Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng nghiên cứu tại các ngân hàng thương mại việt nam - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
-----------------------

HUỲNH THỊ VĨ DẠ

MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO THANH KHOẢN
VÀ RỦI RO TÍN DỤNG:
NGHIÊN CỨU TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
------------------------

HUỲNH THỊ VĨ DẠ

MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO THANH KHOẢN
VÀ RỦI RO TÍN DỤNG:
NGHIÊN CỨU TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số:
8340201


1.4 Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................3
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu ........................................................................................3
1.6 Kết cấu của luận văn ......................................................................................4
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT ........................................................................5
2.1 Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng ...............................................................5
2.1.1 Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng ...........................................5
2.1.2 Ảnh hưởng của rủi ro đến hoạt động kinh doanh ngân hàng và nền kinh
tế-xã hội................................................................................................................6
2.2 Rủi ro thanh khoản ........................................................................................7
2.2.1 Phân loại rủi ro thanh khoản ...................................................................7
2.2.2 Các nguyên nhân dẫn tới rủi ro thanh khoản ..........................................7
2.3 Rủi ro tín dụng .............................................................................................11
2.3.1 Phân loại rủi ro tín dụng .......................................................................11
2.3.2 Đánh giá rủi ro tín dụng ........................................................................11
2.3.3 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng ..............................................................12
2.3.4 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng ......................................................13
2.4 Lý thuyết về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng .........13
2.5 Giả thuyết nghiên cứu ..................................................................................19
2.6 Thực trạng rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam ....19
2.7 Thực trạng về rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam ......24
CHƯƠNG 3. DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .........................27
3.1 Dữ liệu nghiên cứu ......................................................................................27
3.2 Mô hình nghiên cứu .....................................................................................27
3.2.1 Biến nghiên cứu ....................................................................................27
3.2.2 Các biến kiểm soát ................................................................................29


3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu ....................................................................34
3.3.1 Dữ liệu bảng ..........................................................................................34
3.3.2 Mô hình hồi quy ....................................................................................35

NHNN

Ngân hàng Nhà nước

RRTK

Rủi ro thanh khoản

RRTD

Rủi ro tín dụng

FDIC

Tổng Công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ

OCC

Văn phòng giám sát tiền tệ Mỹ

CP
OMO

Thương phiếu
Nghiệp vụ thị trường mở

IFS

Thống kê tài chính quốc tế


Bảng 2.4 Nợ xấu của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2010-2017 .............................24
Bảng 2.5 Tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ vay của các ngân hàng 2009-2017 ................25
Bảng 2.6 Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng / Nợ quá hạn của các ngân hàng 2009-2017......26
Bảng 3.1 Mô tả các biến trong nghiên cứu .................................................................32
Bảng 4.1. Thống kê mô tả các biến .............................................................................39
Bảng 4.2. Ma trận tương quan giữa các biến ..............................................................41
Bảng 4.3. Kết quả hồi quy toàn bộ giai đoạn ..............................................................43


1

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngân hàng ngày càng mở rộng và phát
triển các sản phẩm với nhiều tiện ích nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Tuy
nhiên, việc mở rộng quy mô cũng như đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ của ngân
hàng, các ngân hàng thương mại (NHTM) luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro. Khi rủi
ro xảy ra, cũng là lúc NHTM phải đối mặt với những nguy cơ như: giảm uy tín, mất
khả năng thanh khoản, thậm chí là đi tới phá sản. Hai trong số những rủi ro mà ngân
hàng phải đối mặt là rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng.
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về rủi ro thanh khoản và rủi ro
tín dụng của ngân hàng. Chẳng hạn như: Bryant (1980) hay Diamond & Dybvig
(1983) cho rằng, tài sản và cấu trúc nợ có sự gắn kết chặt chẽ với nhau, đặc biệt đáng
chú ý là những khoản nợ không đòi được và việc rút tiền đột ngột của khách hàng.
Điều đó không chỉ đúng với tài khoản nội bảng mà còn đúng với việc cho vay và tài
trợ vốn thông qua tài khoản ngoại bảng (Holmstrom & Tirole 1996; Kashyap và cộng
sự 1999).
Dựa trên những mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản
và rủi ro tín dụng, nội dung của một số nghiên cứu gần đây chủ yếu tập trung xem
xét sự tương tác của rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và tác động của sự tương tác

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các
NHTM ở Việt Nam.
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Từ mục tiêu của đề tài, nghiên cứu này sẽ đi trả lời các câu hỏi sau:
-

Có tồn tại mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng hay không
và chiều hướng của mối quan hệ này là như thế nào?

-

Các biến kiểm soát nào tác động đến rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản
của các NHTM ở Việt Nam?


3

1.3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản (rủi ro khi
NHTM không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động
các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán; hoặc do các nguyên
nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán của NHTM) và rủi ro tín dụng tại
các NHTM Việt Nam.
Dữ liệu được lấy từ các báo cáo tài chính của NHTM Việt Nam từ năm 2009
đến năm 2017.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu được sử dụng phân tích trong luận văn được thu thập từ báo cáo tài

tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên
cứu, ý nghĩa nghiên cứu.
Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu, các giả thuyết liên
quan đến nội dung, và các nghiên cứu trước có liên quan.
Chương 3: Mô hình, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Trình bày cách đo
lường các biến, thiết kế mô hình và phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Thực hiện phân tích dữ liệu và kết quả nghiên
cứu.
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách. Từ kết quả nghiên cứu đưa ra kết luận
cho đề tài, từ đó nêu những mặt hạn chế của đề tài đồng thời đề xuất hướng nghiên
cứu tiếp theo.


5

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1

Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

2.1.1 Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được biết đến như là những biến cố không
mong đợi mà gây ra tổn thất về tài sản của ngân hàng khi có phát sinh, làm sụt giảm
lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để hoàn
thành công việc. Nó là những mất mác ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình hoạt động
kinh doanh tác động xấu đến sự ổn định và phát triển của ngân hàng.
Khi đề cập đến vấn đề rủi ro người ta thường quan tâm đến biên độ và tần suất
xuất hiện của rủi ro để đánh giá ảnh hưởng của rủi ro đến hoạt động kinh doanh. Bởi
lẽ, rủi ro là yếu tố khách quan nên người ta không thể nào loại trừ được hẳn mà chỉ


2.1.2 Ảnh hưởng của rủi ro đến hoạt động kinh doanh ngân hàng và nền kinh
tế-xã hội
Rủi ro xảy ra sẽ gây ra tổn hại, mất mát tài sản của ngân hàng như là bị mất
vốn vay, chi phí hoạt động gia tăng, lợi nhuận giảm và giá trị của tài sản cũng bị giảm
sút. Đồng thời, rủi ro xảy ra có thể làm giảm uy tín của ngân hàng, mất đi sự tín nhiệm
của khách hàng và có thể đánh mất cả thương hiệu. Khi ngân hàng liên tục kinh doanh
bị lỗ hay thường xuyên mất khả năng thanh khoản có thể dẫn đến cuộc rút tiền quy
mô lớn và vỡ nợ có thể xảy ra. Khi ngân hàng bị vỡ nợ và phá sản sẽ ảnh hưởng đến
hàng loạt người gửi tiền, hàng ngàn doanh nghiệp. Do không đáp ứng được vốn kịp
thời làm cho nền kinh tế suy thoái, giá cả leo thang, sức mua giảm, thất nghiệp tăng
cao và mất ổn định trật tự xã hội. Ngoài ra, một ngân hàng nào đó bị phá sản còn tạo
nên sự hoang mang, hoảng loạn trong người dân làm họ mất lòng tin vào cả hệ thống
ngân hàng gây ảnh hưởng xấu đến các ngân hàng khác và ảnh hưởng đến cả nền kinh
tế.
Hơn nữa, rủi ro trong hoạt động tín dụng cũng ảnh hưởng đến kinh tế thế giới
vì khi nước ta hội nhập thế giới và toàn cầu hóa về kinh tế như hiện nay, nền kinh tế
của mỗi nước đều phụ thuộc vào tình hình kinh tế khu vực và thế giới. Cũng như quan
hệ tiền tệ, đầu tư giữa các quốc gia đang phát triển rất nhanh nên rủi ro tín dụng của
một nước cũng ảnh hưởng ít nhiều đến các nước khác có liên quan. Thực tiễn đã
chứng minh cho ta thấy qua cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á (1997), khủng hoảng
tài chính Nam Mỹ (2001-2002) và gần đây là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
(2007-2008). Như vậy, công tác nhận biết, phân tích rủi ro là hết sức quan trong nhằm
góp phần vào công cuộc kiểm soát và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của ngân
hàng. Từ đó, giúp cho hoạt động của hệ thống ngân hàng diễn ra suông sẻ và hiệu quả
hơn.


7


tiền cần đáp ứng việc thanh toán khi đến hạn của các tài sản nợ, gây ra khó khăn cho
ngân hàng phải lo tìm nguồn bù đắp.


8

Thứ hai, do các ngân hàng không dự tính được nhu cầu rút tiền hoặc các nghĩa
vụ phải trả tiền. Khi nhu cầu rút tiền và nghĩa vụ trả tiền vượt quá mức dự tính, các
ngân hàng này sẽ gặp khó khăn về thanh khoản.
Thứ ba, do tiềm lực tài chính của ngân hàng còn hạn chế. Vốn điều lệ là số
vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, ghi trong điều lệ của ngân hàng, được hình thành
khi ngân hàng thương mại mới được thành lập. Nó phản ánh quy mô hay thực lực tài
chính của ngân hàng thương mại. Nếu vốn điều lệ của ngân hàng thương mại càng
cao, chứng tỏ ngân hàng càng có tiềm lực tài chính và ngược lại nếu vốn điều lệ của
ngân hàng thương mại càng ít thì quy mô hoạt động của ngân hàng càng nhỏ. Các
ngân hàng nhỏ thường khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn hoặc chỉ vay được
với lãi suất cao, đặc biệt là đối với nguồn vốn vay. Có thể nói áp lực rất lớn khi các
ngân hàng này phải gánh chịu chi phí cao để có thể khắc phục khó khăn trong việc
giải quyết vấn đề thanh khoản. Quy mô vốn điều lệ nhỏ có thể là một trong những
nguyên nhân đẩy ngân hàng thương mại đến tình trạng mất khả năng chi trả và phá
sản khi nhu cầu thanh khoản tăng đột ngột.
Thứ tư, do kinh doanh nhiều loại tiền tệ, tạo nên rủi ro thanh khoản và yêu cầu
tài trợ trong từng loại tiền tệ.
Thứ năm, do uy tín của ngân hàng bị giảm khiến khách hàng gửi tiền nhanh
chóng rút tiền gây nên rủi ro thanh khoản. Đây là hệ quả của việc kinh doanh yếu
kém, công tác quảng cáo chưa được đầu tư thỏa đáng.
Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, do các tài sản tài chính có tính nhạy cảm với sự biến động của lãi
suất. Lãi suất thay đổi ảnh hưởng lớn đến tâm lý của người gửi tiền. Trường hợp lãi
suất tăng, khách hàng sẽ rút tiền để gửi vào nơi có lãi suất cao hơn còn các khách

ứng nhu cầu thanh khoản.
Thứ ba, khuôn khổ pháp lý về an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín
dụng. Các cơ chế chính sách, văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động của ngân hàng
được ban hành một cách rõ ràng, cụ thể như cách thức tổ chức hoạt động của cơ quan
giám sát ngân hàng, sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác giám sát từ xa và thanh tra
tại chỗ sẽ góp phần đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Thứ tư, do chu kỳ kinh doanh của khách hàng. Theo thời vụ ở những tháng
cuối năm các doanh nghiệp thường đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, quyết toán công


10

nợ cho những doanh nghiệp khác, chi trả lương thưởng cho cán bộ nhân viên, thực
hiện cam kết giải ngân cho các đối tác, giải quyết hàng tồn kho, nhập khẩu hàng
hóa…tạo nên nhu cầu tiền nhiều vào những tháng cuối năm làm tăng cầu về thanh
khoản cho ngân hàng thương mại.
Thứ năm, do tính chất đặc biệt của ngành kinh doanh tiền tệ đòi hỏi ngân hàng
thương mại phải luôn sẵn sàng đáp ứng cầu chi trả tức thì. Đối với lĩnh vực kinh
doanh khác, các doanh nghiệp có thể trì hoãn nợ với khách hàng, chậm thanh toán
với đối tác, thậm chí chủ động chiếm dụng vốn của đối tác kinh doanh…nhưng với
ngân hàng thương mại kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ hết sức nhạy cảm, ngân hàng
thương mại không thể trì hoãn chi trả. Bất cứ một sự chậm trễ thanh toán nào đều có
thể gây tâm lý lo lắng trong công chúng và nếu ngân hàng thương mại không giải
quyết ngay khó khăn này, khách hàng có thể kéo đến ngân hàng để rút tiền, khó khăn
thanh khoản sẽ trở nên trầm trọng và ngân hàng thương mại có thể bị phá sản. Mặt
khác, trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng thương mại , bên tài sản nợ luôn có
một tỷ lệ nhất định các khoản tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn nhưng có
thể rút trước hạn. Đây là những tài sản nợ mà ngân hàng thương mại có nghĩa vụ phải
trả ngay lập tức nếu khách hàng có nhu cầu rút, vì thế ngân hàng thương mại luôn
luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản.

việc quản lý danh mục cho vay. Rủi ro danh mục gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
2.3.2 Đánh giá rủi ro tín dụng
Ngân hàng dựa vào việc đánh giá rủi ro tín dụng để kiểm soát tốt hoạt động
cấp tín dụng và có những giải pháp thích hợp nhằm hạn chế rủi ro xảy ra. Trần Hoàng
Ngân (2011) đánh giá rủi ro tín dụng thông qua các chỉ số sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa tổng các khoản nợ quá hạn so với tổng
dư nợ ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý hoặc cuối năm. Chỉ
tiêu này cho thấy khả năng thu hồi vốn của ngân hàng đối với các khoản vay. Tỷ lệ
nợ quá hạn càng cao thể hiện chất lượng các khoản tín dụng của ngân hàng càng kém
và ngược lại.
Tỷ lệ nợ quá hạn

Dư nợ quá hạn

x 100%
Tổng dư nợ cho vay
Theo quy định của Ngân hàng nhà nước, tỷ lệ nợ quá hạn của các ngân hàng
thương mại không vượt quá 5%.

=


12

Tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa tổng các khoản nợ xấu so với tổng dư nợ
ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý hay cuối năm. Đây là chỉ
tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng tại các ngân hàng thương mại.
Tỷ lệ nợ xấu

Tổng dư nợ cho vay
Khoản xóa nợ ròng là mức tổn thất thật sự, phản ánh mức độ rủi ro trong hoạt
động tín dụng của ngân hàng. Vì vậy, tỷ lệ xóa nợ cao cho thấy hoạt động tín dụng
của ngân hàng bị tổn thất lớn, danh mục tín dụng có chất lượng thấp, hoạt động kinh
doanh không hiệu quả.
Tỷ lệ khả năng bù đắp rủi ro tín dụng:
Tỷ lệ khả năng
bù đắp RRTD

=

Dự phòng RRTD được trích lập
Nợ quá hạn khó đòi

x 100%

2.3.3 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Khi ngân hàng huy động vốn ngân hàng phải trả lãi và vốn cho khoản tiền huy
động được khi đến hạn, nếu gặp rủi ro tín dụng thì ngân hàng không thu được cả vốn
gốc và lãi cho vay khi đó ngân hàng bị mất cân đối trong thu chi, vòng quay vốn tín
dụng bị chậm lại làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả có thể mất khả năng


13

thanh khoản từ đó làm giảm lòng tin của người gửi tiền từ đó ảnh hưởng đến uy tín
của ngân hàng đưa ngân hàng đến phá sản.
Đối với nền kinh tế
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính, có chức năng huy động vốn


Theo lý thuyết hiện đại trung gian tài chính, ngân hàng tồn tại bởi vì nó thực
hiện hai vai trò chính trong nền kinh tế đó chính là tạo ra tính thanh khoản và chuyển
đổi những rủi ro. Nghiên cứu xây dựng từ nền tảng hai nghiên cứu lớn liên quan đến
kinh tế vi mô trong ngân hàng: thuyết trung gian tài chính đại diện nổi bật là Bryant
(1980a) và Diamond and Dybvig (1983a) về sau có mô hình, nghiên cứu mở rộng của
Qi (1994) hay Diamond (1997) đã giải thích cách những ngân hàng làm việc và những
nguy cơ mà chính hoạt động ngân hàng mang lại. Họ nghiên cứu từ những tổ chức
công nghiệp mở rộng đến ngân hàng, mà nổi bật chính là mô hình ngân hàng của
Monti-Klein và những nghiên cứu liên quan sau đó.
Một số nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng có mối quan hệ giữa rủi ro thanh
khoản và rủi ro tín dụng. Mô hình của Monti-Klein và những mở rộng của mô hình
này của Prisman et al. (1986) cho rằng việc trả nợ không đúng kỳ hạn hay mất khả
năng trả nợ của người đi vay tiền cùng với việc rút tiền đột ngột khỏi tài khoản từ các
quỹ được cho là nguyên nhân làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Bởi ngoài vốn cổ
phần, những khoản nợ khác và chứng khoán sẵn sàng bán thì một ngân hàng muốn
tối đa hóa lợi nhuận chỉ khi họ gia tăng khoảng cách của lãi suất tiết kiệm và cho vay,
từ đó hình thành một tỷ lệ tái cấp vốn ngoại sinh cũng như dẫn đến rủi ro ngẫu nhiên
từ những người đi vay tiền và rút tiền từ các quỹ. Còn theo nghiên cứu của Dermine
(1986) cho rằng khi gặp rủi ro thanh khoản lợi nhuận thu được sẽ thấp hơn chi phí,
khi đó khoản vay mất khả năng chi trả sẽ tăng lên và nó chính là nguyên nhân làm
giảm lưu lượng tiền mặt và khấu hao.
- Một số nghiên cứu thực nghiệm xem xét mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản
và rủi ro tín dụng:
Berger & Bouwman (2009) đã sử dụng dữ liệu gồm tất cả ngân hàng Mỹ từ
năm 1993-2003. Kết quả cho thấy việc tạo ra thanh khoản của ngân hàng tăng lên
mỗi năm và vượt quá 2,8 nghìn tỷ USD trong năm 2003. Các ngân hàng lớn, các
thành viên của công ty sở hữu đa ngân hàng, ngân hàng bán lẻ và các ngân hàng sáp
nhập gần đây tạo ra tính thanh khoản nhiều nhất. Mối quan hệ giữa vốn và việc tạo


nghiên cứu chứng minh rằng, người gửi tiền có ảnh hưởng cơ bản đến sự phá sản của
một ngân hàng.


16

Một số nghiên cứu cho rằng rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng có mối tương
quan cùng chiều và giả định này được đưa ra bởi thuyết trung gian tài chính theo mô
hình của Bryant (1980a) và Diamond and Dybvig (1983a). Theo Samartın (2003)́ và
Iyer and Puria (2012) thì cho rằng những yếu tố ngoại sinh của mô hình chỉ ra những
tài sản rủi ro của ngân hàng cùng với sự không chắc chắn về thanh khoản của nền
kinh tế là nguyên nhân khơi màu làm cho hoạt động ngân hàng trở nên hoảng loạn
đồng thời cho rằng rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng sẽ quan hệ cùng chiều và
cùng nhau góp phần gây nên sự mất ổn định trong ngân hàng. Quan điểm về mối quan
hệ cùng chiều giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng cũng được đưa ra bởi nhóm
rất mới và tập trung vào giai đoạn khủng hoảng kinh tế 2007-2008 đó là các nghiên
cứu của Diamond and Rajan (2005), Acharya and Viswanathan (2011), Gorton and
Metrick (2012) và He and Xiong (2012b).
Nghiên cứu của Diamond and Rajan (2005) được xây dựng và phát triển trên
mô hình của Diamond and Rajan (2001) khẳng định rằng rủi ro tín dụng cùng với rủi
ro thanh khoản có cao hơn hay không phụ thuộc vào nhu cầu của những người gửi
tiền bởi vì nếu có quá nhiều dự án kinh tế không khả thi mà vốn của nó từ các khoản
vay mượn thì ngân hàng không thể thỏa mãn nhu cầu của những người gửi tiền khi
họ cần rút tiền. Nếu những tài sản của những dự án này ngày càng giảm giá trị thì
ngày càng nhiều người gửi tiền sẽ yêu cầu lấy lại những khoản tiền gửi của họ. Mô
hình của Acharya and Viswanathan (2011) dựa trên giả định rằng những công ty tài
chính tăng khoản nợ lên và tái tục qua các năm cũng được xem như là tài sản tài
chính. Một khi nợ trong hệ thống ngân hàng càng nhiều thì lợi tức hoạt động của ngân
hàng càng gặp rủi ro đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng khi mà giá trị của tài sản bị
hao hụt, ngân hàng gặp khó khăn trong việc xoay sở các khoản nợ và khi đó ngân

các ngân hàng ở Mỹ.
Khi phân tích về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng, một
số nghiên cứu đã chỉ ra rằng hai loại rủi ro này có mối quan hệ cùng chiều. Như
Dermine (1986), một khoản vay không đòi được nợ làm tăng rủi ro thanh khoản vì
khoản vay đó gây ra sự sụt giảm của dòng tiền và khấu hao. Theo nghiên cứu này, rủi
ro thanh khoản và rủi ro tín dụng có sự tương quan dương. Samartın (2003) và ́ Iyer
& Puri (2008) cho thấy các tài sản rủi ro của ngân hàng cùng với sự không chắc chắn
về nhu cầu thanh khoản của nền kinh tế có thể dẫn đến sự thiếu hụt thanh khoản dựa


18

trên sự hoảng loạn thông thường của người gửi tiền. Dựa vào các mô hình này, rủi ro
thanh khoản và rủi ro tín dụng là quan hệ đồng biến, hai loại rủi ro này cùng tạo ra sự
bất ổn của ngân hàng.
Mối quan hệ cùng chiều giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng cũng được
giải thích bởi các nghiên cứu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính (Acharya &
Viswanathan 2011; Diamond & Rajan 2005; Gorton & Metrick 2012; He & Xiong
2012a). Chẳng hạn như Diamond & Rajan (2001) và Diamond & Rajan (2005) giải
thích nếu ngân hàng cho vay quá nhiều dự án rủi ro thì ngân hàng không thể đáp ứng
nhu cầu rút tiền của khách hàng. Nếu các tài sản dùng để cho vay các dự án rủi ro này
càng giảm giá trị thì càng có nhiều người đi rút tiền. Kết quả là rủi ro tín dụng càng
cao thì dẫn tới rủi ro thanh khoản càng cao do nhu cầu rút tiền của người gửi tiền.
Một quan điểm khác về mối quan hệ cùng chiều giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín
dụng được nghiên cứu bởi (Gorton & Metrick 2012). Phân tích thực nghiệm của
nghiên cứu này minh chứng rằng việc rút tiền đột ngột tại một ngân hàng như thế nào
là dựa vào tâm lý hoảng loạn của nhà đầu tư, có thể xảy ra trong thời hiện đại – thời
ngân hàng được chứng khoán hóa, trái ngược với việc rút tiền đột ngột tại một ngân
hàng truyền thống. Bằng chứng của nghiên cứu này cho thấy trong các cuộc khủng
hoảng tài chính gần đây, việc nhận thức rủi ro tín dụng trong các hình thức cho vay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status