiện cả về vật chất và tinh thần để tất cả cán bộ giáo viên
trong trường có cơ hội học tập, nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và
khả năng cống hiến hết mình và được khẳng định mình. Khích lệ, động viên
giáo viên nhiệt tình, tâm huyết với hoạt động giáo dục của nhà trường.
- Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc quản lí
giáo dục học sinh.
3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ NHẰM DUY TRÌ NỀ NẾP HỌC SINH VÀ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẠI TRÀ Ở TRƯỜNG THCS
3.1. Giải pháp nhằm củng cố và duy trì nền nếp học sinh
- Ngoài việc theo dõi kiểm tra thi đua nền nếp của Đoàn đội hàng ngày thì
pháp cho phù hợp
- Thông báo thường xuyên tình hình học tập cũng như ý thức đạo đức của
học sinh về gia đình các em. Đặc biệt những học sinh bỏ tiết, bỏ buổi sẽ thông
báo ngay hôm đó bằng gọi điện trực tiếp hoặc hệ thống tin nhắn để gia đình học
sinh nắm được. Từ đó có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường, qua
thông tin từ nhà trường phụ huynh sẽ luôn cảm kích tới sự quan tâm của nhà
trường tới con em họ, phụ huynh biết được con em mình nói đúng hay nói dối
họ để họ đi tìm và dẫn con em mình trở lại trường, trở lại lớp học từ những quán
điện tử hay đua đòi từ những người bạn xấu.
- Làm tốt công tác huy động các lực lượng ngoài nhà trường như: hội phụ
huynh học sinh, hội khuyến học, hội cựu giáo chức, đoàn thanh niên, …hỗ trợ
nhà trường làm tốt công tác giáo dục.
- Quản lý chặt chẽ các hoạt động chuyên môn trong nhà trường như:
+ Theo dõi quản lý chặt chẽ hoạt động giảng dạy của giáo viên, việc học
tập của học sinh trong các buổi học chính khóa.
+ Việc dạy thêm buổi chiều cần làm tốt các khâu như quản lý nền nếp ra
vào lớp, theo dõi sĩ số, kiểm tra chất lượng giảng dạy của giáo viên, ý thức học
của học sinh…
+ Việc học phụ đạo HSY cần làm tốt các khâu như tuyển chọn đúng đối
tượng học sinh, động viên giáo viên giảng dạy nhiệt tình, quản lý tốt về mặt thời
gian, về chất lượng buổi dạy, kiểm tra thường xuyên việc giảng dạy và học tập
của học sinh…
+ Thường xuyên họp chuyên môn để rút kinh nghiệm và bàn các giải
pháp khắc phục những tồn tại.
- Cần có sự phối hợp chặt chẽ, gắn kết giữa: GVCN, GV trực ban, GV
đoàn đội để duy trì và thực hiện tốt các nề nếp của học sinh đồng thời có nhiều
giải pháp xử lý nghiêm những học sinh vi phạm:
10
khóa.
=> Dạy sát chương trình, trọng tâm kiến thức hệ thống câu hỏi và bài tập
ở mức độ tương đương SGK và SBT sau đó mới dạy nâng cao..
=> Hướng dẫn học sinh cách làm từng dạng bài tập ( từng bước làm từ
tìm hiểu đề, cách làm, kỹ năng làm bài, trình bầy, kiểm tra...)
+ Đối với công tác phụ đạo học sinh yếu
=> Động viên các em có tinh thần và thái độ học tập vươn lên ( phải “dỗ”
các em vì những em này thường mặc cảm vì mình học yếu )
Với GV Đoàn Đội
+ Xây dựng quy chế chấm nền nếp khoa học, hợp lí và hoạt động chấm
theo dõi của đội cờ cần chính xác, chi tiết, cụ thể (ghi rõ lỗi của HS vi phạm,
11
điểm trừ cần ghi rõ lí do); nhập điểm trên web nhà trường cần chính xác, khách
quan, nhập cả lỗi vi phạm của HS trong sổ đầu bài và cờ đỏ
+ Đảm bảo đúng thời gian trực các buổi học chính để làm công tác đội và
trong các buổi trực đội các GV phải thường xuyên đi kiểm tra để xử lý nghiêm
những học sinh vi phạm nội quy.
+ Tiết chào cờ phải được chuẩn bị kỹ trước với nội dung cô đọng, xúc tích
và tuyên dưỡng những cá nhân HS có thành tích học tập cũng như ý thức tốt
trước cờ để khích lệ HS khác. Bên cạnh đó phải phê bình và cho đứng trước cờ
những học sinh vi phạm trong tuần là răn đe những HS khác.
+ Tổ chức nhiều sân chơi bổ ích cho học sinh sau những ngày học căng
thẳng.
Với GV trực ban
+ Luôn đảm bảo đi đúng giờ và đánh trống theo đúng lịch và thời gian
quy định. Từ đó thuận lợi cho việc theo dõi việc chấp hành nội quy của nhà
trường như việc đội mũ bảo hiểm, việc thực hiền các nền nếp khác
+ Ngay trong giờ truy bài 15 phút đầu giờ việc duy trì, củng cố và ổn định
Đi học muộn
Sáng
Chiều
12
Đánh nhau
Không đội
mũ BH
Bỏ lao
động
Vi phạm
khác
GV
kí
3.2. Nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đại trà
3.2.1/ Xây dựng khối đoàn kết nội bộ
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học, cũng như củng cố lại niềm tin từ
Đảng, chính quyền địa phương và phụ huynh, nhân dân trong toàn xã việc xây
dựng mối đoàn kết nội bộ là vấn đề có tính mấu chốt tạo nên sức mạnh của tập
thể góp phần to lớn vào sự thắng lợi của nhiệm vụ năm học. Bởi có đoàn kết
mới có thành công, như lời Bác đã dạy. Để xây dựng được mối đoàn kết nội bộ
- BGH, BCH Công đoàn có vai trò rất lớn trong việc xây dựng mối đoàn
kết nội bộ. Nó được thể hiện ở mối quan hệ giữa BGH, BCH Công Đoàn và đội
ngũ giáo viên, nhân viên. Đó là sự gần gũi, cảm thông, là sự góp ý chân thành,
cởi mở, không mang tính áp đặt trên - dưới. Các đ/c làm công tác quản lí cần
biết nắm bắt tâm tư nguyện vọng của CBGV trong trường. Khi phân công công
13
việc hay giải quyết những thắc mắc không để gây ức chế đối với giáo viên. Sự
thoải mái trong tư tưởng sẽ khiến con người ta nhiệt tình và yêu mến công việc
hơn.
- Một vấn đề hết sức quan trọng trong việc xây dựng mối đoàn kết nội bộ
là phát huy tinh thần dân chủ trong trường học, sự thải mái về tư tưởng, về tinh
thần, về động lực. Ngoài ra tạo sự công bằng đối với mỗi cá nhân trong tập thể
và sự minh bạch về tài chính.
3.2.2. Đổi mới hoạt động công tác quản lí
BGH cùng đồng lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm học đã
được xây dựng, trên hết BGH cần:
- Quyết đoán mọi công việc, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm
trước tập thể và cấp trên. Đánh giá đúng thực trạng chất lượng và các điều kiện
đảm bảo chất lượng của nhà trường, phân tích tìm ra nguyên nhân của các điểm
mạnh và những hạn chế để đề ra cách giải quyết hợp lí nhất nhằm đạt mục tiêu
trong từng giai đoạn cụ thể, biết chấp nhận "hi sinh" để đạt được cái lớn hơn.
Biết lựa chọn và ưu tiên thực hiện các giải pháp có trọng tâm để đạt được mục
tiêu chính. Xây dựng chiến lược, sách lược và mục tiêu phấn đấu của nhà trường
phù hợp và khả thi trong trong điều kiện hiện tại, có tầm nhìn cho tương lai.
- Xây dựng một ngôi trường thân thiện mà ở đó mọi người biết thương
yêu và giúp đỡ lẫn nhau. Để mỗi cán bộ giáo viên cảm được sự nhân ái, thân
thiện, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Từ đó luôn yên tâm công tác và
luôn coi ngôi trường là mái nhà thứ hai, mà mỗi ngày đến trường là một ngày
quy chế có những điểm thưởng cho những người làm tốt, hiệu quả công việc
cao; bên cạnh đó cũng có những điểm trừ cho những người vi phạm như đi
chậm, muộn, bỏ, làm việc hiệu quả công tác không cao. Qua quy chế này mỗi
thành viên đều luôn cố gắng để đạt được những điểm thi đua cao nhất.
- Xây dựng quy chế khen thưởng và chi tiêu nội bộ: minh bạch, rõ ràng.
Từ đó kích thích được tinh thần làm việc nhiệt tình của anh chị em cán bộ giáo
viên, nhân viên nhà trường
3.2.4. Đổi mới công tác kiểm tra đánh giá
- Đánh giá chất lượng giáo dục gồm nhiều vấn đề, trong đó hai vấn đề cơ
bản là đánh giá chất lượng dạy của thầy và đánh giá chất lượng học của trò.
Đánh giá thực chất sẽ tạo được động lực nâng cao chất lượng dạy và học.
- Đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên: quan điểm đánh giá là hiệu
quả công việc - đó là xếp hạng chất lượng học sinh lớp mình phụ trách trên sân
chung là các đợt kiểm tra học kì và khảo sát chất lượng của toàn huyện, đánh giá
sự tiến bộ của cả lớp và của mỗi học sinh đợt sau so với đợt trước; chứ không
coi trọng kết quả thi giáo viên giỏi hay kết quả dự giờ. Do vậy giáo viên phải tập
trung bằng mọi cách để có được chất lượng thật tốt nhất. Qua kết quả của các
đợt thi khảo sát chung toàn huyện và kiểm tra chung toàn trường. BGH lập bảng
kết quả để so sánh, phân tích, đối chiếu giữa các lớp, các khối, giữa các cá nhân
HS và điều quan trọng nhất là chất lượng giảng dạy của từng thầy cô giáo.
- Tổ chức kiểm tra đánh giá, khảo sát chất lượng định kì học sinh: thực
hiện theo đúng hướng dẫn của Phòng GD&ĐT là coi chấm chéo và nghiêm túc;
đảm bảo đánh giá đúng thực chất chất lượng học sinh trường mình đang ở mức
nào, không vì thành tích xếp hạng trước mắt để rồi lớp cuối cấp ngã ngửa vì chất
lượng các lớp dưới là ảo. Kết quả khảo sát được thông báo kịp thời về gia đình
và đăng trên trang web nhà trường và gửi tin nhắn đến cha mẹ học sinh nắm
được. Nhờ làm tốt việc tổ chức coi chấm nghiêm túc, thông báo kịp thời đã có
tác dụng thiết thực. Từ đó giáo viên phải biết dạy như thế nào, học sinh phải cố
gắng học ra sao, bố mẹ cần quan tâm động viên con như thế nào. Năm học trước
phòng giáo dục tổ chức khảo sát chất lượng qua 05 lần khảo sát với 03 bộ môn
chất chính trị, đạo đức tốt; có trình độ năng lực chuyên môn và sư phạm giỏi.
Đồng thời, phải có trách nhiệm cao, nhiệt tình say mê với công việc, có kiến
thức và hiểu biết sâu rộng. Có kinh nghiệm và phương pháp dạy phù hợp bộ
môn và là người biết tạo cho học sinh động cơ thái độ học tập đúng đắn, tạo
niềm say mê yêu thích và niềm hứng thú trong học tập cho học sinh. Bồi dưỡng
giáo viên theo các nội dung: Nhận thức về tư tưởng chính trị, phẩm chất nghề
nghiệp; năng lực chuyên môn; năng lực sư phạm; kinh nghiệm thực tế và bồi
dưỡng các kiến thức hỗ trợ. Với những nội dung trên, ngay từ đầu năm học căn
cứ vào điều kiện thực tế đội ngũ và năng lực tay nghề của mỗi giáo viên, Ban
giám hiệu nhà trường nghiên cứu phân công giáo viên đã được công nhận là
giáo viên giỏi các cấp, có chuyên môn vững vàng, có lòng yêu nghề mến trẻ,
tâm huyết với các công việc dạy bồi dưỡng các đội tuyển học sinh giỏi. Tổ chức
các chuyên đề phục vụ cho nâng cao chất lượng giảng dạy, chất lượng bồi dưỡng
học sinh giỏi giúp giáo viên học hỏi nâng cao nghiệp vụ chuyên môn. Tổ chức
các buổi trao đổi, tọa đàm nêu kinh nghiệm bồi đưỡng học sinh giỏi để đạt được
kết quả cao để giáo viên khác học tập. Tạo điều kiện cho giáo viên đi học nâng
chuẩn, nâng cao năng lực chuyên môn phục vụ có hiệu quả cho công tác giảng
dạy đặc biệt là công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
16
Phát hiện và tuyển chọn học sinh giỏi
Việc phát hiện học sinh giỏi của nhà trường được thông qua các tiết dạy,
dựa trên nền kiến thức học sinh đại trà. Giáo viên theo dõi sự nhạy bén của học
sinh đối với từng môn học thông qua những câu trả lời trên lớp, quan tâm đến
những học sinh có nhận thức tư duy thể hiện tính linh hoạt, sáng tạo mềm dẻo
khi giải quyết nhiệm vụ học tập. Ngoài ra, việc phát hiện học sinh giỏi còn được
kết hợp với các bài kiểm tra khảo sát chất lượng, với việc phỏng vấn để tìm ra
những học sinh thông minh, trí tuệ, có khả năng sáng tạo, tinh thần say mê ham
học. Để tuyển chọn đúng đối tượng học sinh giỏi, Ban giám hiệu chỉ đạo giáo
Lưu ý các biện pháp khích lệ
Để giáo viên bồi dưỡng các đội tuyển học sinh giỏi của nhà trường nhận
thức sâu sắc hơn trọng trách của mình, đồng thời phấn khởi, say mê hơn với
17
công việc được giao, nhà trường cần luôn đổi mới, cải tiến chế độ, chính sách thi
đua, khen thưởng kịp thời, công bằng, khách quan, dựa trên những tiêu chí cụ
thể, phù hợp.
Ví dụ, khuyến khích động viên giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi như trừ
giờ, đánh giá thi đua, thưởng tiền những đội đạt giải cao theo các mức khác
nhau. Với học sinh, nhà trường gặp mặt động viên, tuyên dương dưới cờ và
thưởng bằng hiện vật và bằng tiền như quy định.
3.2.5.2/ Tăng cường phụ đạo học sinh yếu
Sau khi đã ổn định nền nếp học sinh ngay từ đầu năm học; việc quan
trọng tiếp theo đó là làm thế nào để chất lượng đại trà được đảm bảo. Trong đó
việc quan tâm tới đối tượng học sinh yếu là nhiệm vụ rất quan trọng; bởi không
chú ý và không quan tâm tới đối tượng này thì chất lượng đại trà của nhà trường
khó lòng có thể có kết quả cao.
- Lựa chọn HS, thành lập lớp phụ đạo:
Căn cứ vào kết quả của năm học trước và kết quả khảo sát đầu năm, giáo
viên lập danh sách các học sinh yếu để thành lập mỗi khối 1 lớp học phụ đạo 2
môn Ngữ văn và Toán gồm các em có điểm môn Ngữ văn và Toán dưới 5,0 nộp
về Ban giám hiệu nhà trường, mỗi lớp khoảng 10 em. Danh sách này được phổ
biến đến giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn cùng nắm được. Danh sách
này được điều chỉnh thêm bớt vào thời điểm đầu học kì 2 sau khi có kết quả của
học kì 1.
- Phân công chuyên môn, giao nhiệm vụ cho GV, tổ chức dạy phụ đạo:
+ Vì hầu hết giáo viên chưa đủ định mức giờ dạy quy định (tổng số giờ
của nhà trường còn thiếu gần 50 tiết), để khai thác triệt để hơn nhà trường bố trí
để tạo sự thi đua tích cực giữa 2 giáo viên trong khối, ai cũng muốn lớp mình có
chất lượng cao, không kém lớp bạn.
- Việc xây dựng kế hoạch dạy tự chọn cũng đã được thực hiện đồng thời
với giải pháp tạm bỏ phòng Tin học, nhà trường chuyển học tự chọn Tin học
sang học theo chủ đề bám sát môn Toán, Ngữ văn.
- Tôi chỉ đề cập đến việc bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho
giáo viên. Có nhiều biện pháp để phát triển đội ngũ giáo viên. Với đặc điểm tình
hình riêng của nhà trường và vận dụng các nguyên tắc bồi dưỡng phát triển, cụ
thể:
3.2.6.1. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và lòng nhân ái sư phạm
- Trong quá trình bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ, phẩm chất đạo
đức của người thầy phải được coi trọng. Trong bất cứ hoàn cảnh nào người thầy
cũng phải xứng đáng là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Vì vậy lãnh đạo
nhà trường khi xây dựng phong cách người thầy phải chú ý tới hai mặt. Đó là
thái độ đối với công việc và cách ứng xử trước những vấn đề, tình huống trong
quan hệ với cấp trên, với đồng nghiệp, với học sinh hoặc tình huống của thế thái
nhân tình. Người thầy muốn làm tốt công tác giáo dục phải có tác phong mẫu
mực, tôn trọng và công bằng trong đối xử với học sinh, phải xây dựng uy tín
trước học sinh, nhân dân và xã hội. Dù trong hoàn cảnh nào cũng không làm
hoen ố danh dự người thầy. Phải xây dựng thói quen làm việc có kỷ cương, nền
nếp, lương tâm, trách nhiệm. Thông qua bồi dưỡng tư tưởng chính trị cho thầy
cô giáo thêm tự hào, gắn bó với nghề, với trường để tạo động lực phát triển nhà
trường.
- Lòng nhân ái sư phạm đội ngũ giáo viên là nội dung quan trọng trong
công tác bồi dưỡng chất lượng giáo viên. Lòng nhân ái - tình yêu thương con
người là cái gốc của đạo lý làm người. Với giáo viên thì tình yêu thương ấy là
cốt lõi, là cội nguồn sâu xa của lý tưởng nhân văn, là đặc trưng của giáo dục.
Tình thương yêu học sinh là điểm xuất phát của mọi sự sáng tạo sư phạm và làm
cho giáo viên có trách nhiệm cao với công việc. Tình yêu thương học sinh thể
hiện trong các hoạt động dạy học và giáo dục, đó cũng là điểm xuất phát của
thể học sinh, là người trực tiếp giáo dục học sinh, trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra,
đánh giá công bằng, khách quan quá trình rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng của học
sinh trong lớp, là người trực tiếp làm việc với cha mẹ học sinh. Do đó giáo viên
chủ nhiệm cần rèn luyện kỹ năng vận dụng các tri thức khoa học giáo dục vào
thực tiễn sinh động và đa dạng trong quá trình giao tiếp, giáo dục học sinh của
mình.
3.2.6.3. Bồi dưỡng năng lực chuyên môn
*) Bồi dưỡng thông qua hoạt động của tổ nhóm chuyên môn:
Đây là một hoạt động mang tính thường xuyên, một hoạt động chính để
nâng cao hiệu quả giảng dạy. Cụ thể trong các hoạt động này các nhóm tổ
chuyên môn, tổ chức giải đề thi học sinh giỏi huyện, học sinh giỏi tỉnh của
những năm học trước; trao đổi, thảo luận những vướng mắc trong phương pháp
dạy, những vấn đề khó trong từng bài dạy để mọi giáo viên tham gia và cùng
thống nhất phương cách hay nhất, tối ưu nhất. Dự giờ thăm lớp, rút kinh
nghiệm, tổ chức hội giảng nhân dịp các ngày lễ lớn như: 20/11; 22/12; 03/02;
26/3; ... Sau mỗi tiết giảng nhóm, tổ họp đóng góp ý kiến rút kinh nghiệm, chỉ ra
những hạn chế, thiếu sót trong cách dạy, cách truyền thụ kiến thức, tác phong,
20
trình bày bảng và đánh giá, xếp loại tiết dạy theo các tiêu chuẩn đã được quy
định của mới của Sở GD&ĐT. Thông qua các hoạt động này, trình độ chuyên
môn của giáo viên được điều chỉnh, bổ sung và được nâng lên rõ rệt.
*) Tự bồi dưỡng:
Hàng năm nhà trường đã trang bị cho mỗi giáo viên các loại sổ: Sổ điểm
cá nhân, sổ dự giờ, sổ ghi kế hoạch giảng dạy, ... Đồng thời mua sắm thêm tài
liệu, sách tham khảo, khuyến khích giáo viên mua thêm sách tham khảo quý,
hiếm cho nhà trường; nhà trường sẽ thanh toán kinh phí; giáo viên tự mua sách
tham khảo, báo chí; ghi chép những kiến thức mình thấy có ích và cần thiết cho
bản thân, các bài giảng, đề thi học sinh giỏi, ...
cần để phối hợp với các ban ngành đoàn thể trong và ngoài nhà trường giải
quyết.
3.2.7.2/ Đối với học sinh yếu kém:
Dựa trên cơ sở khảo sát đầu năm, giáo viên bộ môn lập danh sách, xác
định mức độ và nguyên nhân yếu kém từng môn đối với mỗi học sinh từ đó xây
dựng và thực hiện kế hoạch phụ đạo giúp đỡ học sinh yếu kém vươn lên trong
học tập. Giáo viên bộ môn lớp nào trực tiếp phụ đạo học sinh lớp đó để tiện việc
theo dõi sự tiến bộ của các em.
- Giáo viên chủ nhiệm xây dựng đôi bạn học tập để các em giúp đỡ nhau
trong học tập và rèn luyện, phân công học sinh có học lực khá giúp đỡ những
bạn học yếu, hàng tháng có nhận xét khen thưởng.
- Giáo viên chủ nhiệm tăng cường giám sát chuyên cần học tập của học
sinh, thường xuyên theo dõi sổ đầu bài, sổ gọi tên ghi điểm để nắm tình hình học
tập hoạt động của lớp. Thường xuyên liên hệ chặt chẽ với phụ huynh học sinh
yêu cầu họ phối hợp trong công tác giáo dục .
3.2.7.3/ Đối với học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn:
- Giáo viên chủ nhiệm tìm hiểu chính xác học sinh có hoàn cảnh gia đình
khó khăn, báo về BGH để có giải pháp hỗ trợ thiết thực, hiệu quả, không để tình
trạng học sinh bỏ học vì kinh tế gia đình khó khăn.
- BGH nhà trường báo cáo với chính quyền địa phương, kêu gọi sự hỗ trợ
của các tổ chức đoàn thể, hội khuyến học hỗ trợ học bổng và điều kiện học tập,
miễn giảm các khoản đóng góp cho các em thuộc đối tượng này.
3.2.7.4/ Đối với học sinh lười học, ham chơi, học sinh cá biệt:
Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên phối hợp với cha mẹ học sinh trong diện
này để thông báo tình hình học tập rèn luyện của từng học sinh và bàn biện pháp
giáo dục, đặc biệt để cảm hoá giáo dục; phối hợp với Hội phụ huynh; Đoàn
thanh niên, Đội thiếu niên, giúp đỡ các em trong học tập và hướng các em đến
việc gắn bó hơn với nhà trường...
3.2.8. Đổi mới phương pháp giảng dạy, quản lí và giáo dục học sinh
- Có thể phương pháp dạy chưa có phương pháp phù hợp với các đối
Không yêu cầu học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức - kĩ năng làm hết tất cả các
bài trong SGK
- HS hổng kiến thức ở đâu ta phải có kế hoạch ôn tập cho em ở đó: Ví dụ
khi tính giá trị biểu thức các em làm bài sai, hoặc không biết làm, GV phải cho
HS nhắc lại thứ tự thực hiện các phép tính trong một biểu thức, hoặc HS không
biết cách thực hiện phép nhân, chia chứng tỏ HS đó không thuộc bảng cửu
chương, GV phải yêu cầu học sinh đọc thuộc bảng cửu chương.
- Bố trí chỗ ngồi để GV dễ theo dõi, dễ quan sát
- Phân công HS có năng khiếu giúp đỡ bạn ở trường, ở nhà. Tạo ra các
nhóm học tập, thi đua trong các nhóm có học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức, kĩ
năng.
- Thường xuyên kiểm tra bài cũ các em.
- Luôn ưu tiên các em chưa đạt chuẩn kiến thức - kĩ năng, mỗi khi các em
dơ tay xây dựng bài, đồng thời phải tuyên dương, động viên các em mỗi khi các
em trả lời đúng.
24
- Đối với các buổi hai giáo viên phải có kế hoạch giảng dạy cho học sinh
chưa đạt chuẩn kiến thức - kĩ năng, em nào chưa đạt chuẩn kiến thức - kĩ năng
chỗ nào cần phải bù cho em kiến thức cũng như cho các em tự luyện các dạng
bài tập thêm.
- Trong buổi sinh hoạt chuyên môn hàng tháng (2 tuần/lần) giáo viên chủ
nhiệm báo cáo tiến độ tiếp thu bài của những học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức
- kĩ năng cho Tổ trưởng và giáo viên cùng môn, từ đó giáo viên nào còn vướng
mắc thì được tập thể giáo viên trong nhóm chuyên môn góp ý bổ sung. Theo tôi,
Để nâng một em chưa đạt chuẩn kiến thức - kĩ năng lên đạt chuẩn kiến thức - kĩ
năng điều đó rất khó đòi hỏi sự tận tâm, nhiệt tình và không nản chí của giáo
viên.
- Mỗi giáo viên đều có nghệ thuật riêng của mình trong giảng dạy để tạo